BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG TRẦN THỊ HIỀN PHÂN LẬP VÀ NUÔI SINH KHỐI MỘT SỐ LOÀI
VI TẢO TỪ BIỂN NHA TRANG SỬ DỤNG CHO
ĐỘNG VẬT THÂN MỀM HAI MẢNH VỎ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
TS LỤC MINH DIỆP
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA SAU ĐẠI HỌC Khánh Hoà - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do chính bản thân tôi thực hiện, các
số liệu trong luận văn là hoàn toàn chính xác, trung thực và chưa từng có ai công bố.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những kết quả đã nêu trong luận văn này.
Tác giả Trần Thị Hiền ii
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN 3
1.1. Tình hình nghiên cứu vi tảo ngoài nước 3
1.1.1. Phân loại vi tảo 3
1.1.2. Sinh trưởng của tảo 5
1.1.3. Giá trị dinh dưỡng của vi tảo trong nuôi trồng thuỷ sản 8
1.1.4. Sử dụng vi tảo trong nuôi trồng thủy sản 11
1.1.4.1. Sử dụng vi tảo trong nuôi động vật thân mềm 13
1.1.4.2. Sử dụng vi tảo trong nuôi tôm 15
1.1.4.3. Sử dụng vi tảo trong nuôi cá biển 16
1.1.5. Tình hình nghiên cứu về phân lập, lưu giữ và sản xuất vi tảo 16
1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng vi tảo trong nước 20
CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 24
2.1.1. Thời gian nghiên cứu 24
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu 24
2.1.3. Đối tượng nghiên cứu 24
2.2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 24
2.3. Phương pháp nghiên cứu 25
4.1. Kết luận 56
4.2. Đề xuất ý kiến 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AA Axít arachidonic (20:4n-6)
Ctv Cộng tác viên
DGR Tốc độ sinh trưởng hằng ngày (Daily Growth Rate)
DHA Axít decosahexaenoic (22:6n-3)
ĐVTM Động vật thân mềm
EPA Axít eicosapentaenoic (20:5n-3)
HUFA (Highly unsaturated fatty acids) Axít béo có mức chưa no cao
KLK Khối lượng khô
MĐCĐ Mật độ cực đại
MĐTB Mật độ tế bào
NTTS Nuôi trồng thủy sản
PUFAs (Polyunsaturated fatty acids) Axít béo không bão hoà đa nối đôi
SGR Tốc độ sing trưởng đặc trưng (Specific Growth Rate)
Tb/mL Tế bào/ mL
vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Các pha sinh trưởng của một quần thể vi tảo [27] 5
Hình 2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 24
Hình 2.2. Sơ đồ khối phân lập vi tảo 25
Hình 2.1. Sơ đồ pha loãng tảo ở các nồng độ khác nhau 27
Hình 2.4. Sơ đố bố trí thí nghiệm xác định thời gian lưu giữ thích hợp 28
Hình 2.5. Quy trình nhân sinh khối tảo 29
Hình 2.6. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định điều kiện nuôi cấy phù hợp 30
Hình 2.7. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định thức ăn phù hợp cho ấu trùng hàu Thái
Bình Dương 31
Hình 3.1. Hình thái tế bào Isochrysis galbana chụp trên kính hiển vi độ phóng đại 400x 36
Hình 3.2. Hình thái tế bào Thalassiosira sp. chụp trên kính hiển vi độ phóng đại 400x
37
Hình 3.3. Lưu giữ giống trên môi trường lỏng 37
Hình 3.4. Đường cong sinh trưởng quần thể tảo Isochrysis galbana sau khi lưu giữ với
các thời gian khác nhau 38
Hình 3.5. Đường cong sinh trưởng quần thể tảo Thalassiosira sp. sau khi lưu giữ ở các
thời gian khác nhau 39
Hình 3.6. Sự phát triển của tảo Isochrysis galbana ở các mật độ ban đầu khác nhau .41
Hình 3.7. Đường cong sinh trưởng của tảo Isochrysis sp. khi nuôi bằng môi trường f/2
với hoá chất tinh khiết và công nghiệp 44
Hình 3.8. Sự phát triển của tảo Isochrysis galbana nuôi ngoài trời 46
Hình 3.9. Sự phát triển của tảo Thalassiosira sp. ở các mật độ ban đầu khác nhau 48
Hình 3.10. Đường cong sinh trưởng của tảo Thalassiosira sp. khi nuôi bằng môi
trường f/2 với hoá chất tinh khiết và công nghiệp 51
Hình 3.11. Sự phát triển của tảo Thalassiosira sp. khi nuôi ngoài trời 52
ĐVTM hai mảnh vỏ đã được phát triển nuôi theo hướng hàng hóa tập trung như:
nghêu, sò, tu hài, hàu, ngọc trai…. Vì con giống tự nhiên không đủ cung cấp nên nhiều
trại giống mọc lên ở khắp nơi. Tuy nhiên, việc sản xuất giống gặp không ít khó khăn
nhất là về khâu giải quyết thức ăn cho ấu trùng. Mặc dù kiến thức cũng như quy trình
gây vi tảo đã được trang bị cho người dân nhưng đảm bảo cung cấp đủ về số lượng
cũng như chất lượng vi tảo cho ấu trùng vẫn còn là khó khăn. Nguyên nhân được xác
định là các loài tảo nhập nội khó đáp ứng được điều kiện nuôi cấy vi mô sản xuất ở
nước ta.
2
Ở Việt Nam đa số các loài tảo hiện nay có nguồn gốc nhập ngoại nên chưa có
phương pháp lưu giữ giống thuần cũng như quy trình công nghệ nuôi trồng chúng
chưa thích hợp với điều kiện khí hậu. Do đó hiệu quả của các loài tảo nhập ngoại đem
lại chưa cao, sinh khối đạt được thấp, bị tạp nhiễm nhiều, nguồn giống sơ cấp không
chủ động được, đặc biệt là các chủng giống phân lập được từ nước biển địa phương rất
ít nên tính chống chịu với điều kiện như: nhiệt độ, độ mặn cao là rất thấp. Vì vậy việc
phân lập vi tảo hiện có mặt ở các vùng biển Việt Nam là hết sức cần thiết bởi khả năng
phát triển tốt dưới điều kiện môi trường địa phương. Sự thuận lợi khác của phân lập
tảo từ nước biển là có thể chủ động cung cấp tảo cho các trại sản xuất giống, không
phụ thuộc vào nhà cung cấp tảo. Đặc biệt phân lập một số vi tảo có giá trị dinh dưỡng
sử dụng cho ĐVTM hai mảnh vỏ tại địa phương là hết sức quan trọng để tối ưu hóa
sản xuất giống thương mại. Với mong muốn phân lập và nuôi sinh khối một số loài tảo
mới từ nước biển tự nhiên để cung cấp cho ĐVTM hai mảnh vỏ, ứng dụng cho nuôi
trồng thủy sản (NTTS) và được sự đồng ý của Viện Nuôi trồng Thuỷ sản, Trường Đại
học Nha Trang; Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản III, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Phân lập và nuôi sinh khối một số loài vi tảo từ biển Nha Trang sử
dụng cho động vật thân mềm hai mảnh vỏ”.
Mục tiêu
phân chia tế bào chia tảo thành ngành tảo Lam (nhân sơ), tảo có nhân chuẩn, không có
sự liên hệ lưới nội chất (CER) như: tảo Lục, tảo Đỏ, tảo Glaucophyta, Dinophyta,
nhóm tảo nhân thực có CER như: tảo Mắt, Crytophyta, Heterokontophyta, Haptophyta.
Graham Lee (2000) dựa vào trình tự gen 18S chia thành 9 ngành. Có nhiều hệ thống
phân loại tảo rất khác nhau. Hệ thống các ngành Tảo (bao gồm cả Vi khuẩn lam-
Cyanophyta) và các lớp, bộ chủ yếu theo Peter Pancik được chỉ ra ở bảng 1.1 [7].
Trong đó, vi tảo chủ yếu thuộc về các chi trong các ngành sau đây:
Ngành Tảo lục (Chlorophyta): Các chi Closterium, Coelastrum,
Dyctyosphaerium, Scenedesmus, Pediastrum, Staurastrum, Dunaliella, Chlamydomonas,
Haematococcus, Tetraselmis, Chlorella,
Ngành Tảo lông roi lệch (Heterokontophyta): Các chi Melosira, Asterionella,
Cymatopleurra, Somphonema, Fragilaria, Stephanodiscus, Navicula, Malomonas,
Dinobryon, Peridinium, Isochrysis, Chaetoceros, Phaeodactylum, Skeletonema,
Nitzschia
Ngành Tảo mắt (Euglenophyta): Các chi Phacus, Trachelomonas, Ceratium
Ngành Tảo đỏ (Rhodophyta): Các chi Porphyridium, Rhodella 4
Bảng 1. 1. Phân loại các nhóm ngành tảo [8]
Ngành Lớp Bộ
Chroococcales Cyanophyta (ngành vi khuẩn
lam)
Cyanophyceae
Oscillatoriales
Prochlorophyta (ngành tảo
tiền lục)
Raphidophyceae
Haptophyta (ngành tảo lông
roi bám)
Haptophyceae
Eustigmatophyta (ngành tảo
hạt)
Eustigmtophyceae Eustigmatales
Cryptophyta (ngành tảo 2
lông roi)
Cryptophyceae
Dinophyta (ngành tảo hai
rãnh)
Dinophyceae
Euglenophyta (tảo mắt) Euglenophyceae
Prasinophyceae
Volvocales
Tetrasporales
Chlorococcales
Ulotrichales
Bryopsidales
Chlorophyceae (lớp tảo lục)
Siphonocladales
Zygnematales
Mesotaeniales
Conjugatophyceae
(lớp tảo tiếp hợp)
Desmidiales
Chlorophyta
(ngành tảo lục) - Pha ban đầu: Số lượng tế bào tăng dần đều. Ở pha này tảo bắt đầu làm quen
với môi trường nuôi và bắt đầu hấp thụ chất dinh dưỡng, tiến hành phân cắt tế bào
nhưng tốc độ tăng trưởng của quần thể chậm.
- Pha logarit (pha gia tốc dương): Số lượng tế bào tăng theo cấp số nhân, hình
biểu diễn số lượng tế bảo gần như là đường thẳng. Tảo ở giai đoạn này hấp thụ chất
dinh dưỡng mạnh.
- Pha gia tốc âm: Môi trường dinh dưỡng có chiều hướng giảm mạnh cùng với
mật độ tảo cao làm tốc độ sinh sản giảm, tuy vậy số lượng tế bào vẫn còn tăng.
- Pha cân bằng: Mật độ tảo ở pha này đạt cực đại và số lượng ổn định.
- Pha tàn lụi: Tảo sau khi đạt mật độ cực đại, khả năng sinh sản mất dần và số
lượng tảo giảm một cách rõ rệt.
Theo O’Meley và Daintith (1993) [42], sự sinh trưởng của tảo nuôi chỉ có 4
pha: pha tăng trưởng chậm (lag phase), pha hàm mũ (exponential phase), pha cân bằng
(stationary phase) và pha chết (death phase). Bằng việc đo mật độ tế bào theo thể tích,
ví dụ: tế bào/mL ở các khoảng thời gian đều đặn, có thể xây dựng một đường cong
sinh trưởng và các giai đoạn sinh trưởng có thể nhận ra từ đường cong sinh trưởng đó.
Theo Lee và Shen (2004) [38], trong nuôi thu hoạch toàn bộ, tảo trải qua ba pha khác
nhau gồm pha tăng trưởng chậm, pha hàm mũ và pha tăng trưởng tuyến tính. Các pha
phản ánh sự thay đổi về sinh khối và môi trường nuôi của nó. Trong tăng trưởng tuyến
tính, một khi mật độ tế bào đạt đến cực đại, sinh khối sẽ tích lũy ở một tốc độ không
đổi, cho đến khi một số chất trong môi trường nuôi hoặc hóa chất ức chế trở thành yếu
tố hạn chế.
Ở các pha khác nhau, tốc độ sinh trưởng của tảo khác nhau. Tuy nhiên, sự sinh
trưởng của tảo còn tùy thuộc vào từng loài và bị chi phối rất mạnh bởi các yếu tố môi
trường. Các thông số quan trọng nhất điều hòa sự sinh trưởng của tảo bao gồm các chất
dinh dưỡng, nguồn cung cấp năng lượng (ánh sáng cho quang hợp hay các hợp chất hữu
cơ trong trường hợp dị dưỡng), nhiệt độ, độ mặn, pH, mức xáo trộn. Mỗi loài tảo đều có
bào bị phá vỡ và nguyên nhân có thể do không duy trì độ pH thích hợp. Điều này có thể
khắc phục được bằng cách sục khí môi trường nuôi. Trong trường hợp nuôi với mật độ
cao việc bổ sung CO
2
có thể làm giảm độ pH, mà trong quá trình tảo phát triển, pH có
thể tăng tới giá trị giới hạn là 9.
- Sục khí (đảo nước): Sục khí là việc làm cần thiết để ngăn ngừa tảo không bị
lắng nhằm đảm bảo sao cho tất cả các quần thể đều được tiếp xúc với ánh sáng và các
chất dinh dưỡng như nhau và để cải thiện sự trao đổi khí giữa môi trường nuôi với
không khí. Không khí là yếu tố hàng đầu vì nó chứa nguồn cacbon ở dạng CO
2
phục
vụ cho quang hợp. Việc bổ sung CO
2
có thể làm đệm nước chống lại những thay đổi về
độ pH do sự cân bằng giữa CO
2
và HCO
3
. Tuy nhiên cần lưu ý không phải các loài tảo
đều chịu được việc khuấy đảo mạnh.
- Nhiệt độ: Nhiệt độ có thể ảnh hưởng đến cấu trúc tế bào, tốc độ phản ứng trao
đổi chất, sinh trưởng, quá trình quang hợp, mật độ phân bố, cường độ hô hấp, kích
8
thước tế bào và sự thích nghi của loài. Phần lớn các loài vi tảo sinh trưởng tốt ở nhiệt
độ 17 - 22
0
-2
s
-1
) lượng cacbohydrate
nhiều hơn 2 - 3 lần nuôi dưới điều kiện 12: 12 (sáng: tối) (100 µE m
-2
s
-1
) [25].
Protein
Hàm lượng của các acid amin tương tự giống nhau giữa các loài tảo và đặc biệt
rất giàu các acid amin thiết yếu. Aspartate và glutamate có nồng độ cao nhất (7,1 -
12,9%), cystine, methionine, tryptophan và histidine có nồng độ thấp nhất (0,4 - 3,2%)
và các amino axit khác từ 3,2% đến 13,5% [25].
9
Bown và ctv (1989) đã thống kê thành phần sinh hóa của các loài tảo thường
được sử dụng trong NTTS. Kết quả cho thấy hàm lượng protein của lớp
Prymnesilophyceae (I. galbana, Isochrysis sp. và P. lutheri ) dao động từ 41 - 49%,
lớp Bacillariophyceae dao động từ 29 - 37%, trong đó Thalassiosira pseudonana
chiếm 29% [26].
Nhu cầu về giá trị dinh dưỡng của protein tùy thuộc vào từng đối tượng nuôi
cũng như các giai đoạn phát triển. Ở giai đoạn ấu trùng và con non thì nhu cầu protein
cao hơn ở giai đoạn trưởng thành. Ấu trùng động vật thân mềm (ĐVTM) hai mảnh vỏ
yêu cầu 30 - 60 % protein trong chế độ tảo cho sinh trưởng của chúng. Theo Webb và
Chu (1983) cho rằng tảo có hàm lượng protein cao thì có giá trị dinh dưỡng tốt. Tuy
nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy mối quan hệ đó là không chặt chẽ. Ví dụ, I. galbana
và P. lutheri có hàm lượng protein thấp nhưng lại là thức ăn tốt cho động vật thân
Cryptophyceae tương đối giàu DHA (0,2 - 11 %), trong khi đó lớp Eustigmatophyceae
(Nannochloropsis spp.) và tảo silic lại có nhiều AA (0 - 4 %), lớp Prasinophyceae
chứa khoảng 4 - 10 % DHA hoặc EPA, ngược lại Chlorophyceae (như Dunaliella spp.
và Chlorella spp.) thiếu cả hai DHA và EPA, vì vậy chúng được xem là có giá trị dinh
dưỡng thấp [24]. Mỗi một loài tảo đều có thể thiếu ít nhất một thành phần dinh dưỡng
cần thiết, ví dụ I. galbana có nhiều DHA ít EPA, ngược lại tảo silic có nhiều EPA và ít
DHA. Vi tảo có hàm lượng PUFAs (EPA, DHA) dao động từ 1 - 20 mg/mL tế bào
được xem là thích hợp cho sự sinh trưởng của động vật thân mềm, nếu hàm lượng này
thấp hơn 0,5 mg/mL tế bào thì được coi là thức ăn nghèo dinh dưỡng. Còn đối với giáp
xác nhu cầu này đều rất cần thiết và tùy thuộc vào từng loài. Ở tôm he Nhật Bản
(Penaeus japonicus), thức ăn chứa khoảng 1% EPA và DHA là phù hợp cho sinh
trưởng và có vai trò quan trọng trong quá trình biến đổi sinh lý của cơ quan sinh sản và
tổng hợp các hormone sinh sản. Trong khi nhu cầu này ở cá biển từ 1 - 2% trọng lượng
khô thức ăn. Vì vậy, việc chọn lựa và sử dụng hỗn hợp các loài vi tảo làm thức ăn cho
đối tượng thủy sản sẽ cung cấp đầy đủ các thành phần dinh dưỡng cần thiết cho sự
phát triển và đem lại hiệu quả cao hơn [24].
Vitamin
Vi tảo là nguồn cung cấp vitamin quan trọng cho các đối tượng nuôi thuỷ sản.
Những loại vitamin chính gồm: thiamin (vitamin B1), riboflavin (vitamin B2),
pyridoxine (vitamin B6), cyanocobalamin (vitamin B12), biotin, acid ascorbic (vitamin
C), vitamin A, D, E, K [26]. Theo thống kê của Brown (2002), hàm lượng vitamin C
trong vi tảo có sự khác nhau rất lớn giữa các loài (16 mg/g trọng lượng khô ở tảo C.
muelleri; 1,1 mg/g ở tảo T. pseudonana). Còn lại các vitamin khác (thiamin, riboflavin,
pyridoxine, cyanocobalamin, biotin,…) chỉ khác nhau từ 2 - 4 lần giữa các loài tảo. Điều
này chứng tỏ rằng, việc lựa chọn một cách cẩn thận các loại vi tảo kết hợp với nhau sẽ
cung cấp đầy đủ vitamin cho chuỗi thức ăn của động vật nuôi thủy sản.
Hàm lượng vitamin của tảo khác nhau ở các pha sinh trưởng khác nhau. Ở pha
logarit, hàm lượng của Thalassiosira pseudonana là 20 µg/g, Isochrysis sp. là 40 µg/g.
11
12
Bảng 1. 2. Lớp và giống tảo nuôi dùng làm thức ăn cho các đối tượng thủy sản [27].
Lớp Giống Đối tượng cho ăn
Bacilariophyceae Skeletonema PL, BL, BP
Thalassiosira PL, BL, BP
Phaeodactylum PL, BL, BP, ML, BS
Chaetoceros PL, BL, BP, BS
Cyclindrotheca PL
Bellerochea BP
Actinocysclus BP
Nitzchia BS
Cyclotella BS
Haptophyceae Isochrysis PL, BL, BP, ML, BS
Pseudoisochrysis BL, BP, ML
Dicrateria BP
Cricospaera BP
Coccolithus BP
Chrysophyceae Monochrysis BL, BP, BS, MR
Prasinophycease Tetraselmis PL, BL, BP, AL, BS
Pyramimonas BL, BP
Cyptophyceae Chroomonas BP
Cryptomonas BP
tiếp thức ăn vì vậy sự phát triển của động vật thân mềm liên quan chặt chẽ tới số
lượng và chất lượng của vi tảo.
Allen và Nelson, 1910 có thể xem là người đầu tiên sử dụng tảo làm thức ăn
cho động vật thủy sản [43]. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để xác định loài tảo
nào cung cấp tốt nhất cho sự phát triển và tỷ lệ sống tối ưu của động vật thân mềm.
Trong một báo cáo của cuộc điều tra quốc tế giữa các nhà điều hành trại giống năm
1991 đã liệt kê 8 loài tảo (Chaetoceros calcitrans, C. gracilis, Skeletonema costatum,
Thalassiosira pseudonana, I. galbana, Isochrysis sp., P. lutheri và T. suecica) được
sử dụng rộng rãi và đại diện cho trên 90% khối lượng tảo nuôi được sản xuất ở 23 trại
giống [41].
Việc lựa chọn vi tảo là nguồn thức ăn tiềm năng cho ĐVTM hai mảnh vỏ
trong một trại sản xuất giống phải đảm bảo kích cỡ phù hợp, khả năng tiêu hóa tốt
(liên quan đến độ dày thành tế bào), giá trị dinh dưỡng và khả năng sản xuất sinh
khối lớn [41].
Trong tự nhiên, hàu Crassostrea virginica có kích cỡ trên 300 µm có thể lọc
được thức ăn trong phạm vi kích cỡ rộng từ 0,2 tới 30 µm [22]. Tuy nhiên, khoảng
55% ấu trùng sò (Placopecten magellanicus), vẹm (Mytilus edulis), ngao (Mya
arenaria) chứa tế bào thức ăn có kích cỡ 5 - 15 µm trong dạ dày của chúng và chỉ có
3% ấu trùng chứa thức ăn có kích cỡ 15 - 25 µm [28]. Khi cho ăn thức ăn tự nhiên có
kích cỡ từ 1 - 10 µm, ấu trùng hàu Crassostrea virginica ưa thích các hạt thức ăn có
kích cỡ từ 2 - 4 µm. Khi cho ấu trùng nhỏ (kích thước 109 µm) ăn 4 loài tảo nuôi có
kích cỡ từ 1 - 11 µm, quan sát thấy chúng ưa thích thức ăn có kích cỡ 1 µm, trong khi
ấu trùng lớn (kích thước 290 µm) ưa thích thức ăn có kích cỡ 11 µm. Điều này nói
lên mối quan hệ giữa kích cỡ tảo với kích thước ấu trùng [41]. Sinh trưởng của ấu
trùng veliger hai mảnh vỏ đạt cao nhất khi ăn tảo có kích cỡ từ 4,7 tới 6,3 µm [46].
Một số tác giả cho rằng, ở một số loài tảo thành tế bào dày đã hạn chế khả
năng tiêu hóa của ấu trùng từ đó làm cho tỷ lệ sinh trưởng của ấu trùng thấp như
trường hợp của tảo Chlorella autotrophica [21], Nannochloris atomus và
Stichococcus bacillaris [45], khi quan sát trên kính hiển vi cho thấy các loài tảo này
14
Một số loài tảo mặc dù có giá trị tốt làm thức ăn nhưng lại không được sử
dụng ở các trại giống bởi vì khó sản xuất ở quy mô lớn ví dụ C. calcitrans forma
pumilum hiếm khi nuôi tới thể tích 20 lít, hay T. suecica bám dính lên thành bể nuôi
gây hôi thối.
Nhu cầu sử dụng vi tảo làm thức ăn cho động vật thân mềm thay đổi tùy theo
giai đoạn sinh trưởng. Giai đoạn ấu trùng đòi hỏi nguồn tảo phải đầy đủ chất lượng
cũng như phải sạch khuẩn. Giai đoạn hậu ấu trùng có thể đòi hỏi chất lượng tảo thấp
15
hơn nhưng phải có thành phần sinh hóa đáp ứng được nhu cầu của đối tượng nuôi.
Giai đoạn bố mẹ đòi hỏi đủ về số lượng cũng như chất lượng. Do đó một cơ sở nuôi
động vật thân mềm luôn đòi hỏi nhu cầu cao về sản xuất sinh khối tảo [28].
Có nhiều loài tảo sống ở biển, chỉ có một số có thể nuôi và chỉ có một số loài
được sử dụng cho hàu, ngao, luân trùng, tôm… một số loài được sử dụng thường xuyên
làm thức ăn được liệt kê trong Bảng 1.3 chúng bao gồm 2 nhóm: nhóm tảo lông roi có
thể bơi bằng 1 hay nhiều lông bơi và nhóm tảo silic có vỏ cấu thành bởi silicat [36].
Bảng 1. 3. Các loài tảo được sử dụng làm thức ăn cho hàu và ngao [36]
Tảo Đường kính tế bào ( µm)
Tảo silic
Skeletonema costatum 6
Chaetoceros gracilis 2,5
Chaetoceros calcitrans 6
Phaeodactylum tricornutum 5
Thalassiosira pseudonana 5,5
Tảo lông roi
Chlamydomonas coccoides 7
khối làm thức ăn thường có kích thước từ 2 - 20 µm và cho động vật phù du tốt nhất từ
2 - 12 µm [16].
Ngoài yêu cầu về vi tảo để nuôi hoặc làm giàu các sinh vật mồi sống như
Artemia và luân trùng, tảo thường được sử dụng trực tiếp trong các bể để nuôi ấu
trùng cá biển. “Kỹ thuật nuôi nước xanh” là một phần của các kỹ thuật được áp dụng
phổ biến để nuôi ấu trùng cá tráp đầu vàng Sparus aurata (50.000 tế bào/mL tảo
Isochrysis sp. + 400.000 tế bào/mL tảo Chlorella sp. mỗi ngày), cá măng Chanos
chanos (từ 500 đến 3.500 tế bào/mL tảo Chlorella sp. được bổ sung từ lúc nở đến ngày
thứ 21). Cá nục heo Coryphaena hippurus (200.000 tế bào/mL tảo Chaetoceros
gracilis , Tetraselmis chuii hoặc Chlorella sp., cá sơn lưỡi bò Hippoglossus
hippoglossus (tảo Tetraselmis sp.) và cá bơn sao Scophthalmus maxinus (60.000 tế
bào/mL tảo Tetraselmis sp. hoặc 130.000 tế bào/mL tảo I. galbana [14].
1.1.5. Tình hình nghiên cứu về phân lập, lưu giữ và sản xuất vi tảo
Theo Preisig và Andersen (2005) [43], môi trường nuôi, phương pháp nuôi của
vi tảo được nghiên cứu từ những năm 1800 - 1900.
Ferdinand Cohn (1850) đã thành công trong việc lưu giữ tảo lục đơn bào có
roi Hematocaccus ( Chlorophyceae) nhưng ông đã không phân lập được loài tảo này.
Famintzin (1871) là người đầu tiên nuôi tảo bằng việc sử dụng dung dịch một số
muối vô cơ để nuôi một số loài tảo xanh, đặc biệt là 2 loài Chlorococcum infusionum
và Protococcus viridis.