1 §¹i häc quèc gia Hµ Néi
khoa luËt
PHÍ MINH HẢI
XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật
Mã số : 60 38 01 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
4
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU . 7
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VIỆT
NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN 12
1.1. Khái quát chung về Nhà nƣớc pháp quyền 12
1.1.1. Quan niệm về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử và những giá trị hiện
đại 12
1.1.1.1. Trong thời kỳ cổ đại 12
1.1.1.2. Thời kỳ Trung cổ và bước chuyển tiếp thời kỳ cận đại 15
1.1.1.3. Sự hình thành học thuyết Nhà nước pháp quyền tư sản 16
1.1.2. Nhân tố Nhà nước pháp quyền trong lịch sử Nhà nước và pháp luật
Việt Nam 24
1.1.2.1. Nhân tố Nhà nước pháp quyền trong các triều đại phong kiến 24
1.1.2.2. Nhân tố Nhà nước pháp quyền từ cách mạng tháng 8 năm 1945 trên nền
tảng Tư tưởng Hồ Chí Minh 27
1.1.3. Khái niệm và những đặc điểm chung của Nhà nước pháp quyền 36
1.1.3.1. Khái niệm về Nhà nước pháp quyền 36
1.1.3.2. Những đặc điểm chung của Nhà nước pháp quyền 38
1.2. Những quan điểm cơ bản về xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân 40
1.2.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp
quyền 40
1.2.2. Những đặc điểm của Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa
phương 74
CHƢƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN NHÀ NƢỚC PHÁP
QUYỀN VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN 75
3.1. Yêu cầu phải xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân và vì dân 75
3.1.1. Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam nhằm duy trì và phát huy bản
chất tốt đẹp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, đổi mới hoạt động của hệ thống 6
chính trị, đấu tranh có hiệu quả chống quan liêu, lãng phí, tham nhũng, làm
trong sạch bộ máy Đảng và Nhà nước 75
3.1.2. Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa xuất phát
từ nhu cầu thúc đẩy mạnh mẽ cải cách kinh tế – xã hội, xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động và tích cực hội nhập
quốc tế 79
3.1.3. Tôn trọng và bảo đảm các quyền và tự do của con người, bảo vệ có hiệu
quả các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân 82
3.2. Những giải pháp cơ bản để xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân 86
3.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 87
3.2.2. Hoàn thiện Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tiến hành
đồng bộ với đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng và phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh 91
3.2.2.1.Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa 91
3.2.2.2. Đổi mới hoạt động của Quốc hội 93
3.2.2.3. Tiếp tục thực hiện cải cách nền hành chính Quốc gia 101
nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc
phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
Thực tiễn của hơn 20 năm đổi mới vừa qua đã khẳng định yêu cầu xây
dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng như một xu thế khách
quan, tất yếu, mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều
kiện phát triển nền dân chủ chân chính của nhân dân, xây dựng và phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập và hợp tác kinh tế quốc
tế.
Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
của dân, do dân, vì dân; đưa yêu cầu đó lên thành nguyên tắc Hiến định (Điều 2
Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001) thể hiện sự thừa nhận và sự
kết hợp tính phổ biến của một giá trị lịch sử nhân loại với những nét đặc trưng,
những giá trị độc đáo của Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. 8
Những năm qua trong tiến trình đổi mới toàn diện từ kinh tế, đến hệ thống
chính trị mà trọng tâm là cải cách bộ máy nhà nước, đổi mới hoạt động của
Quốc hội, cải cách hành chính, cải cách tư pháp chúng ta đã thu được nhiều kết
quả đáng mừng: Tăng trưởng về kinh tế; hệ thống chính trị đang được đổi mới
toàn diện; chất lượng, hiệu quả, hiệu lực hoạt động của bộ máy nhà nước từng
bước được cải thiện và nâng cao.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân, vì dân là một nhiệm vụ mới mẻ vô cùng khó khăn, phức tạp. Nhà nước
pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, vì dân, do dân phải có sự kết
hợp đúng đắn tính phổ biến và tính đặc thù của lý luận và thực tiễn về nhà nước
pháp quyền với sự phản ánh và quán triệt đầy đủ các yếu tố đó vào trong việc
thiết kế bộ máy nhà nước, vào trong các định hướng xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật ở nước ta.
Với mong muốn góp phần làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn
Luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Phân tích và đánh giá thực trạng về xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta hiện nay.
Đề xuất những quan điểm và giải pháp về xây dựng Nhà nước pháp quyền
Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân trong giai đoạn cách mạng
hiện nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của triết học Mác
– Lênin, các nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật
lịch sử, các tư tưởng về Nhà nước pháp quyền , các quan điểm của Đảng và Nhà
nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN. Luận văn sử dụng
các phương pháp chủ yếu như: phân tích, tổng hợp, so sánh để tìm hiểu thực
trạng, xác định những ưu điểm và hạn chế trong quá trình xây dựng Nhà nước
Việt Nam XHCN, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm xây
dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Thông qua việc nghiên cứu đề tài: "Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân" luận văn nhằm góp phần làm 10
sáng tỏ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước
ta trong giai đoạn hiện nay; đề xuất một số quan điểm, giải pháp cơ bản về xây
dựng hoàn chỉnh mô hình Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân và vì dân.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn
gồm có 3 chương được bố cục như sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nhà nước pháp quyền việt nam xã hội chủ
12
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN
1.1. Khái quát chung về Nhà nƣớc pháp quyền
1.1.1. Quan niệm về Nhà nƣớc pháp quyền trong lịch sử và những giá trị
hiện đại
1.1.1.1. Tƣ tƣởng về Nhà nƣớc pháp quyền trong thời kỳ cổ đại
Tư tưởng về Nhà nước, pháp luật và các hình thức tổ chức chính trị thực
tiễn ở phương Tây cổ đại gắn liền với quá trình tiến hóa của xã hội chiếm hữu
nô lệ và nền dân chủ Hy Lạp, La mã cổ đại qua các nền cộng hòa dân chủ A-
Ten và La mã. Thời kỳ này các tư tưởng về dân chủ và pháp luật hình thành dựa
trên cơ sở phương pháp tư duy triết học mang đặc trưng là khám phá, tìm tòi cái
duy lý theo nhiều hướng mới phong phú và được thể nghiệm trong không khí
dân chủ phát triển đến trình độ tương đối cao. Những tư tưởng trên được hình
thành qua nhiều giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất (Thế kỷ (TK) VIII - V Trước công
nguyên (tr.CN) gắn sự hình thành của các Nhà nước và pháp luật; giai đoạn thứ
hai (TK V- nửa đầu TK IV tr.CN) gắn liền sự phát triển cao của các nhà nước;
giai đoạn thứ ba (nửa sau TK IV -TK II tr.CN) gắn liền với sự suy vong của Nhà
nước thành bang Hy Lạp cổ đại.
Lịch sử La mã cổ đại là lịch sử hình thành và củng cố Nhà nước về chế
độ chính trị của nó. Bộ luật La mã xuất hiện là một bước tiến bộ đánh dấu sự ra
đời của một Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và tạo điều kiện cho người
dân tham gia vào đời sống chính trị của đất nước đối với La mã cổ đại những
mầm mống tư tưởng và tổ chức chính trị - Nhà nước- liên quan đến Nhà nước
pháp quyền đã được tích lũy trong điều kiện phát triển cao nhất và sự sụp đổ
sau đó của chế độ dân chủ chủ nô. Hai đại biểu của trí tuệ La mã về Nhà nước
pháp quyền là Polybe và Xixelon
Polybe (201 - 120 tr.CN) là người La Mã đầu tiên nêu lên những tư tưởng
quan trọng về Nhà nước pháp quyền. Theo ông: "Không phải lý trí mà kinh
nghiệm đã dạy chúng ta rằng hình thức chính phủ hoàn hảo nhất là hình thức
được tạo nên từ ba chỉnh thể: Quân chủ, Quý tộc và Cộng hòa. Trong đó cơ
quan chấp chính tối cao thuộc về vua, nguyên lão viện (nghị viện) thuộc về quý 14
tộc và cơ quan dân biểu (Hội đồng thuộc về nhân dân (chủ nô). Phân bố và giám
sát quyền lực hợp lý, chặt chẽ là hai yếu tố cơ bản bảo đảm một Nhà nước vững
mạnh và phát triển quốc gia La mã thành một đế quốc hùng mạnh.[32, tr. 246]
Xixeron (104- 43 TCN) thể hiện tư tưởng về sự thống trị của pháp luật
trong đời sống Nhà nước bằng cách đặt câu hỏi : "Nhà nước là gì nếu không
phải là trật tự chung", theo ông pháp luật là cội nguồn tạo ra chế độ Nhà nước.
Ông cho rằng: "Nhà nước là Nhà nước pháp quyền không phải do Nhà nước
tuân thủ pháp luật của mình mà là vì về cuội nguồn, về bản chất Nhà nước chính
là pháp luật, pháp luật tự nhiên của nhân dân". [45, tr. 11]
Các nhà tư tưởng trên phản ánh cuộc đấu tranh tư tưởng nhằm tìm ra hình
thức Nhà nước đáp ứng được yêu cầu phát triển xã hội, thoát khỏi vòng luẩn
quẩn của nền chính trị Hy Lạp, La Mã cổ đại là: Chế độ quân chủ bắt đầu từ
những ông vua có công khai quốc, sống vì nước vì dân, nhưng các thế hệ vua
sau đó lại đem đến đau khổ và bất hạnh cho người dân và sự lạc hậu cho đất
khái niệm nhân dân có mang tính lịch sử. Những người cầm quyền dù họ là ai,
cũng không có quyền mà chỉ được ủy quyền. Người cầm quyền phải biết dựa
vào dân. Phương thức cai trị có hiệu quả nhất đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế,
thống nhất và mở rộng quốc gia, ổn định xã hội là kết hợp Nhà nước với Pháp
luật. Quyền lực Nhà nước phải được phân biệt, kiểm soát và hạn chế. Quyền lực
của nhân dân là thường xuyên và không giới hạn, quyền lực của Nhà nước và
người cầm quyền là không thường xuyên và có giới hạn. Những ý tưởng thời cổ
đại có liên quan đến Nhà nước pháp quyền thực sự có giá trị về mặt lý luận và
thực tiễn đối với quá trình phát triển tiếp theo của lịch sử nhân loại.
1.1.1.2. Tƣ tƣởng về Nhà nƣớc pháp quyền thời trung cổ và bƣớc chuyển
tiếp đến thời cận đại.
Thời kỳ trung cổ đã kéo dài hàng ngàn năm dưới ách thống trị của các chế
độ chuyên chế vương quyền và thần quyền đầy bạo lực và cường tín tôn giáo.
Sự tồn tại nhiều năm của các Nhà nước phong kiến ở phương Đông và ở Phương
Tây đã không hoặc ít biết đến pháp quyền; là một trong những nguyên nhân của
tình trạng kém phát triển kéo dài. Tuy nhiên, thời kỳ này ở phương Tây đã có
không ít những quan điểm, tư tưởng tiến bộ của các nhà tư tưởng, các thần học
góp phần bảo tồn và làm phong phú thêm những ý tưởng về Nhà nước pháp 16
quyền thời cổ đại. Những quan điểm tư tưởng ấy phải ẩn dấu trong các lớp vỏ
bọc tôn giáo.
Jeam Morange viết: "Cũng như Saint Thomaf đã cơ đốc giáo hóa triết học
Aristote, thì Saint Angustin đã cơ đốc giáo hóa triết học Platôn mà ông đã tu
dưỡng nó qua Xixeron".
Saint Augustin (357 - 430) giáo chủ Bắc phi cho rằng, quyền lực Nhà
nước phải được thực hiện như một thứ quyền lực phục vụ công bằng. Những
người cầm quyền phải đặt quyền uy vào sự phục vụ nhân dân; lấy công bằng
làm gốc, từ thiện làm ngọn; phải điều độ, dám hy sinh vì người khác và biết giới
ông, Nhà nước phải có pháp luật phù hợp với pháp luật tự nhiên, phải có tính tối
cao, các quyền tự nhiên và tự do cá nhân được ghi nhận, còn bộ máy Nhà nước
được tổ chức theo bốn bộ phận quyền lực: Lập pháp, hành pháp, bang giao đối
ngoại, và đặc quyền của vua. Ông đối lập Nhà nước, trong đó có sự ngự trị của
pháp luật với mọi biểu hiện phi pháp, tùy tiện của những người nắm quyền.
Theo J.Locke nguyên tắc cho phép làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm
"chỉ đúng khi áp dụng đối với công dân, còn đối với những người cầm quyền
phải áp dụng nguyên tắc ngược lại "chỉ làm những gì mà pháp luật cho
phép".[32, tr 308-309]
Montesquieu (1689 - 1755) Nhà triết học khai sáng Pháp, tác giả của
"Tinh thần pháp luật" (1748), khi đưa ra tư tưởng "Tam quyền phân lập" đã
luận giải về sự phân chia quyền lực Nhà nước. Theo ông phân quyền là nhằm
tránh sự lạm quyền, để các bộ phận quyền lực kiềm chế lẫn nhau. Sự phân chia
và kiềm chế giữa các quyền (các quyền đối lập và cân bằng nhau) là điều kiện
tiên quyết để bảo đảm tự do chính trị trong Nhà nước (tự do làm những gì mà
pháp luật cho phép, tự do thể hiện trong luật pháp). Theo Montesquieu mô hình
tối ưu là mỗi Nhà nước đều có ba quyền: Lập pháp - Hành pháp - Tư pháp.
Quyền lập pháp giao cho nghị viện, quyền hành pháp giao cho chính phủ, quyền
tư pháp giao cho tòa án. Ông cho rằng: "Khi quyền lập pháp và quyền hành pháp
nhập lại trong tay một người hay một viện nguyên lão, thì sẽ không còn gì là tự
do nữa, vì rằng người ta sợ chính con người ấy hay một viện nguyên lão ấy chỉ
đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu
quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp. Nếu quyền
tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì người ta không độc đoán đối với quyền 18
sống, quyền tự do của công dân, quan tòa sẽ là người đặt ra luật. [30, tr. 100-
101] Quyền tư pháp nhập với quyền hành pháp thì quan tòa có thể hành xử như
một kẻ áp bức". Sơ đồ phân quyền này không chấp nhận việc một cơ quan Nhà
sinh ra đều có quyền bình đẳng và trong số những quyền không thể tước đoạt đó
có quyền được sống, quyền tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc [22, tr.13]
Bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ cũng đã thừa nhận quan điểm của
J. Lock về tính hợp pháp của chính phủ. Bản Tuyên ngôn viết: “ Chúng tôi tin
rằng con người do tạo hoá sinh ra và có những quyền không thể xâm phạm (. . . .
) . Để bảo vệ những quyền này, các chính phủ được thành lập trong số người
dân và quyền hạn của chính phủ xuất phát từ sự đồng thuận của những người
chịu sự kiểm soát của chính phủ”. Về sau, cả bản Tuyên ngôn về quyền con
người và quyền công dân của nước Pháp năm 1789 và Tuyên ngôn nhân quyền
của nước Mỹ năm 1791 đã trình bày một cách chính xác về quan niệm mà theo
đó các quyền con người của cá nhân phải được bảo vệ khỏi sự độc đoán của Nhà
nước theo những cơ chế thích hợp để ngăn Nhà nước lạm dụng quyền lực.
J. Rousseau (1712 - 1788) - Nhà triết học khai sáng Pháp đã kế thừa tư
tưởng của Montesquieu để xây dựng lý luận về thiết chế dân chủ và Nhà nước
pháp quyền. Trong Khế ước xã hội (1762 ) ông cho rằng, con người đến với xã
hội và Nhà nước không phải để mất đi quyền tự do vốn có của mình, mà để bảo
vệ và phát triển quyền tự do đó. Cần tìm ra hình thức liên kết giữa con người
với nhau để tạo ra sức mạnh chung và dùng sức mạnh đó để bảo vệ mọi thành
viên. "Khế ước xã hội" có thể hiểu là pháp luật và bộ máy Nhà nước do dân tạo
ra khi Nhà nước vi phạm "Khế ước xã hội" đã thỏa thuận thì nhân dân có quyền
thay thế bằng Nhà nước mới. Nhà nước là con người tập thể" thực hiện ý chí và
quyền lực chung. Công dân có trách nhiệm đối với Nhà nước như thế nào, thì
Nhà nước có trách nhiệm đối với công dân như vậy. [39, tr. 12-13, 17, 73]
I.Kantơ (1724 1804) - Nhà triết học học cổ điển Đức. Theo ông Nhà nước
là tập hợp của nhiều người cũng phục tùng các đạo luật pháp quyền " Công dân
của nền cộng hòa chân chính" chỉ có thể là "thực thể của tính độc lập công dân".
Con người tồn tại và sinh sống được là nhờ không phải sự tùy tiện của người
khác, mà nhờ chính các quyền và sức mạnh của bản thân. Hoạt động của mỗi
người đều hướng tới sự biểu hiện của tự do theo nghĩa tự do cho mình, cho
người khác và phù hợp với pháp luật chung. Mỗi người hành động tự do để cùng
là hướng tới tự do. Nhà nước pháp quyền là công cụ để xây dựng một xã hội lý
tưởng bảo đảm các nhu cầu cơ bản của công dân.
Có thể nói, triết học cổ điển Đức nói riêng và triết học phương Tây cận 21
đại nói chung đã đặt cho mình nhiệm vụ giải thích tính hợp lý và tiến bộ của
Nhà nước và pháp quyền tư sản. Triết học đó đã "coi Nhà nước là một kết cấu vĩ
đại, trong đó tự do pháp lý, đạo đức và chính trị phải được thực hiện, hơn nữa,
khi tuân theo luật lệ của Nhà nước, mỗi công dân chỉ tuân theo luật lệ tự nhiên
của lý trí của mình". Học thuyết về Nhà nước pháp quyền tư sản hình thành thể
hiện nguyện vọng tiến bộ của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống chế độ
phong kiến lạc hậu, vì một trật tự xã hội mới - xã hội tư bản. Đây là một trong
những nội dung quan trọng của các cuộc cách mạng được tiến hành trong Triết
học - cuộc cách mạng tư tưởng đi trước và chuẩn bị cho các cuộc cách mạng
chính trị- cách mạng tư sản trong hiện thực.
Sự phát triển của lý thuyết về Nhà nước pháp quyền tư sản thế kỷ XIX- XX:
Đầu thế kỷ XIX, học thuyết về Nhà nước pháp quyền tư sản lại được
nhiều nhà triết học Đức quan tâm nghiên cứu và bổ sung. Trong đó, R. F. Môn
(Robert Font Mohn) và K. T. Vancơ (Karl Teodor Valker) là người đầu tiên sử
dụng thuật ngữ Nhà nước pháp quyền (tiếng Đức là Rechtsstaat)- thuật ngữ đã
từng được lập luận trong triết học của I. Cantơ và Hêghen. Môn và Vancơ coi
tính tối cao của pháp luật là nguyên tắc hàng đầu của một Nhà nước pháp quyền.
Tính tối cao của pháp luật là thể hiện chủ quyền của nhân dân dưới hình thức
quyền lực của nghị viện. Tiêu chuẩn tiếp theo là sự bình đẳng của mọi công dân
trước pháp luật. Còn pháp luật chỉ thuần tuý là công cụ bảo vệ quyền tự do của
con người khỏi sự can thiệp từ bên ngoài. Theo Môn, trong ba cơ quan Nhà
nước thì cơ quan lập pháp ở vị trí cao nhất và không chịu sự kiểm soát từ phía
cơ quan tư pháp. Chỉ có cơ quan hành pháp mới chịu sự giám sát của cơ quan tư
pháp. Nhà nước pháp quyền trong tư tưởng của Môn là nhằm mục đích phát huy
cho rằng cần phải tạo ra cấu trúc Nhà nước tự kiềm chế và bị ràng buộc bởi pháp
luật. Nhưng do không phân biệt các đạo luật với các văn bản dưới luật, nên họ
đã đi đến chỗ thừa nhận một Nhà nước tuỳ tiện ban phát hay thu hồi những
quyền tự do và dân chủ cho con người.
Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II (1945) cho đến những thập kỷ gần
đây, vấn đề Nhà nước pháp quyền lại được nghiên cứu ở nhiều nước phương Tây.
Các công trình nghiên cứu về Nhà nước đã được tiến hành ở Anh từ những năm
1970. Ở Pháp từ những năm 1980 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về
Nhà nước pháp quyền. Có thể nêu các tác giả như Dominique Colas, Michel 23
Croizer, Blandine, Kriegel, v. v Năm 1984 Pháp có Uỷ ban hiện đại hoá Nhà
nước do Tổng thống F. Mitterand đề nghị. Claude Nicolet viết: "Nhà nước hiện
đại đối với chúng ta, những người ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi thế kỷ ánh sáng và
bởi Hêghen, là một cấu trúc nghiêm ngặt của công pháp (droit public) với tư cách
là sự thể hiện quyền lợi chung". Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là từ
những bài học cay đắng của lịch sử, khi các Nhà nước phát xít và quân phiệt ở
Đức, Italia và Nhật Bản từ bỏ những nguyên tắc sơ đẳng của Nhà nước pháp
quyền, coi "Nhà nước là tất cả" và "không thể chống lại" đã đưa nhân loại vào
cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử. Mặt khác, cấu trúc các Nhà nước tư
sản đương đại đang ngày càng xa rời các chuẩn mực của Nhà nước pháp quyền và
khó có thể giúp chủ nghĩa tư bản khắc phục thất bại của kinh tế tự do cạnh tranh
và các cuộc khủng hoảng về kinh tế - xã hội. Nhà nước tư sản ngày càng trở nên
lạc hậu, "giới hạn pháp quyền tư sản" ngày càng trở nên chật hẹp trước yêu cầu
phát triển của chính chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn "hậu tư bản". Việc nghiên cứu
về Nhà nước pháp quyền ở các nước tư bản hiện nay là nhằm cải cách và hiện đại
hoá Nhà nước hiện có theo "tinh thần kinh doanh”. Giai cấp tư sản muốn có một
Nhà nước mà ở đó người dân nhiều lắm cũng chỉ được "chèo", chứ không được
"lái". Điều đó chứng tỏ sự tái ngộ của triết học phương Tây đối với vấn đề Nhà
1.1.2.1. Nhân tố nhà nƣớc pháp quyền trong các triều đại phong kiến
Các tổ chức Nhà nước và các định chế pháp luật của các triều đại trước
đây đều xuất phát từ ý niệm cơ bản, Vua là người của Trời, nhận mệnh lệnh của
Trời để trị nước an dân - Vua tự coi mình là Thiên tử, tức là con trười. Người
nào lên ngôi Vua, được coi là thừa lệnh trời, đều xưng hiệu Hoàng đế.
Từ Đinh Bộ Lĩnh (968) xưng hiệu là Tiên hoàng đế đến Lê Đại Hành
(980) xưng hiệu là Lê Đại Hành Hoàng đế, Lý Công Uẩn (1010) xưng Thuận
Thiên Hoàng đế, Trần Cảnh - Vua đầu tiên của các triều đại vua Trần, xưng
danh Kiên Trung Hoàng đế, đến Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Nguyễn ánh đều xưng
hiệu Hoàng đế.[45, tr. 33]
Đặc điểm của các quyền hành Hoàng đế, xét trên sự phân tích của các
nhân tố Nhà nước Pháp quyền cho thấy nhà Vua có quyền hành hết sức rộng và
tuyệt đối nhưng vẫn có một cơ chế hạn chế vương quyền.
Nhà vua nắm trong tay cả quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp: Chỉ có
Vua mới có quyền đặt ra pháp luật, Vua ra các đạo dụ (Luật); Vua là người đứng 25
đầu nền hành chính, có quyền bổ nhiệm, điều động, thăng thưởng, bãi chức các
quan trong triều và quan chức địa phương; Vua là vị thẩm phán cao nhất, quyết
định tối hậu về các vụ án hình sự cũng như dân sự.
Ngoài những quyền lực đó, nhà Vua còn có những ưu quyền tuyệt đối,
xem dân như con cái, Vua có quyền sinh sát đối với hết thảy mọi người, gặp
Vua phải phục xuống bên vệ đường, ý của Vua là thánh ý, lệnh của Vua là thánh
chỉ, dấu ấn của Vua gọi là ngọc tỷ, nơi Vua ở là Cung cấm, y phục của vua mầu
vàng không ai được dùng màu đó.
Sự hạn chế vương quyền được đánh giá là những nhân tố Nhà nước pháp
quyền của các Triều đại phong kiến ở nước ta chỉ là một cách đánh giá tương
đối so với trình độ phát triển bộ máy Nhà nước của của giai đoạn lịch sử đó,
gồm các nhân tố như:
Các Vua nhà Nguyễn lập ra Hội đồng Đình thần như là một cơ quan hành
pháp tối cao, lập Đô sát viên để xem xét, buộc tội các quan đại thần, các hoàng
thân, các quan lại địa phương.
Cách tổ chức các cơ quan kể trên, mặc dù còn thô sơ, tài liệu lịch sử để lại
không nhiều nhưng trong bộ máy Nhà nước phong kiến Việt Nam đã hình thành
một cơ chế kiểm soát quyền lực, hạn chế quyền lực, cơ quan này có quyền giám
sát, hạn chế cơ quan kia, chức quan này có quyền giám sát, hạn chế chức quan
khác.
Thứ ba, các biện pháp kiểm soát hoạt động hành chính địa phương khá
phong phú, đặc biệt là các biện pháp kiểm soát của triều đình đối với các
làng, xã nhằm thực hiện phép nước.
Chế độ làng xã tự trị ở Việt Nam là một chế độ truyền thống, mỗi làng có
phong tục tập quán riêng, có cách thức điều hành công việc trong làng, xã riêng triều
đình rất khó can thiệp. Phép vua thua lệ làng là câu nói cửa miệng của nhân dân.
Phải tôn trọng chế độ tự trị đó, nhưng cũng phải thống nhất thi hành phép
nước, nhà Vua đã đặt ra nhiều định chế nhằm kiểm tra các hành vi hành chính
của các quan chức làng xã.
Cơ quan chấp hành xã do toàn dân trong xã bầu ra gồm lý trưởng, phó lý,
trương tuần phải được quan đầu tỉnh duyệt y mới hợp lệ. Duyệt y dưới hình thức
bổ nhiệm là một kiểm soát của triều đình.