Mô hình tổ chức thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 25

TR
ƯỜ
NG
KHOA LU

N V
Ă
N
M

t s

gi

i pháp thu hút v

n
đầ
u t

II. Lý luận về nguồn vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán
(FPI) 7
1. Khái niệm 7
2. Đặc điểm 8
3. Vai trò của nguồn vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán 10
3.1. Vai trò chung của nguồn vốn nước ngoài: 10
3.2.Vai trò riêng nguồn vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng
khoán 11
III. Kinh nghiệm thu hút và quản lý vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường
chứng khoán một số nước 12
1. Kinh nghiệm của Indonesia 13
2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc 15
3. Kinh nghiệm một số nước khác 15
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI QUA THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 17
I. Tổng quan tình hình nền kinh tế Việt Nam 17
1.Tình hình kinh tế vĩ mô 17
1.1. Các thành tựu 17
1.2.Một số tồn tại 19
2.Tình hình cải cách cơ cấu nền kinh tế 21
2.1. Tình hình cải cách doanh nghiệp nhà nước- cổ phần hoá 21
2.2. Cải cách hệ thống ngân hàng, tài chính 24
II. Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam 24
1. Sự ra đời của Thị trường chứng khoán Việt Nam 24
2. Mô hình tổ chức thị trường chứng khoán Việt Nam 25
3. Hoạt động giao dịch chứng khoán: 30
3.1. Từ 7/2000 đến 7/2001 30
3.2.Từ 7/2001 đến 3/2002 32
3.3. Từ tháng 3/2002 đến nay 34
4. Đánh giá hoạt động của TTCK Việt Nam 35

2.2. Thị trường chứng khoán còn nhỏ bé về quy mô 62
2.3. Thiếu thông tin 62
2.4. Chính sách của Việt Nam chưa nhất quán và chưa thông thoáng 63
2.5. Chi phí đầu tư cao 63
III. Một số giải pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài qua TTCK Việt Nam 64
1. Mục tiêu và nguyên tắc 64
2. Một số giải pháp 65
2.1. Cải thiện môi trường thu hút vốn đầu tư nước ngoài 65
2.2. Phát triển thị trường về quy mô, tăng số công ty niêm yết 66
2.3. Cải thiện việc cung cấp thông tin và quyền tiếp cận thông tin 67
2.4. . Mở rộng lĩnh vực cho phép đầu tư nước ngoài 68
2.5. Thực hiện công bằng trong việc mua lại cổ phần 68
2.6. Tăng lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán 69
2.7. Thực hiện ưu đãi về thuế 69
2.8. Cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường cạnh tranh để giảm chi
phí giao dịch cho người nước ngoài 70
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT ADB NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN CHÂU Á
DNNN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
FDI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
FPI ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI- ĐẦU TƯ DANH MỤC
CHỨNG KHOÁN
GDP TỔNG SẢN PHẨM QUỐC NỘI
IMF QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ
NHTM NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
ODA HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC

NGOÀI ĐỂ ĐẨY NHANH TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ
NƯỚC TA. CHÍNH VÌ LÝ DO ĐÓ MÀ EM CHỌN ĐỀ TÀI: " MỘT SỐ GIẢI PHÁP
THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI QUA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT
NAM".
DO KIẾN THỨC TÍCH LUỸ ĐƯỢC CÒN HẠN CHẾ, KHOÁ LUẬN KHÔNG
TRÁNH KHỎI NHIỀU SAI SÓT, RẤT MONG SẼ NHẬN ĐƯỢC Ý KIẾN VÀ ĐÁNH
GIÁ CỦA CÁC THẦY CÔ.
EM CŨNG XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN CÔ GIÁO – TIẾN SĨ NGUYỄN
HOÀNG ÁNH ĐÃ NHIỆT TÌNH GIÚP ĐỠ EM TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN
KHOÁ LUẬN NÀY.
8 8
NỘI DUNG CỦA KHOÁ LUẬN GỒM BA CHƯƠNG:
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI QUA THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI QUA THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI QUA
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.
9 9
CHƯƠNG I:
LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI QUA THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN
I.LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN NƯỚC NGOÀI
1.Khái niệm về vốn nước ngoài
Trong lịch sử giao lưu kinh tế giữa các vùng kinh tế khác nhau đã diễn ra nhiều hình
thức trao đổi và di chuyển các nguồn lực. Ban đầu hình thức tương đối đơn giản - đơn giản
cả về đối tượng và hình thức di chuyển. Trong thời kỳ nô lệ, hình thức di chuyển sức lao
động của nông lô là điển hình. Do nhu cầu về sức lao động rất lớn ở các vùng có nền nông
nghiệp phát triển nên nô tì được mua về từ các vùng khác nhau để làm việc tại các vùng
này.

là nguồn lực bên ngoài hay nguồn vốn nước ngoài. Như vậy, chúng ta có thể hiểu nguồn
lực bên ngoài hay nguồn vốn nước ngoài là tất cả những nguồn lực nằm bên ngoài
phạm vi địa lý của một quốc gia được huy động vào quốc gia đó.
Do có sự phát triển của sản xuất, nguồn vốn nước ngoài cũng phong phú dần lên. Ban
đầu, do nền sản xuất chủ yếu là chăn nuôi và trồng chọt do vậy chỉ xuất hiện nhu cầu về
sức lao động, hơn nữa, do có sự thiếu hụt và dư thừa sức lao động ở các vùng khác nhau
nên nguồn vốn nước ngoài được di chuyển chỉ đơn thuần là sức lao động.
Khi nền sản xuất phát triển hơn, nhu cầu không chỉ dừng lại ở sức lao động mà còn
có thêm nhu cầu về nguyên nhiên liệu, mặt khác, do sự phân bố tài nguyên ở các vùng khác
nhau là khác nhau dẫn đến sự thiếu hụt và dư thừa nguyên nhiên vật liệu sản xuất, do vậy
nguồn vốn nước ngoài lúc này bao gồm sức lao động và nguyên, nhiên vật liệu.
Khi chủ nghĩa tư bản phát triển, kèm theo nó là sự phát triển rất nhanh của khoa học
kĩ thuật làm cho nền sản xuất phát triển đạt đến trình độ cao hơn. Khoa học kĩ thuật được
áp dụng nhiều hơn vào sản xuất. Nhiều công nghệ sản xuất, quản lý mới ra đời và nó trở
thành yếu tố không thể thiếu trong sản xuất kinh doanh. Lúc này, nguồn lực bên ngoài
không chỉ gồm sức lao động và nguyên nhiên vật liệu mà còn có thêm cả yếu tố kĩ thuật,
công nghệ, nguồn lực tài chính phục vụ cho sản xuất kinh doanh.
Sản xuất càng phát triển, nguồn vốn nước ngoài di chuyển giữa các nước, các khu
vực khác nhau ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Hầu hết các yếu tố phục vụ cho sản
xuất đều có thể trở thành yếu tố được di chuyển trên thế giới. Và nó trở thành nguồn vốn
nước ngoài cho quốc gia tiếp nhận nó.
Như vậy, nguồn vốn nước ngoài không chỉ bao gồm các yếu tố hữu hình như vốn,
máy móc thiết bị, nguyên nhiên liệu, mà còn bao gồm cả yếu tố vô hình như công
nghệ; kĩ thuật; bí quyết; danh tiếng, tác phong kinh doanh .
11 11
Nguồn vốn nước ngoài tồn tại ở rất nhiều dạng khác nhau. Do vậy, để có những phân
tích sâu hơn về đặc điểm và vai trò của nó chúng ta sẽ phân chia nguồn vốn nước ngoài ra
thành từng loại khác nhau.
2.Phân loại vốn nước ngoài
2.1 Phân loại dựa trên hình thức tồn tại của từng loại vốn

financial resources to developing countries) và chia thành hai loại:
- Các khoản viện trợ, giúp đỡ : bao gồm các khoản viện trợ song phương, các khoản
viện trợ đa phương (bao gồm cả các tổ chức tình nguyện tư nhân) và các khoản hỗ trợ phát
triển chính thức khác
- Dòng vốn đầu tư tư nhân: bao gồm đầu tư trực tiếp, đầu tư chứng khoán, tín dụng
xuất khẩu tư nhân, vay ngân hàng.
Căn cứ theo cách phân chia của các nhà kinh tế Việt Nam và để phục vụ cho mục
đích nghiên cứu, trong phạm vi khoá luận này xin phân chia nguồn vốn nước ngoài thành
các loại chính sau :
- Vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI)
Vốn nước ngoài dưới dạng đầu tư trực tiếp là tất cả các nguồn lực được đầu tư vào một
quốc gia và chịu sự chi phối và quản lý trực tiếp từ các chủ đầu tư nước ngoài. Đây là loại
vốn nước ngoài được đầu tư trực tiếp từ bên ngoài vào nước nhận vốn. Nó thường tồn tại
dưới dạng đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia vào nước tiếp nhận. Các nguồn
vốn nước ngoài được sử dụng trực tiếp tại nước tiếp nhận dưới sự quản lý của chủ đầu tư.
Đây là bộ phận quan trọng trong các luồng vốn vào, nó có tính chất dài hạn, không rằng
buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nước tiếp nhận, thường đi kèm với
chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý, … - Tín dụng thương mại:
Đây là hình thức bên nước ngoài cho vay vốn và thu lợi nhuận qua lãi suất tiền vay,
bên nước ngoài chủ yếu các ngân hàng nước ngoài nên nguồn vốn này còn được gọi là vốn
vay ngân hàng. Ngoài ra còn có một phần nhỏ khác là tín dụng xuất khẩu tư nhân (bên
nước ngoài khi xuất khẩu cho chịu tiền hàng một thời gian). Đối với loại vốn này, bên
nước ngoài không tham gia vào hoạt động của bên đi vay và bên vay vốn có toàn quyền sử
dụng khoản vốn này, bên chủ đầu tư nước ngoài chỉ thu lợi nhuận qua lãi suất ngân hàng cố
định theo khế ước vay độc lập với kết quả kinh doanh.
- Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
Là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và khoản tài trợ có hoàn lại (cho vay dài
hạn với một số số thời gian ân hạn và lãi suất thấp) của chính phủ, các hệ thống của tổ chức
13 13
Liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế (như Ngân hàng thế

14 14
II. LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI QUA THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN (FPI)
1. Khái niệm
Như đã nói ở trên, đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán là một trong những
nguồn vốn nước ngoài chính và nó ngày càng trở nên quan trọng, chiếm tỷ lệ lớn trong cơ
cấu vốn nước ngoài.
Thị trường chứng khoán đã ra đời từ rất sớm, bản thân nó là một kênh huy động vốn
trực tiếp trong nền kinh tế quốc dân. Đó là nơi mà các nhà đầu tư tìm kiếm, thay đổi cơ hội
và lĩnh vực đầu tư của mình. Nếu khung pháp lý cho hoạt động này chỉ bó hẹp đối với các
nhà đầu tư trong nước thì thị trường chứng khoán chỉ đơn thuần là một kênh huy động vốn
trong nước. Nhưng nếu khung pháp lý mở rộng ra cho các nhà đầu tư nước ngoài thì đây lại
là một kênh huy động vốn nước ngoài cho nền kinh tế. Trên thực tế, do những ưu điểm nổi
bật của thị trường chứng khoán, do xu hướng tự do hoá tài chính, hầu hết các quốc gia có
thị trường chứng khoán đều cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được phép tham gia vào
thị trường chứng khoán. Những nước này, ở một chừng mực nào đó, đã thành công trong
việc thu hút vốn nước ngoài qua thị trường chứng khoán.
Đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán là việc nhà đầu tư nước ngoài (có
thể là cá nhân hoặc tổ chức) bỏ tiền ra mua chứng khoán của một tổ chức hay của nhà
nước được phát hành trên thị trường chứng khoán nhằm kiếm lời từ thu nhập cổ tức
hay trái tức hoặc từ chênh lệch giá do kinh doanh chứng khoán đem lại.
2. Đặc điểm
Đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán hay đầu tư danh mục chứng
khoán (FPI) là một bộ phận cấu thành của tổng luồng vốn chu chuyển chu chuyển vào và ra
một quốc gia. Xét về mặt bản chất, đầu tư danh mục chứng khoán FPI rất gần với đầu tư
trực tiếp FDI, vì nó đều là những khoản đầu tư trực tiếp vào doanh nghiệp và trực tiếp
hưởng lợi từ kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Điều khác nhau lớn nhất giữa FDI và
FPI chính là ở chỗ nhà đầu tư nước ngoài có hay không tham gia quản lý doanh nghiệp.
Chính vì vậy mà tại nhiều nước FDI và FPI được điều chỉnh chung trong một bộ luật và
thường lấy một tỷ lệ nhất định về nắm giữa của bên nước ngoài để phân định giữa FDI và

việc mua trái phiếu, nên các nhà đầu tư luôn đặt yêu cầu lãi suất lên hàng đầu. Do vậy,
công ty hoặc chính phủ khi phát hành trái phiếu luôn phải định ra mức lãi suất đủ cao để
thu hút nhà đầu tư nước ngoài, thậm chí lãi suất loại này còn cao hơn cả lãi suất trung bình
trên thế giới bởi vì lãi suất loại này còn tính đến cả yếu tố rủi ro lạm phát và một số rủi ro
khác.
- Không kèm theo bất kỳ một điều kiện gì hay một sự rằng buộc nào từ phía bên
cung cấp vốn.
16 16
Đây là một ưu điểm nổi bật so với vốn ODA của loại vốn này, nó rất có lợi cho bên tiếp
nhận vốn vì sẽ không phải chịu các điều kiện bất lợi khác từ phía bên cung cấp.
- Không bị hạn chế về mục đích sử dụng và chịu sự giám sát trong việc sử dụng vốn.
Đây là một ưu điểm nữa so với nguồn vốn ODA, vì nền kinh tế không phải chịu sự chi
phối về mục đích sử dụng của nhà đầu tư. Chính vì vậy mà nền kinh tế có thể tận dụng tối
đa tác dụng của vốn, sử dụng phục vụ cho đúng mục đích phát triển của mình.
- Phát sinh nợ cho bên tiếp nhận.
Thực chất đây là một khoản vốn vay dài hạn của bên phát hành trái phiếu với nhà đầu
tư, trái phiếu luôn có một khoảng thời gian nợ xác định trước và việc trả nợ được đảm bảo
bằng cam kết của chính phủ và các doanh nghiệp.
b) Đặc điểm về vốn đầu tư nước ngoài huy động thông qua việc phát hành
cổ phiếu của doanh nghiệp.
Tuỳ thuộc vào khung pháp lý của nước huy động qui định về tính chất của cổ phiếu mà
nguồn vốn nước ngoài huy động từ cổ phiếu có khác nhau. Nhưng chủ yếu là có các đặc
điểm sau:
- Thời hạn sử dụng dài và phụ thuộc vào (tại Việt Nam) doanh nghiệp nhận vốn .
- Lãi suất rất cao, nó tương đương với mức lợi nhuận được chia mà các doanh nghiệp
trong nước tạo ra.
Đặc điểm của cổ phiếu là: các nhà đầu tư sở hữu hợp pháp cổ phiếu đó sẽ được hưởng một
khoản lãi suất tính trên cơ sở kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Mặt khác, kết quả
kinh doanh thường cao hơn rất nhiều so với lãi suất tiền gửi thông thường. Do vậy lãi suất
của cổ phiếu thường cao hơn lãi suất thông thường.

lực từ bên ngoài trong giai đoạn này là thực sự cần thiết.
Trong tình trạng nền kinh tế kém phát triển, chủ yếu dựa vào nông nghiệp và công
nghiệp chế biến thô sơ, tích luỹ từ bản thân nền kinh tế còn quá thấp. Hơn nữa, cũng từ
việc sản xuất kém phát triển dẫn đến thu nhập của người dân thấp từ đó làm cho tiết kiệm
trong dân rất ít. Tích luỹ (mức độ tái đầu tư trích từ lợi nhuận) của nền kinh tế thấp, tiết
kiệm trong dân thấp dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu về vốn cho đổi mới. Vì vậy
nguồn vốn nước ngoài có vai trò bổ sung nguồn vốn đầu tư, tăng tốc độ tái đầu tư, cần thiết
cho một tiến trình tăng tốc nhanh.
3.2.Vai trò riêng nguồn vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng
khoán
18 18
Vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán có những đặc điểm riêng do vậy
nó cũng có những vai trò riêng đối với sự phát triển kinh tế của nước tiếp nhận.
- Vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán có vai trò cung cấp, bổ sung
nguồn vốn trung và dài hạn cho cho các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp mở rộng qui
mô sản xuất. Trong bối cảnh việc huy động nguồn vốn trung và dài hạn trong nước còn
nhiều khó khăn, nhất là ở Việt Nam phải sử dụng cả các khoản tiền gửi ngắn hạn tại các
ngân hàng để tài trợ, thì việc thu hút sử dụng vốn nước ngoài qua thị trường chứng khoán
là cần thiết.
- Vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán chủ yếu là dưới dạng tiền tệ,
do vậy nó cũng giúp chính phủ bù đắp phần nào cán cân thanh toán, từ đó giảm bớt áp lực
về cầu ngoại tệ. Các nước đang phát triển đều ra sức thực hiện công nghiệp hoá- hiện đại
hoá nền kinh tế, cần phải nhập khẩu nhiều máy móc thiết bị, công nghệ… và các yếu tố sản
xuất khác từ bên ngoài, do vậy rất cần ngoại tệ để có thể nhập khẩu. Các nước này thường
xảy ra tình trạng thiếu ngoại tệ, ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh toán. Thu hút vốn nước
ngoài qua thị trường chứng khoán cũng là một biện pháp để điều chỉnh sự thiếu hụt của cán
cân thanh toán.
- Vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán còn có vai trò tăng khả năng
thanh toán và hiệu suất của thị trường vốn nội địa. Và một thị trường vốn với khả năng
thanh toán và hiệu suất cao sẽ cho phép các nguồn lực được sử dụng một cách có hiệu quả

NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN VÀ NHÀ ĐẦU TƯ CÓ TỔ CHỨC) VÀO THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN CỦA MỘT NƯỚC LÀ ĐIỀU ĐƯƠNG NHIÊN VÀ HIỆN NAY TRÊN
THẾ GIỚI THẬM CHÍ ĐANG CÓ XU HƯỚNG NHẤT THỂ HOÁ THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN CỦA NHIỀU QUỐC GIA TRONG KHU VỰC.
MÔ HÌNH PHÂN TÍCH NGUỒN FPI HIỆN ĐANG ĐƯỢC CÁC NHÀ KINH TẾ
VÀ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CỦA CÁC NƯỚC SỬ DỤNG LÀ MÔ HÌNH ĐẦU
TƯ- HAY MÔ HÌNH “KÉO”. CÁC NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI LUÔN ĐÁNH GIÁ
CÁC CƠ HỘI ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC CŨNG NHƯ NGOÀI NƯỚC, VÀ KHI HỌ
THẤY RẰNG CƠ HỘI CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN TẠO RA LỢI TỨC
CAO HƠN THÌ HỌ SẼ QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ. YẾU TỐ THU HÚT CÁC NHÀ ĐẦU
TƯ LÀ CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN CỦA THỊ TRƯỜNG NƯỚC TIẾP NHẬN, HAY TRIỂN
VỌNG TĂNG TRƯỞNG CAO LÀ TIỀN ĐỀ VÀ DẪN TỚI ĐẦU TƯ VỐN. MUỐN THU
HÚT VÀ GIỮ LẠI VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THÌ PHẢI TIẾN HÀNH CẢI CÁCH
NỀN KINH TẾ NHẰM CẢI THIỆN CƠ CẤU, TĂNG KHẢ NĂNG TĂNG TRƯỞNG
CAO, GIẢM CÁC RỦI RO TRONG MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ. MỘT SỐ BIỆN PHÁP
ĐỂ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TRÊN NHƯ : TỰ DO HOÁ THỊ TRƯỜNG, CẢI TỔ HỆ
THỐNG NGÂN HÀNG, TÀI CHÍNH, THUẾ, QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP, KHUYẾN
KHÍCH ĐẦU TƯ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ, TƯ NHÂN HOÁ.
20 20
TRONG SUỐT MẤY THẬP KỶ TRƯỚC KHI DIỄN RA CUỘC KHỦNG
HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ, CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á NHỜ NHỮNG CHÍNH
SÁCH MỞ CỬA, DUY TRÌ ĐƯỢC MỨC TĂNG TRƯỞNG CAO, ĐÃ TẠO RA ĐƯỢC
CÁC YẾU TỐ “KÉO” ĐẦY HẤP DẪN, THU HÚT ĐƯỢC MỘT KHỐI LƯỢNG VỐN
KHỔNG LỒ, GÓP PHẦN KHÔNG NHỎ VÀO SỰ PHÁT TRIỂN NHANH CHÓNG
CỦA CÁC NƯỚC NÀY.
TUY NHIÊN, FPI LÀ NGUỒN VỐN CÓ ĐỘ NHẠY CẢM CAO, TRONG GIAI
ĐOẠN ĐẦU, ĐỂ ĐẢM BẢO TÍNH ỔN ĐỊNH VÀ BỀN VỮNG CỦA THỊ TRƯỜNG,
TRÁNH ĐƯỢC NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC TỪ BÊN NGOÀI, HẦU HẾT CÁC
NƯỚC ĐỀU CÓ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VÀ HẠN CHẾ SỰ THAM GIA CỦA NƯỚC
NGOÀI VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN. SAU ĐÓ KHI THỊ TRƯỜNG PHÁT

năm 1990 chủ yếu là nhờ sự điều chỉnh các văn bản pháp quy thị trường vốn. Sau năm
1992 dòng vốn gián tiếp vào Indonesia không ngừng tăng lên đạt mức tối đa vào cuối năm
1996 trước khi đi xuống vào năm 1997. Năm 1997, sau những biến động lớn trên Sở giao
dịch chứng khoán Jakarta, dòng vốn đầu tư gián tiếp đã suy giảm hết sức nhanh chóng do
các nhà đầu tư nước ngoài đã bán tống bán tháo các tài sản của mình.
Có thể rút ra kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ 1997 của Indonesia,
cuộc khủng hoảng có một nguyên nhân quan trọng là do không quản lý được nguồn vốn
đầu tư gián tiếp FPI. Việc phân bổ nguồn vốn này kém hiệu quả do sự yếu kém của hệ
thống giám sát các công ty niêm yết, quản trị công ty kém, các thông tin sai lệch ảnh
hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán
Indonesia. Chính phủ Indonesia lại không duy trì được cơ cấu hợp lý các nguồn vốn, tỷ
trọng nguồn vốn vay ngắn hạn và nguồn vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán FPI chiếm
tỷ lệ cao trong tổng nguồn vốn vào, đây là hai dòng vốn có nguy cơ rủi ro cao nhất nên khi
khủng hoảng xảy ra đã dẫn đến tình trạng dào thoát nhanh chóng của các nguồn vốn này.
Trong điều kiện nền kinh tế Indonesia đã mở cửa tương đối thông thoáng và ngày càng phụ
thuộc vào bên ngoài, nguồn vốn nước ngoài chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn đầu
tư, tác động của cuộc khủng hoảng lại càng trầm trọng hơn.
2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy, trong thời gian đầu chỉ cho phép người đầu tư
nước ngoài đầu tư gián tiếp thông qua các quỹ đầu tư, quỹ tín thác, sau đó mới cho phép
đầu tư trực tiếp nhưng dưới một mức trần nhất định. Mức trần này có thể được nâng lên,
hoặc bãi bỏ trừ đối với một số ngành kinh tế quan trọng như bưu chính viễn thông, điện
lực, hàng không
Các quy định về quản lý đầu tư nước ngoài ở Hàn Quốc được thay đổi gắn liền với
tiến trình phát triển của thị trường và thông qua những quyết sách của Chính phủ đối với
nền kinh tế qua các giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau:
- 1981: Chính phủ cho phép đầu tư nước ngoài thông qua các quỹ.
22 22
- 1985: Chính phủ cho phép phát hành trái phiếu chuyển đổi ra nước ngoài;
- 1990: Chính phủ cho phép phát hành chứng chỉ lưu ký ra nước ngoài;

Người nước ngoài có thể sở hữu 49% vốn của một Công ty, ngành ngân hàng, tài chính là
25%. Một phần nào đó vì lý do này mà khi cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu á nổ ra, các nhà
đầu tư gián tiếp ồ ạt rút vốn khỏi thị trường làm thị trường chứng khoán Thái Lan sụp đổ,
càng làm cho tốc độ khủng hoảng nền kinh tế tăng cao.

Như vậy, việc quản lý và hạn chế sự tham gia của nước ngoài vào thị trường chứng
khoán trong giai đoạn đầu, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển là hết sức cần thiết
nhằm tránh khả năng thao túng và gây rối loạn thị trường trong khi kinh nghiệm quản lý,
cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu, mặc dù nó sẽ làm giảm mức hấp dẫn của thị trường đối
với các nhà đầu tư nước ngoài.
24 24
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI QUA THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
I. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
1.Tình hình kinh tế vĩ mô
1.1. Các thành tựu
1.1.1.Lạm phát kiềm chế dưới một con số
Trong suốt một thập kỷ trước khi cuộc khủng hoảng Chấu Á xảy ra, Việt Nam đã đạt
được những thành tựu đáng kể trong tiến trình phát triển kinh tế. Tỷ lệ tăng trưởng GDP
bình quân một năm trong giai đoạn 1989-1996 là 8,2%. Lạm phát giảm từ mức độ 3 con số
trong những năm 80 xuống còn 1 con số trong gần hết các năm thập kỷ 90.
Bi

u
đồ
1: Tình hình kinh t
ế
v
ĩ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status