Lời mở đầu
Trong công cuộc đổi mới và phát triển của đất nớc, các ngành, các
lĩnh vực hoạt động đều có đóng góp nhất định và luôn tự cải tiến để vơn tới
sự hoàn thiện.
Bảo hiểm là ngành dịch vụ, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân. Bảo hiểm không chỉ thực hiện huy động vốn cho nền kinh tế mà
nó còn ảnh hởng rất lớn đến đời sống của ngời lao động. Bảo hiểm góp
phần đảm bảo ổn định tài chính cho các cá nhân, gia đình, cho mọi tổ chức
doanh nghiệp để khôi phục đời sống và hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ngày nay Bảo hiểm không còn xa lạ mà len lỏi đến mọi làng quê, mọi cơ
quan, mọi doanh nghiệp và mọi hoạt động trong đời sống kinh tế xã hội.
Kinh tế càng phát triển, đời sống càng cao thì nhu cầu Bảo hiểm càng lớn.
ti : ảnh hởng của Bảo hiểm xã hội đến đời sống của ngời lao
động
I. Khái quát chung về Bảo hiểm xã hội
1. Khái niệm
Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu
nhập đối với ngời lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc
mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một
quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho ngời lao động và gia đình
họ góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
2. Các chế độ Bảo hiểm xã hội.
Theo điều 2 của điều lệ Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bảo hiểm xã hội
nớc ta hiện nay bao gồm 5 chế độ: Chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp
thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chế dộ hu trí và
chế độ tử tuất. So với trớc đây, chế độ trợ cấp mất sức lao động đã bị loại
bỏ. Nội dung của 5 chế độ nêu trên đợc quy định thống nhất trong chơng II
của điều lệ. Mỗi chế độ Bảo hiểm xã hội khi xây dựng đều căn cứ vào một
loạt những cơ sở nh: học sinh; kinh tế - xã hội; điều kiện và môi trờng lao
động xã hội
- Chế độ trợ cấp ốm đau: Chế độ này đã giúp cho ngời lao động có đ-
thời gian công tác; bóc tách đợc phần lớn các chế độ u đãi xã hội ra khỏi
chế độ hu trí vì thế đảm bảo đợc sự công bằng, bình đẳng giữa đóng và h-
ởng Bảo hiểm xã hội; giữa các nhóm lao động khác nhau. Tuy vậy, chế độ
này vẫn còn nhiều điểm nổi cộm cần khắc phục nh: tuổi đời về hu giữa các
ngành, các nhóm lao động; những ngời hởng trợ cấp một lần đa vào chế độ
là cha hợp lý, vì những ngời này vừa cha đủ tuổi, vừa không đủ tích luỹ cần
thiết để hởng trợ cấp. Đây chỉ là sự trả lại một phần số tiền cho ngời lao
động khi họ không còn quan hệ lao động nữa, do quỹ Bảo hiểm xã hội đảm
nhận.
- Chế độ tử tuất: Một trong những chế độ Bảo hiểm xã hội mang tính
nhân đạo nhất đó là chế độ tử tuất. Chế độ này đã giúp cho thân nhân ngời
chết có đợc khoản trợ cấp bù đắp một phần thiếu hụt thu nhập của gia đình
do ngời lao động bị chết: khi xây dựng chế độ này, đã tính đến yếu tố đóng
góp của ngời tham gia Bảo hiểm xã hội và yếu tố xã hội giữa ngời sống và
ngời chết. Đặc biệt là có tính đến yếu tố kế thừa đối với thân nhân của ngời
chết. Song, việc quy định đối tợng đợc hởng bao gồm cả bố mẹ bên vợ, bên
chồng là cha hợp lý. Vì bố mẹ bên vợ, bên chồng còn có thân nhân của cả
hai bên chịu trách nhiệm. Điều này cần phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể để
thống nhất quy định
II. Những ảnh hởng của Bảo hiểm xã hội.
1. Đối với ngời lao động
a. Về mặt tích cực:
Bảo hiểm xã hội ảnh hởng rất lớn đối với ngời lao động. Con ngời
luôn tồn tại và phát triển trớc hết phải ăn mặc, ở và đi lại Để thoả mãn
những nhu cầu tối thiểu đó, ngời ta phải lao động để làm ra những sản phẩm
cần thiết. Khi sản phẩm đợc tạo ra càng nhiều thì đời sống con ngời ngày
càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn. Nh vậy, việc
thoả mãn những nhu cầu của con ngời phụ thuộc vào chính khả năng lao
động của họ. Nhng trong thực tế, không phải lúc nào con ngời cũng gặp
thuận lợi, có đầy đủ thu nhapạ và mọi điều kiện sinh sống bình thờng. Trái
ngoài quá trình lao động.
- Phần thu nhập của ngời lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải
những biến cố, rủi ro sẽ đợc bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ
tập trung đợc tồn tích lại. Nguồn quỹ này do bên tham gia Bảo hiểm xã hội
đóng góp là chủ yếu ngoài ra còn đợc sự hỗ trợ từ Nhà nớc.
- Mục tiêu của Bảo hiểm xã hội là nhằm thoả mãn những nhu cầu cần
thiết yếu của ngời lao động trong trờng hợp bị giảm hẳn mất thu nhập, mất
việc làm. Mục tiêu này đã đợc tổ chức lao động quốc tế (LLO) cụ thể hoá
nh sau:
+ Đền bù cho ngời lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm
bảo nhu cầu sinh sống thiếu yếu của họ.
+ Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân c và các nhu
cầu đặc biệt của ngời già, ngời tàn tật và trẻ em.
Với mục tiêu trên, Bảo hiểm xã hội đã trở thành một trong những
quyền con ngời và đợc Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận và ghi vào
tuyên ngôn Nhân quyền ngày 10/12/1948 rằng: "Tất cả mọi ngời với t cách
là thành viên của xã hội có quyền đợc hởng Bảo hiểm xã hội, quyền đó về
kinh tế, xã hội và văn hoá nhu cầu cho các cá nhân với sự tự do phát triển
con ngời".
b. Về mặt tiêu cực.
Bảo hiểm xã hội đợc dùng để trợ cấp các đối tợng tham gia Bảo hiểm
xã hội, nhằm ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình họ, khi đối tợng
tham gia Bảo hiểm xã hội gặp rủi ro, thực chất là trợ cấp cho 8 chế độ mà tổ
chức này đã nêu lên trong công ớc 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ:
1. Chăm sóc y tế
2. Trợ cấp ốm đau
3. Trợ cấp thất nghiệp
4. Trợ cấp tuổi già
5. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
lao động là không đáng kể, nhng quyền lợi đợc nhận là rất lớn khi họ gặp
rủi ro. Đối với ngời sử dụng lao động việc tham gia đóng góp vào quỹ Bảo
hiểm xã hội là đợc Bảo hiểm cho ngời lao động mà mình sử dụng. Xét dới
góc độ kinh tế, họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để
trang trải cho những ngời lao động bị mất hoặc giảm khả năng lao động.
Với Nhà nớc Bảo hiểm xã hội góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách
đồng thời quỹ Bảo hiểm xã hội còn là nguồn đầu t đáng kể cho nền kinh tế
quốc dân.
Bảo hiểm xã hội là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì
vậy tính xã hội của nó thể hiện rất rõ. Xét về lâu dài, mọi ngời lao động
trong xã hội đều có quyền tham gia Bảo hiểm xã hội. Và ngợc lại Bảo hiểm
xã hội phải có trách nhiệm bảo hiểm cho ngời lao động và gia đình họ kể cả
khi họ đang còn trong độ tuổi lao động. Tính xã hội của Bảo hiểm xã hội
luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó. Khi nền kinh tế - xã hội ngày càng
phát triển thì tính dịch vụ và tính chất xã hội hoá của Bảo hiểm xã hội cũng
ngày càng cao.
Bảo hiểm xã hội không những ảnh hởng rất lớn đến đời sống ngời lao
động, nó giúp cho ngời lao động và gia đình họ giải quyết đợc những khó
khăn về đời sống, nó đã bảo vệ chính đáng những quyền lợi của ngời lao
động, Bảo hiểm xã hội còn góp phàn làm cho sản xuất ổn định, kinh tế
chính trị và xã hội đợc phát triển an toàn hơn. Bảo hiểm xã hội góp phần
kích thích ngời lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao
động cá nhân và năng suất xã hội làm cho xã hội ngày càng phát triển và
văn minh hơn. Bảo hiểm xã hội còn giúp xã hội phân phối lại những ngời
khoẻ mạnh đang làm việc với những ngời ốm yếu phải nghỉ việc thực hiện
chức năng này có nghĩa là Bảo hiểm xã hội góp phần thực hiện công bằng
xã hội.
Chính vì vậy Bảo hiểm xã hội có ảnh hởng rất lớn đối với xã hội.
b. Mặt tiêu cực
Các chế độ Bảo hiểm xã hội cha đợc các cơ quan giám sát một cách
2. Các chế độ Bảo hiểm xã hội 2
II. Những ảnh hởng của Bảo hiểm xã hội
4
1. Đối với ngời lao động 4
a. Mặt tích cực 4
b. Mặt tiêu cực 6
2. Đối với xã hội 7
a. Mặt tích cực 7
b. Mặt tiêu cực 8
Kết luận
9