Lời nói đầu
rong chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm
2000, Đảng ta cũng đã chỉ rõ Chính sách tài chính quốc gia h-
ớng vào việc tạo ra vốn và sử dụng vốn có hiệu quả trong toàn xã
hội, tăng nhanh sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân...
(1)
. Tạo vốn và
sử dụng vốn có hiệu quả là những vấn đề đang đợc Chính phủ, Ngân hàng
và các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm.
T
Đại hội Đảng toàn lần thứ VI đánh dấu một bớc ngoặt đổi mới
chính sách và cơ chế kinh tế nói chung, thị trờng và sản xuất kinh doanh
nói riêng. Các DNNN đợc quyền tự chủ hơn trong hoạt động sản xuất
kinh doanh, nhng cùng với nó, doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh
tranh gay gắt trên thị trờng. Trong cuộc cạnh tranh này DNNN có những
vị thế bất lợi đó là thiếu vốn, bộ máy chậm thích ứng với sự biến đổi của
thị trờng, lắm tầng nấc trung gian, và nhiều sự ràng buộc lẫn nhau, phần
lớn đội ngũ cán bộ rất thụ động.
DNNN là một bộ phận quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, có
ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc
và trong quá trình hội nhập. Tuy nhiên hiện nay các DNNN đang phải đối
đầu với nhiều vấn đề nan giải, trong đó vốn và hiệu quả sử dụng vốn luôn
là bài toán hóc búa với hầu hết các DNNN.
Vậy huy động vốn ở đâu? làm thế nào để huy động vốn? và đồng vốn
đợc đa vào sử dụng nh thế nào?. Đó là câu hỏi không chỉ các DNNN quan
tâm, mà là vấn đề bức thiết với hầu hết các doanh nghiệp hoạt động trong
nền kinh tế thị trờng. Do đó đi tìm lời giải về vốn và nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn cho khu vực DNNN là một vấn đề mang tính thời sự và thiết
thực.
Qua nghiên cứu và đợc sự hớng dẫn nhiệt tình của thầy giáo, em quyết
định chọn đề tài Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
- Vốn điều lệ : là số vốn do các thành viên đóng góp và đợc ghi vào điều
lệ cuả công ty.Tuỳ theo từng loại doanh nghiệp, theo ngành, nghề, vốn điều lệ
không đợc thấp hơn vốn pháp định.
2
2.2.Theo giác độ vật chất, vốn kinh doanh của DNTM gồm có:
Vốn thực: bao gồm công cụ lao động, đối tợng lao động .
Vốn tài chính: nh tiền giấy, tiền kim loại, chứng khoán và các giấy tờ
khác có giá trị nh tiền.
2.3.Theo giác độ hình thành vốn, vốn của DNTM gồm có :
Vốn đầu t ban đầu: là số vốn phải có khi hình thành doanh nghiệp, tức là
số vốn cần thiết để đăng ký kinh doanh, hoặc vốn đóng góp của Công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp t nhân, hoặc vốn của Nhà nớc
giao.
-Vốn bổ sung: là số vốn tăng thêm do bổ sung từ lợi nhuận, do Nhà nớc
bổ sung bằng phân phối hoặc phân phối lại nguồn vốn, do sự đóng góp của các
thành viên, do bán trái phiếu.
-Vốn liên doanh: là vốn đóng góp do các bên cùng cam kết liên doanh với
nhau để hoạt động thơng mại hoặc dịch vụ.
-Vốn đi vay: trong hoạt động kinh doanh ngoài số vốn tự có và coi nh tự
có doanh nghiệp còn sử dụng một khoản vốn đi vay khá lớn của Ngân hàng.
Ngoài ra còn có khoản vốn chiếm dụnglẫn nhau của các đơn vị nguồn hàng,
khách hàng và bạn hàng.
2.4.Theo giác độ chu chuyển vốn:
Trong hoạt động kinh doanh, vốn kinh doanh vận động khác nhau. Xét
trên giác độ luân chuyển của vốn ngời ta chia toàn bộ vốn của DNTM gồm: vốn
lu động và vốn cố định.
-Vốn lu động: là biểu hiện bằng tiền của tài sản lu động và vốn lu thông.
Vốn lu động dùng trong kinh doanh thơng mại tham gia hoàn toàn vào quá trình
kinh doanh và giá trị có thể trở lại hình thái ban đầu (tiền) sau mỗi vòng chu
chuyển của hàng hoá.
hàng hoá.
Giai đoạn ba: biến sản phẩm hàng hoá thành tiền.
3.2.Đặc điểm của vốn cố định:
Vốn cố định đợc biểu hiện dới hình thái tài sản cố định. Tài sản cố định
phải đạt đợc cả hai tiêu chuẩn. Một là, phải đạt đợc về mặt giá trị đến một mức
độ nhất định. (Ví dụ hiện nay giá trị của nó phải lớn hơn hoặc bằng 500.000
đồng trở lên). Hai là, thời gian sử dụng phải từ một năm trở lên.Tài sản cố định
giữ nguyên hình thái vật chất của nó trong thời gian sử dụng dài. Tài sản cố định
chỉ tăng lên khi có xây dựng cơ bản mới hoặc mua sắm. Tài sản cố định hao
mòn dần:
-Hao mòn hữu hình( hao mòn kinh tế ): hao mòn hữu hình phụ thuộc vào
mức độ sử dụng khẩn trơng tài sản cố định và các điều kiện khác có ảnh hởng
đến độ bền lâu dài của tài sản cố định nh:
*Hình thức và chất lợng của tài sản cố định.
4
*Chế độ bảo vệ, bảo dỡng, sửa chữa, thay thế thờng xuyên, định kỳ đối
với tài sản cố định.
*Trình độ kỹ thuật, tinh thần trách nhiệm của ngời sử dụng và sự quan
tâm của cấp lãnh đạo.
*Các điều kiện tự nhiên và môi trờng...
- Hao mòn vô hình: Hao mòn vô hình chủ yếu do tiến bộ khoa học công
nghệ mới và năng suất lao động xã hội tăng lên quyết định.
Tài sản cố định chuyển đổi thành tiền chậm hơn, nhng tài sản cố định nh
nhà cửa, kho tàng, quầy hàng lại là tài sản có giá trị cao, là bộ mặt của doanh
nghiệp nên có giá trị thế chấp đối với ngân hàng khi vay vốn.
Hiện nay, tài sản cố dịnh của DNTM tuỳ thuộc theo loại hàng hoá có tỷ
trọng cao, thấp khác nhau (xăng, dầu, vật liệu điện, bách hoá, lơng thực...) nhng
nhìn chung mới chiếm khoảng 1/3 đến 1/4 vốn kinh doanh của DNTM. Đi đôi
với sự phát triển kinh tế - khoa học - công nghệ, tài sản cố định trong các
DNTM ngày càng đợc trang bị nhiều theo hớng cơ khí hoá, tự động hoá và hiện
một số hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp có lợi thế trên tthị trờng.
Trong cơ chế kinh tế mới, trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh việc có vốn và tích luỹ, tập trung đợc vốn
nhiều hay ít vào doanh nghiệp có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đẩy mạnh
sản xuất kinh doanh . Tuy nhiên, nó là một nguồn cực kỳ quan trọng để phát
huy tài năng của ban lãnh đạo doanh nghiệp ; nó là một điều kiện để thực hiện
các chiến lợc, sách lợc kinh doanh; nó cũng là chất keo để nối chắp, dính kết
các quá trình và nó cũng là dầu nhớt bôi trơn cho cỗ máy kinh tế hoạt động.
Vốn kinh doanh của DNTM là yếu tố về giá trị. Nó chỉ phát huy tác dụng
khi bảo tồn đợc và tăng lên sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Nếu vốn không đợc bảo
tồn và tăng lên trong mỗi chu kỳ kinh doanh thì vốn đã bị thiệt hại. Đó là hiện t-
ợng mất vốn. Sự thiệt hại lớn dẫn đến doanh nghiệp mất khả năng thanh toán sẽ
làm cho doanh nghiệp bị phá sản; tức là vốn kinh doanh đã bị sử dụng một cách
lãng phí, không có hiệu quả.
II - vai trò của Công tác huy động, quản lý sử dụng vốn đối với
hoạt động sản xuất kinh doanh của DNTM.
1.Yêu cầu về vốn
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng có cạnh tranh và cơ chế hạch toán
kinh doanh, sự nghiệp kinh doanh của mỗi doanh nghiệp không phải lúc nào
cũng dễ dàng, thuận lợi. Vấn đề xác định về vốn cũng vậy. Do đó nhà quản lý
phải dựa trên mục tiêu trớc mắt và lâu dài, trên cơ sở nhận thức các quy luật kinh
tế khách quan và đúc kết kinh nghiệm trong quản lý doanh nghiệp để xác định
yêu cầu về vốn.
Xác định yêu cầu về vốn phải dựa vào đặc điểm kinh doanh của đơn vị.
Mọi hoạt động của doanh nghiệp đợc tiến hành từ những định hớng, thông qua
các phơng án sản xuất kinh doanh đợc đúc kết từ những năm trớc, phơng án trớc
mắt và lâu dài do ban giám đốc (hoặc Hội đồng quản trị) tạo ra. Việc đề ra ph-
ơng án đó dựa trên cơ sở nghiên cứu tình hình và yêu cầu thị trờng để xác định
xem kinh doanh cái gì, ở đâu,chất lợng, số lợng, quy mô và tốc độ phát triển, ph-
ơng thức kinh doanh, những cải tiến đổi mới lực lợng lao động sử dụng, mạng l-
-Kế hoạch tiến bộ khoa học - kỹ thuật: Hàng năm căn cứ vào các phơng án
kinh doanh đề ra, quy mô của doanh nghiệp mà áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ
thuật nh đầu t để mua các thiết bị quản lý kinh doanh hiện đại nh: máy đếm tiền,
máy kiểm tra khách hàng, máy thanh toán...Khi đã có kế hoạch đầu t nh vậy thì các
khoản mục tiền sẽ phát sinh đợc đa vào để xác định nhu cầu vốn.
-Kế hoạch cung ứng vật t: Dựa vào kế hoạch này để lên kế hoạch vốn
dùng để mua vật t cũng nh các khoản thu do bán hàng, thời gian lu chuyển của
vốn để xác định nhu cầu vốn hợp lý đến thời điểm gần nhất mà vốn có khả năng
quay vòng đợc.
7
-Kế hoạch lao động tiền lơng: Theo kế hoạch này để xác định lợng tiền
phải trả cho cán bộ công nhân viên, nó thuộc quỹ lơng, tiền thởng, tiền để chi trả
cho cán bộ khi đau yếu và các khoản chi theo chế độ khác. Tất cả đều đợc đa
vào kế hoạch vốn của đơn vị từ đầu năm.
Căn cứ vào những kế hoạch trên đây để xác định nhu cầu về vốn. Bên
cạnh những căn cứ trên nhu cầu về vốn còn phụ thuộc chủ yếu vào: nhịp độ kinh
doanh và thời gian cấp vốn.
Đối với một công ty kinh doanh thơng nghiệp ngời ta thờng xác định nhu
cầu theo công thức:
DS
V = ----------- * t
= ĐS * t
360
V : nhu cầu vốn.
DS: doanh số một năm.
ĐS: doanh số một ngày.
t : thời gian cấp vốn.
Doanh số do khối lợng hàng hoá và giá cả hàng hoá quyết định. Còn thời
gian cấp vốn thờng phụ thuộc vào thời hạn thanh toán đợc ghi trong hợp đồng
đã xác định doanh nghiệp tiến hành huy động ngoài để đầu t phát triển sản xuất
kinh doanh. Nếu trong dự án kinh doanh càng chứa đựng thành công lớn thì khả
năng huy động vốn càng dễ dàng thuận lợi.
Doanh nghiệp có thể huy động vón thông qua các hình thức sau:
-Vay Ngân hàng: là hình thức vay phổ biến của các doanh nghiệp hiện
nay. trong quá trình hoạt động , các doanh nghiệp có thể huy động vốn tín dụng
dài hạn hoặc tín dụng ngắn hạn để đảm bảo nguồn taì chính trong những trờng
hợp cần thiết.
-Vay các tổ chức tín dụng, kho bạc: ngoài việc vay ngân hàngdoanh
nghiệp có thể vay ở các kho bạc để bổ xung vốn kinh doanh.
-Vay công nhân viên chức: các doanh nghiệp rất coi trọng nguồn vốn
trong tầng lớp cán bộ công nhân viên, khuyến khích mọi ngời bỏ vốn vào kinh
doanh, nhất là vốn đang tạm thời nhàn rỗi.
-Liên doanh liên kết: là vốn mà các doanh nghiệp tham gia liên doanh
liên kết góp bằng tiền, hàng hoá, sản phẩm, nguyên liệu, vật liệu, tài sản cố định,
vốn đầu t xây dựng cơ bản đã hoàn thành...để phát triển kinh doanh vì lợi ích
chung.
-Nguồn vốn tự bổ xung: là nguồn vốn đợc hình thành từ lợi nhuận để lại,
chênh lệch giá không phải nộp hoặc từ vốn vay để mua sắm xây dựng tài sản cố
định sau khi trả hết nợ và lãi suất tiền vay, trích từ quỹ công ty bổ xung vào vốn.
Tóm lại, đó là một số định hớng để tạo vốn, tuỳ thuộc vào từng điều kiện
cụ thể của từng công ty, doanh nghiệp mà mỗi doanh nghiệp phải có trách
nhiệm đề ra các biện pháp sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn.
2.2. Lập kế hoạch quản lý và sử dụng vốn kinh doanh:
9
Công tác quản lý và sử dụng vốn kinh doanh là một hệ thống quan hệ
kinh tế dới hình thức giá trị của cải vật chất thông qua tạo lập và sử dụng các
quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ kinh doanh sản xuất và yêu cầu chung
khác của xã hội. Công tác quản lý, sử dụng vốn sao cho phải phù hợp với quá
trình vận động của vốn kinh doanh, phân bổ vốn kinh doanh một cách tiết kiệm
-Vốn chi ra để thực hiện chi phí lu thông hàng hoá.
-Các khoản vốn đầu t ra ngoài doanh ngiệp.
-Các khoản thuế phải nộp theo luật định.
Công tác lập kế hoạch sử dụng và quản lý vốn là một khâu rất quan trọng
mà các doanh ngiệp cần phải quan tâm để sao cho vốn đợc bảo toàn và phát
triển.
Hệ số bảo toàn vốn
=
Số vốn doanh nghiệp hiện có
Số vốn doanh nghiệp phải bảo toàn
số vốn doanh
nghiệp
bảo toàn tại thời
điểm xác định
=
Số vốn doanh nghiệp
phải bảo toàn khi
giao nhận hoặc kỳ tr-
ớc
x
Chỉ số giá và tỷ giá tại thời
điểm xác định phải do
cơ quan có thẩm quyền
công bố
Nếu hệ số này bằng 1 tức là doanh nghiệp bảo toàn đợc vốn. Lớn hơn 1
tức là doanh nghiệp không những bảo toàn đợc vốn mà còn phát triển đợc vốn.
Ngợc lại, nếu nhỏ hơn 1 tức là doanh nghiệp không bảo toàn đợc vốn.
Theo quy định nếu doanh nghiệp không bảo toàn đợc vốn thì phải lấy thu
việc xây dựng hớng và biện pháp nhằm thúc đẩy kinh doanh, tiết kiệm vốn.
Song song với nó doanh nghiệp luôn phải chú ý tới tình hình biến động giá cả,
lạm phát và ảnh hởng của nó đến việc thực hiện kế hoạch.
2.4.Đánh giá việc sử dụng vốn kinh doanh:
Một nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý sử dụng vốn là tìm biện
pháp sử dụng một cách có hiệu quả mọi nguồn vốn cho doanh nghiệp. Hiệu qủa
sử dụng vốn là mang lại lợi ích kinh tế với một lợng vốn nhất định. Điều này có
ý nghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp và các nhà quản lý, nó cho phép các nhà
quản lý kinh doanh đánh giá đợc những u nhợc điểm của kế hoạch đa ra và mục
tiêu của doanh nghiệp đã đạt đợc đến đâu. Có nh vậy doanh nghiệp mới có thể
phát triển ngày càng vững chắc, nâng cao uy tín và sức cạnh tranh của mình trên
thị trờng.
2.4.1.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp:
Sức sản xuất của
TSCĐ
=
Tổng doanh thu thuần( hoặc giá trị tổng sản lợng)
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định
đem lại mấy đồng doanh thu( hay giá trị tổng sản lợng).
Sức sinh lợi
của TSCĐ
=
Lợi nhuận thuần( lãi gộp)
12
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Chỉ tiêu mức sinh lợi tài sản cố định cho biết một đồng nguyên giá bình
quân tài sản cố định đem lại mấy đồng lợi nhuận.
Suất hao phí TSCĐ
=
cố định, đánh giá sự biến động tỷ trọng của từng loại tài sản cố định. Việc xây
dựng một cơ cấu tài sản cố định hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp phát huy tối đa
hiệu quả sử dụng của chúng.
2.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu động của doanh
nghiệp.
Các tỷ lệ về khả năng thanh toán:
Tài sản lu động
Khả năng toán hiện hành =
__________________________
Nợ ngắn hạn
13
Tài sản lu động bao gồm tiền, các chứng khoán dễ chuyển nhợng, các
khoản phải thu và dự trữ tồn kho. Còn nợ ngắn hạn thờng bao gồm các khoản
vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản phải trả nhà cung
cấp, các khoản phải trả khác... Cả tài sản lu động và nợ ngắn hạn đều có thời hạn
nhất định tới một năm.
Để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi đến hạn các
nhà phân tích quan tâm đến chỉ tiêu vốn lu động ròng (NWC). NWC thể hiện sự
nhạy bénvề tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đối với một doanh nghiệp khi
có nựo ngắn hạn quá lớn sẽ ảnh hởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Do vậy nó cũng ảnh hởng đến lợng vốn lu động ròng. NWC đợc
xác định là phân chênh lệch gia tổng tài sản lu động và nợ ngắn hạn hoặc là
phần chênh lệch giữa vốn thờng xuyên ổn định với bất động sản ròng.
NWC = TSLĐ - Nợ ngắn hạn
NWC = Vốn dài hạn - TSLĐ
Khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán, mở rộng quy mô sản xuất kinh
doanh và khả năng nắm bắt thời cơ thuận lợi của doanh nghiệp phụ thuộc phần
lớn vào vốn lu động nói chung và vốn lu động ròng.
TSLĐ - Dự trữ
Khả năng thanh toán nhanh =
đang trên đà phát triển. Dự trữ bình quân giảm do hàng hoá mua về đã đợc chi
tiêu tốt, không bị tồn đọng lâu, kéo theo đó doanh thu cũng tăng lên. Ngợc lại tỷ
lệ này thấp cho thấy hàng hoá của doanh nghiệp dự trữ lớn và cha tiêu thụ đợc.
Các khoản phải thu
Kỳ thu tiền =
___________________________________________
Doanh thu bình quân một ngày
Tỷ lệ này chỉ ra khả năng thu hồi vốn trong thanh toán của doang nghiệp.
Tỷ lệ này cao chứng tỏ các khoản phải thu của doanh nghiệp là khá lớn. Lợng
vốn bị chiếm dụng của doanh nghiệp là khá cao.
Tổng doanh thu thuần
Sức sản xuất của vốn lu động =
___________________________________
Vốn lu động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lu động đem lại bao hiêu đòng doanh
thu thuần. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
càng tăng lên vì một đồng vốn lu đọng bình quân mà doanh nghiệp bỏ ra đã
mang lại nhiều đồng doanh thu thuần lớn.
Lợi nhuận thuần (lãi gộp)
Sức sinh lợi của vốn lu động =
_____________________________________
Vốn lu động bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lu động bình quân bỏ ra đã giúp
doanh nghiệp thu đợc bao nhiêu đồng lợi nhuận (lãi gộp) trong kỳ.
Tổng doanh thu thuần
Số vòng quay của VLĐ =
___________________________________
15
Vốn lu động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết số vòng quay của cả vốn lu động trong kỳ. Số vòng
bẩy kinh tế nh lãi suất tiền vay, lợi tức cổ phần ... để kích thích thu hút vốn, linh
hoạt trong sử dụng nguồn và cân đối trang trải các nguồn tài trợ.
-Công tác quản lý sử dụng vốn kinh doanh có vai trò trong việc tổ chử sử
dụng vốn một cách tiết kiệm và hiệu quả. Nó giúp cho sự tồn tại và phát triển
của mỗi doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trờng. Quy luật cạnh tranh đặt
16
ra trớc mọi nhà kinh doanh những yêu cầu trong kinh doanh sản phẩm hàng hoá:
chất lợng tốt, giá vừa đủ và hợp với thị hiếu ngời tiêu dùng.
Trong cơ chế bao cấp giá đầu vào và đầu ra củ yếu do Nhà nớc quy định. Chỉ
tiêu pháp lệnh về doanh thu, về mặt hàng kinh doanh đợc giao từ trên xuống.
Nhà nớc tiến hành bù giá, bù lỗ kinh doanh. Do đó công tác quản lý sử dụng
vốn không có sự chủ động, sáng tạo hạch toán kinh tế chỉ là giả tạo, các doanh
nghiệp làm ăn lắm hiệu quả vẫn nghiễm nhiên tồn tại.
Trong kinh tế thị trờng có hợp tác, có cạnh tranh, công tác quản lý sử dụng
vốn đợc thực hiện trên cơ sở tự chủ về tài chính. Tổ chức công tác này tốt sẽ đạt
đợc yêu cầu về tiết kiệm vốn.
-Công tác quản lý sử dụng vốn là đòn bẩy kích thích kinh doanh sản
xuất.
Công tác này kích thích tăng năng suất lao động, đẩy mạnh phong trào hiến
kế, phát minh, kích thích tiêu dùng, thu hút đầu t, điều hoà vốn hợp lý, đảm bảo
hoạt động kinh doanh sản xuấttiến hành nhịp nhàng, ăn khớp và đầu t vốn vào
khâu có lợi, tăng vòng quay vốn kinh doanh thông qua cơ chế phân phối thu
nhập, quỹ lơng, quỹ khen thởng, quỹ phúc lợi, cơ chế xây dựng giá bán, lãi suất
và hoa hồng về đại lý bán.
Đồng thời quản lý sử dụng vốn góp phần đa ra nhằm vào việc đề cao trách
nhiệm vật chất, ngăn chặn các hiện tợng tiêu cực nảy sinh nh lợi dụng, tham
nhũng hoặc lãng phí, phô trơng hình thức.
Quản lý sử dụng vốn kinh doanh tốt để thu hồi vốn nhanh, để tái sản xuất các
tài sản cố định và đầu t mới có tính đến hiệu quả kinh tế, không làm cho chi phí
kinh doanh cao vọt lên.
Mặc dù DNTM Nhà nớc có xu hớng giảm vẫn chiếm một tỷ lệ đáng kể trong
tổng số DNTM. Năm 1994 chiếm 23,94%; năm 1995 chiếm 16,7%; năm 1996
chiếm 11,96%; năm 1997 chiếm 11,72% trong tổng số DNTM.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá xã hội thuộc khu vực kinh tế Nhà nớc có giảm
qua các năm: Năm 1995 đạt 3730 tỷ đồng chiếm 29,4%; năm 1996 đạt 3965 tỷ
đồng chiếm 27%; năm 1997 đạt 4219 tỷ đồng chiếm 27,1%; năm 1998 đạt 4598
tỷ đồng chỉ chiếm 26,9% so với tổng mức bán lẻ hàng hoá trên thị trờng xã hội,
18
xong về tổng mức lu chuyển hàng hóa xã hội khu vực Nhà nớc chiếm khá cao,
năm 1993 khu vực kinh tế Nhà nớc đạt 46,43%; năm 1994 đạt 49,46%; năm
1995 đạt 47,53%; năm 1996 đạt 49,65%; năm 1997 đạt 50,20%; năm 1998 đạt
49,90% so với tổng mức lu chuyển hàng hoá của xã hội.
DNTM Nhà nớc tuy có giảm về số doanh nghiệp, về tổng mức bán lẻ,
xong quy mô kinh doanh dã bắt đầu đợc phục hồi, vẫn chốt giữ đợc nhiều trận
địa quan trọng, giữ đợc vai trò chủ đạo trên nhiều lĩnh vực nh trong xuất khẩu,
trong buôn bán một số ngành trọng yếu nh xi măng, xăng dầu, sắt thép.
Trong lĩnh vực xuất nhập khẩu ở nớc ta, các DNTM Nhà nớc có đóng góp
đáng kể: Năm 1997 tổng trị giá xuất khẩu đạt 5.911.990 USD; trong đó xuất
khẩu trực tiếp là 3.806.248 USD; 6 tháng đầu năm 1998 đã đạt 3.133.045 USD.
Còn nhập khẩu năm 1997 có tổng trị giá nhập khẩulà 4.784474 USD; trong đó
nhập khẩu trực tiếp là 3.564.962 USD; 6 tháng đầu năm 1998 tổng trị giá nhập
khẩu là 2.296.854 USD , trong đó nhập khẩu trực tiếp là 1.851.287 USD.
Theo số liệu thống kê, số vốn tính đến thời điểm cuối kỳ của các DNTM
Nhà nớc nh sau:
Biểu 2.1: Vốn, tài sản của DNTM Nhà nớc.
Đơn vị tính: triệu đồng.
Năm
1996 1997
6 tháng đầu
năm 1998
1997 chiếm 30% và cho đén 6 tháng đầu năm 1998 chỉ chiếm 29,21%. Điều đó
chứng tỏ vốn huy động từ bên ngoài là quá lớn, đây là một bất lợi đối với DNTM
Nhà nớc.
Trong tổng số các DNTM Nhà nớc có báo cáo quyết toán tài chính số l-
ợng doanh nghiệp phân bổ theo quy mô vốn chủ yếu tập trung ở mức từ 1 tỷ đến
10 tỷ đồng.
Biểu 2.2 Số lợng DNTM Nhà nớc phân theo quy mô tổng nguồn vốn.
Năm 1996 1997 6 tháng1998
Số lợng
DN
Cơ cấu
(%)
Số lợng
DN
Cơ cấu
(%)
Số lợng
DN
Cơ cấu
(%)
Tổng số DNTMNN 1563 100,00 1566 100,00 1566 100,00
DN có vốn<100 tr.đ 28 1,85 18 1,15 5 0,32
Từ 100tr.đ đến dới 500
tr.đ
140 8,96 51 3,25 45 2,87
Từ 500 tr.đ đến 1 tỷ
đồng
184 11,75 98 6,26 95 6,07
Từ 1 đến 5 tỷ đồng 567 36,4 484 30,91 485 30,97
Từ 5 đến 10 tỷ đồng 244 15,58 246 15,71 246 15,71
Qua số liệu thống kê ta có thể thấy rằng, phần lớn các DNTMNN có mức
vốn dới 10 tỷ đồng chiếm 57,73% so với tổng số DNTMNN vào năm 1997 và
chiếm khoảng 55,94% vào 6 tháng đầu năm 1998. Trong đó chủ yếu là các
DNTMNN có vốn từ 1tỷ đến 10 tỷ, chiếm khoảng 46,6%.Tiếp đến là số doanh
nghiệp TMNN có mức vốn từ 10 tỷ đến 100 tỷ có 548 doanh nghiệp vào đầu
năm 1997, chiếm khoảng 40% so với tổng số DNTMNN.Mặc dù đây là những
doanh nghiệp có qui mô tơng đối lớn nhng nếu so với các doanh nghiệp trên thế
giới thì quá nhỏ bé.Các DNTMNN có mức vốn trên 100 tỷ đồng ở nớc ta chỉ
chiếm 7,7% trong tổng số DNTMNN vào năm 1997.
Điều đó chứng tỏ, số lợng DNTMNN đông nhng không mạnh(chủ yếu là
các doanh nghiệp vừa và nhỏ).Tuy đã đợc nâng thêm một bớc nhng nói chung
vón đầu t của Nhà nớc đối với các DNTMNN còn hết sức phân tán, tổng nguồn
vốn trong mỗi DNTMNN cũng không nhiều.Ngay cả đối với những doanh
nghiệp trọng điểm của Nhà nớc, tình trạng thiếu vốn cũng rất trầm trọng.Hiện
nay cũng chỉ có một vài công ty lớn nh: công ty xi măng, công ty thép là tơng
đối đủ vốn kinh doanh, còn lại hầu nh các doanh nghiệp đều thiếu vốn.
Điều này giải thích một phần câu hỏi: tại sao các tổng công ty quan trọng
lại chăm lo mua nhanh, bán nhanh; hoặc quan tâm nhiều hơn đến xuất khẩu mà
cha quan tâm đúng mức đến tổ chức các kênh lu thông hợp lý hoặc tổ chức
21
mạng lới đại lý và có một qui trình cung ứng chắc chắn và ổn định cho thị trờng
nội địa. Một mặt, họ nhận thức đợc trách nhiệm của DNNN; mặt khác, họ cũng
bị thúc ép bởi cơ chế hoạch toán kinh doanh. Không trờng vốn thì biện pháp duy
nhất là phải thu hồi vốn nhanh cho chu kỳ kinh doanh tiếp theo, hoặc phải sử
dụng vốn của t thơng.
Về nguyên tắc, thơng mại phải dựa vào vốn tín dụng để mở rộng kinh
doanh, nhng lãi suất cho vay của ngân hàng lại cao hơn rất nhiều so với lợi
nhuận bình quân năm của DNTMNN.Đành rằng hiệu quả thấp là lỗi của các th-
ơng nghiệp quốc doanh, nhngcái khó bó cái khôn, dù thiếu vốn họ vẫn có
gắng tồn tại trên cơ sở vốn tự có là chủ yếu chứ không muốn làm không công
Theo nghị định 59/CP ngày 3/10/1996, việc đặt ra chế độ thu về sử dụng
vốn ngân sách Nhà nớc đã ít nhiều đây các vốn đã khó khăn lại càng khó khăn
hơn; ngoài đối phó với những khó khăn trong cơ chế thị trờng để duy trì sự tồn
tại của mình, ngoài việc trả lãi tiền vay cho các khoản vay, các DNNN phải chịu
gánh nặng tiền thu về sử dụng vốn ngân sách Nhà nớc làm chi phí kinh doanh
cho các doanh nghiệp đã cao lại càng cao hơn, làm tăng giá bán sản phẩm, dịch
vụ và do đó làm giảm khả năng cạnh tranh, dẫn đến phản ánh sai lệch hiệu quả
kinh doanh của các DNNN Việc áp dụng chế độ thu về sử dụng vốn ngân sách
Nhà nớc làm cho các DNNN bị thua thiệt so với các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế khác, nh thế hẳn có sự không công bằng giữa các DNNN và
các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trong cùng một khuôn khổ
pháp lý.Thực tế hiện nay tổng số tiền thu sử dụng vốn ngân sách của các DNNN
vào ngân sách hàng năm không đáng kể. Bỏ khoản thu này, doanh nghiệp Nhà
nớc sẽ có thêm điều kiện tự tích luỹvà phát triển vốn vào đầu t sản xuất kinh
doanh. Đây chính là một giải pháp vô cùng quan trọng để góp phần tháo gỡ tình
hình thiếu vốn kinh doanh đang diễn ra ở nhiều doanh nghiệp.
Trong điều kiện hiện nay, phần lớn các DNNN đang thiếu vốn kinh doanh
trầm trọng, nhất là vốn lu động.Đối với các DNNN, vốn từ ngân sách cấp chiếm
tỷ trọng không cao, vốn lu động Nhà nớc cấp chỉ đáp ứng đợc 20%, số vốn còn
lại chủ yếu đi vay. Việc vay vốn của ngân hàng là một vấn đề bức xúc, đang xảy
ra tình trạng doanh nghiệp thiếu vốn mà ngân hàng lại thà vốn, không cho vay
đợc.Thị trờng vừa thừa vừa thiếu vốn đang là bài toán cần phải giải đáp để cứu
nền kinh tế, để các doanh nghiệp mở rộng nâng cao năng lực sản xuất kinh
doanh. DNTMNN không chỉ phải tồn tại mà phải đợc cấp vốn hoặc vay với lãi
suất thấp để sản xuất kinh doanh. Dù tiềm năng có nh con gà đẻ trứng vàng
thì cũng phải cho ăn (cấp vốn). Nếu cứ để tự nó nuôi nó thì cũng sẽ đến một
ngày nó tự huỷ diệt cơ thể mình. Tình hình thiếu vốn lu động sẽ làm cho các
doanh nghiệp mất đi các cơ hội, thời cơ hấp dẫn, hoạt động sản xuất kinh doanh
23
đạt hiệu quả không cao, nh vày sẽ kéo theo việc trả nợ ngân hàng sẽ khó khăn
chí có nơi có lúc chỉ xem doanh nghiệp nh là đối tợng chỉ để kiểm tra, kiểm
24
soát. Vì vậy doanh nghiệp e ngại trong triển khai mở rộng hoạt động và mất
nhiều thời gian phục vụ không cần thiết.
Các DNTMNN vốn kinh doanh bị phân tán, có nhiều DNNN chỉ có mấy
trăm triệu đồng vốn. Do thiếu sự hớng dẫn, điều hành phân công, phối hợp
chung giữa các DNNN dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy làm, phân tán, cục bộ,
tranh mua, tranh bán làm suy yếu lẫn nhau.
2.Vốn Nhà nớc đầu t cho các doanh nghiệp Nhà nớc quá thiếu, công tác
điều hành quản lý vốn cha linh hoạt và kém hiệu quả.
Nhà nớc cha có chính sách vốn thoả đáng đối với các doanh nghiệp kinh
doanh các ngành hàng phải mua theo thời vụ. Vốn lu động của các doanh
nghiệp này chủ yếu là lãi suất cao không thể dùng để đầu t, phát triển sản xuất,
các doanh nghiệp không đủ vốn để dự trù lu thông với số lợng cần thiết.
Hiện nay có doanh nghiệp thừa hàng chục tỷ đồng vốn, trong khi các
doanh nghiệp thiếu vốn không vay đợc tiền của ngân hàng để duy trì từ sản xuất
kinh doanh đến không bỏ đảm đợc mức thu nhập trung bình cho ngời lao động.
3.Cha có chiến lợc sản xuất kinh doanh, cha có phơng hớng kinh doanh rõ
ràng, tạo thế ổn định về mặt hàng và thị trờng.
Các doanh nghiệp cha chú trọng xây dựng chiến lợc kinh doanh để tạo ra
mặt hàng, thị trờng và bạn hàng ổn định. Công tác quản lý kinh doanh của nhiều
doanh nghiệp còn yếu.Việc thực hiện chế đọ khoán trong kinh doanh do quản lý
không tốt nên xảy ra không ít trờng hợp thua lỗ, thất thoát tài sản. Thậm chí
cũng còn trờng hợp để các thành phần kinh tế khác núp bóng TMNN,làm cho
hoạt động của bản thân doanh nghiệp thiếu lành mạnh và suy yếu. Nhiều doanh
nghiệp chỉ lo buôn chuyến, đánh quả từng đợt ngắn, từng thơng vụ nên hiệu
quả ản xuất kinh doanh còn bấp bênh, không ổn định, không gây đợc tín nhiệm
với khách hàng và có lúc đã làm mất bạn hàng.
4.Thiếu sự hớng dẫn, giúp đỡ của các cơ quan quản lý Nhà nớc về thơng
mại.