Báo cáo tổng hợp
MỤC LỤC
1. Nguyễn Xuân Thông, 2009, Lịch sử Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Từ Sơn 22
Nguyễn Đắc Trọng TCDN 49A
Báo cáo tổng hợp
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHN
o
& PTNT : Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
TCTD : Tổ chức tín dụng
TCKT : Tổ chức kinh tế
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DNNQD : Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Nguyễn Đắc Trọng TCDN 49A
Báo cáo tổng hợp
LỜI MỞ ĐẦU
Sau một khoảng thời gian thực tập, nghiên cứu tài liệu và làm quen với môi trường
làm việc tại NHNo&PTNT Chi nhánh Từ Sơn kết hợp quá trình xem xét tìm hiểu trao dồi
những kiến thức có được trên cơ sở lý thuyết với tình hình thực tế của Ngân hàng. Em đã
hoàn thành báo cáo thực tập tổng hợp tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
chi nhánh Từ Sơn. Em xin được gửi lời cảm ơn tới Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn chi nhánh Từ Sơn. Đặc biệt em luôn nhận được sự giúp đỡ tỷ mỷ chu đáo của
giảng viên hướng dẫn thực hiện Nguyễn Thị Thuỳ Dương.
Nguyễn Đắc Trọng TCDN 49A
1
Báo cáo tổng hợp
BÁO CÁO TỔNG THỰC TẬP TỔNG HỢP
1. Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển:
điều kiện triển khai kịp thời.
Nguyễn Đắc Trọng TCDN 49A
2
Báo cáo tổng hợp
2 : Cơ Cấu Tổ Chức Bộ Máy
Trong thời gian qua với sự chỉ đạo sát sao của ngân hàng nông nghiệp tỉnh Bắc
Ninh, ban lãnh đạo chi nhánh ngân hàng nông nghiệp thị xã Từ Sơn đã kết hợp chặt chẽ
với các cấp chính quyền địa phương trong huyện luôn đi sát với các các chủ trương, chính
sách phát triển kinh tế của địa phương và đổi mới trong chính sách đầu tư tín dụng do
NHNN ban hành với hoạt động cải tiến cơ cấu lại tổ chức cho phù hợp với yêu cầu của
nền kinh tế thị trường.
NHNo&PTNT thị xã Từ Sơn là ngân hàng chuyên doanh được thành lập theo nghị
định số 53/HĐBT của hội đồng bộ trưởng ( nay là chính phủ ) và chính thức hoạt động từ
tháng 6/1996, có trụ sở chính tại thị xã Từ Sơn, hoạt động kinh doanh đối với các thành
phần kinh tế và dân cư trên địa bàn thị xã Từ Sơn.
Khác với các ngân hàng khác trên địa bàn, ngân hàng nông nghiệp thị xã Từ Sơn có
các phòng giao dịch tại các xã, phường do vậy tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng và
nâng cao hiệu quả huy động vốn và sử dụng vốn.
Bộ máy tổ chức của ngân hàng nông nghiệp thị xã Từ Sơn được áp dụng theo
phương thức quản lý trực tuyến, ban giám đốc quản lý tất cả các phòng ban tại trung tâm
và các phòng giao dịch. Ban giám đốc gồm : Giám đốc và hai phó giám đốc. Giám đốc là
người trực tiếp ra các quyết định kinh doanh, ký các văn bản, các hợp đồng liên quan đến
hoạt động toàn chi nhánh NHNN&PTNT thị xã Từ Sơn.
Cơ cấu tổ chức của ngân hàng nông nghiệp thị xã Từ Sơn phân công bố trí theo sơ
đồ sau:
Sơ đồ : Cơ cấu tổ chức tại chi nhánh NHNo & PTNT thị xã Từ Sơn
Ban giám đốc
Nguồn : phòng hành chính NHNo&PTNT thị xã Từ Sơn
kiều hối, nhận và truyền tin kịp thời, số liệu nhanh chóng chính xác, đầy đủ tạo điều kiện
thuận lợi cho ban lãnh đạo trong công tác quản lý, điều hành đạt kết quả khá tốt. Độ tuổi
trung bình trong phòng là 28 tuổi.
• Phòng hành chính: Tổng số có 4 người trong đó có 1 trưởng phòng thực hiện việc
đề bạt nâng lương cho cán bộ nhân viên, tổ chức các hoạt động của ngân hàng.
• Phòng giao dịch Đồng Kỵ: Tổng số có 9 người với 1 giám đốc, 1 phó giám đốc
thực hiện phục vụ làng nghề truyền thống.
• Phòng giao dịch Châu Khê: Tổng số có 6 người và 1 giám đốc, thực hiện phục vụ
làng nghề Châu Khê và các xã lân cận.
• Phòng giao dịch Đông Ngàn: Tổng số có 5 người với 1 giám đốc, 1 phó giám đốc
thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng như huy động vốn, cho vay, các dịch vụ chuyển tiền…
3. Tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh trong thời gian qua
3.1 Kết quả kinh doanh 3năm gần đây:
Trong những năm qua, chi nhánh đó làm tương đối tốt công tác huy động vốn. Giai
đoạn 2008-2010, công tác huy động vốn nhìn chung tăng trưởng qua các năm, năm 2010
Nguyễn Đắc Trọng TCDN 49A
4
Báo cáo tổng hợp
tổng nguồn vốn đạt tăng trưởng mạnh đạt tới 651 tỷ đồng, tăng 166 tỷ đồng so năm 2009,
tỷ lệ tăng 34,2%.
Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo&PTN Từ Sơn giai đoạn 2008-2010 thể
hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Kết quả kinh doanh của NHNo&PTNT chi nhánh Từ Sơn năm 2008-2010
Đơn vị: Triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
1. Tổng thu nhập từ HĐKD 31.723 55.378 114.799
Thu tín dụng 30.335 35.293 104.679
Thu dịch vụ 284 1.637 7.615
kiếm của cán bộ ngân hàng theo định hướng của NHNo&PTNT VN, trong đó dịch vụ
chuyển tiền và thanh toán quốc tế ngày càng mở rộng và thu phí cao tại chi nhánh, ngoài
ra các nghiệp vụ khác như dịch vụ kều hối, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ… đều có khả
năng ngày càng mở rộng.
Chi nhánh đó thu hút được một số khách hàng tham gia nhập khẩu về giao dịch
như: Công ty CP điện tử chuyên dụng HANEL, công ty TNHH Thanh Phương, công ty
TM&XD Đại Thủy…Và một số khách hàng xuất khẩu: Công ty TNHH Huy Hùng, công
ty TNHH Thanh Tùng…đó một phần cân đối được nhu cầu ngoại tệ tại chi nhánh.
Về hoạt động tín dụng:
Nhiều năm qua vẫn chiếm một vị trí rất quan trọng, mang lại cho ngân hàng một
nguồn thu đáng kể. Đây sẽ là mảng hoạt động rất được ngân hàng chú trọng đầu tư cả về
thị trường sản phẩm và chất lượng kinh doanh. Tổng dư nợ đạt 496 tỷ đồng, tăng so với
2008 là 114 tỷ đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 29,84%. Tổng dư nợ năm 2010 đạt 1.116 tỷ
đồng tăng so với 2009 là 620 tỷ đồng tương ứng với tỷ lệ 22,5 %.
Về hoạt động cung cấp dịch vụ
Với nhiêm vụ là trung tâm thanh toán, ngân hàng phát triển nông thôn đã cung cấp
những sản phẩm ngày càng phong phú, đa dạng phù hợp với quy định hiện hành và thông
lệ quốc tế.
Với mạng lưới rộng lớn trên toàn quốc, ngân hàng cung cấp một cách nhanh chóng
và an toàn cho các khách hàng những sản phẩm dich vụ đạt tiêu chuẩn, chất lượng dịch vụ
tốt, được khách hàng đánh giá cao.
Nguyễn Đắc Trọng TCDN 49A
6
Báo cáo tổng hợp
Đặc biệt ngân hàng đã thành công với sản phẩm thẻ ATM: Tổng số thẻ năm 8.463
thẻ, tăng 2.495 so vơí 2009. Trong đó: số thẻ phát hành trong năm 2010 có 33 thẻ ghi nợ
quốc tế, 63 thẻ tín dụng quốc tế, 154 thẻ lập nghiệp, 2.245 thẻ ghi nội địa.
3.2. Hoạt động huy động vốn tại NHNNo&PTNT chi nhánh Từ Sơn
Bảng 2:Khối lượng huy động vốn
Chi tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
sang cho vay cả cỏc doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Để thực hiện mục tiêu trên, trong
những năm qua ngân hàng đó không ngừng đẩy mạnh các hoạt động về huy động, quản lý
và sử dụng vốn và đó đạt được kết quả khả quan: tổng nguồn nói chung và vốn nội tệ nói
riêng liên tục tăng trưởng nhanh chóng qua các năm.
Đơn vị: Triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Tổng nguồn vốn 460.944 485.000 651.000
Vốn VND 431.816 453.000 599.000
Vốn ngoại tệ 29.128 32.000 52.000
Nguồn: phòng kế toán – ngân quỹ
Bảng 3:Vốn VND và vốn ngoại tệ trong giai đoạn năm 2008-2010
Hinh 1: Biểu đồ vốn và ngoại tệ giai đoạn 2008-2010
Trong giai đoạn này, nguồn nội tệ của các năm tăng trưởng không đồng đều. Cụ
thể là năm 2008 đạt 460.944 triệu đồng. Đặc biệt vào năm 2009 đạt 485.000 triệu đồng,
Nguyễn Đắc Trọng TCDN 49A
8
Báo cáo tổng hợp
tăng 24.056 triệu đồng so với năm 2008, tăng 5,2% so với năm 2008. Năm 2010 đạt
651.000 triệu đồng tăng 166.000 triệu đồng so với năm 2009, tương ứng tăng 34% so với
năm 2009. Đạt được mục tiêu này là sự cố gắng nỗ lực đẩy mạnh và thu hút huy động vốn
của ngân hàng và trong khi tình hình kinh tế Việt Nam và thế giới có nhiều biến động.
Tăng trưởng vốn VND khá mạnh là kết quả sự chuyển biến tích cực của ngân hàng
kết hợp sử dụng đồng bộ và hiệu quả các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của
công tác huy động và sử dụng vốn như: làm tốt công tác khách hàng, tăng cường tính chặt chẽ
trong công tác điều hành, quản trị vốn và lãi suất, quản trị rủi ro, thanh khoản và áp dụng công
nghệ mới trong hoạt động của ngân hàng.
Vì ngân hàng hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn nên nguồn
vốn ngoại tệ cũng như các hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng còn khá hạn chế.
Nguồn không kỳ hạn 32.116 7 58.000 12 100.000 15,4
Nguồn có kỳ hạn 428.828 93 427.000 88 551.000 84,6
9
Báo cáo tổng hợp
(Nguồn: nguồn kế toán – ngân quỹ)
Hình 2: biểu đồ tỷ lệ cơ cấu huy động theo kỳ hạn giai đoạn từ năm 2008 - 2010
Cũng như các chi nhánh của NHTM đặc biệt là NHNo&PTNT VN là thu hút ngày
càng nhiều nguồn vốn có kỳ hạn bởi đây là nguồn vốn ổn định và do đó ngân hàng có thể
sử dụng nguồn vốn này để đầu tư, tài trợ cho các dự án phát triển trung và dài hạn đem lại
nguồn thu nhập lớn cho ngân hàng.
Nhìn vào bảng số liệu trên có thể thấy rằng ngân hàng đang đi đúng hướng đó đề
ra. Trong tổng nguồn vốn thì nguồn có kỳ hạn luôn chiếm ưu thế (>80%). Đây là kết quả
công tác huy động vốn bằng việc liên tục tăng lãi suất.
Cũng qua bảng trên có thể thấy rằng nguồn tiền không kỳ hạn không nhiều như
tiền gửi có kỳ hạn của ngân hàng nhưng nguồn vốn này có đóng góp rất lớn vào hiệu quả
kinh doanh của ngân hàng vì đây là nguồn có chi phí trả lãi thấp nhất, mặc dự sự biến
động của nguồn vốn này khá cao nhưng với lượng khách hàng tương đối ổn định thì sự
rút gửi thường xuyên không gây quá nhiều lo ngại về khả năng thanh khoản. Mặt khác,
Nguyễn Đắc Trọng TCDN 49A
10
Báo cáo tổng hợp
ngân hàng cũng đã có biện pháp tích cực để phòng ngừa loại rủi ro này, đó là luôn luôn
duy trì, đảm bảo khả năng thanh khoản
Bảng 5: Cơ cấu nguồn vốn có kỳ hạn giai đoạn từ năm 2008-2010
Năm
Chỉ tiêu
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
ST
(Trđ)
Chỉ tiêu
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Tổng nguồn vốn 460.944 485.000 651.000
Dân cư 431.805 427.000 551.000
Tổ chức kinh tế 28.959 57.000 95.000
Vốn khác 1.180 1.000 5.000
( Nguồn: phòng kế toán – ngân quỹ)
Hình 4: biểu đồ cơ cấu nguồn vốn theo chủ thể
Đơn vị: Triệu đồng
( Nguồn: phòng kế toán – ngân quỹ)
Trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng thì tỷ trọng huy động từ dân cư là
khá lớn, tốc độ tăng trưởng ổn định qua các năm. Nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế
đóng vai trò quan trọng nhằm thực hiện chủ yếu các hoạt động thanh toán bù trừ ngân
hàng. Sức tăng trưởng của nguồn vốn tổ chức kinh tế đạt mức cao nhất vào hai quý đầu
năm 2008, hứa hẹn sẽ cùng tăng trưởng vào hai quý cuối năm do ngân hàng đang tích cực
mở rộng mối quan hệ với doanh nghiệp cả trong và ngoài nước thông qua việc cho ra đời
những sản phẩm mới và hiện đại.
Nguyễn Đắc Trọng TCDN 49A
12
Báo cáo tổng hợp
Song song với nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế thì nguồn vốn từ các dân cư
đóng vai trò khá quan trọng trong cơ cấu vốn huy động của ngân hàng bởi tính ổn định,
bền vững của nguồn vốn này. Khác với nguồn huy động từ các tổ chức kinh tế thường
dưới dạng tài khoản thanh toán khiến ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản cao
thì nguồn vốn huy động từ dân cư của ngân hàng luôn được duy trì ổn định, thường được
gửi vào ngân hàng dưới dạng tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn hoặc các giấy tờ có giá khác
nên ngân hàng có thể yên tâm sử dụng các kế hoạch đầu tư trung và dài hạn. Trong thời
gian qua nguồn huy động từ dân cư của ngân hàng cũng tăng trưởng đều đặn do chính
sách tăng lãi suất gửi tiết kiệm thường xuyên của NHNo&PTNT VN.
Sở dĩ các ngân hàng NHNo&PTNT chi nhánh thị xã Từ Sơn phải vay vốn từ
đối với các bên , trong đó điều quan trọng là phải đảm bảo lợi ích của ngân hàng . Vì vậy trong
huy động vốn , mỗi ngân hàng đều cố gắng áp dụng mọi biện pháp có thể nhằm tìm kiếm được
những nguồn vốn sao cho chi phí huy động vốn bình quân là nhỏ nhất và sử dụng số vốn đó để
cho vay với một mức lãi suất chấp nhận được trên thị trường . Chi phí huy động được đánh giá
qua hệ thống các chỉ tiêu lãi suất huy động bình quân (tính bằng bình quân gia quân gia quyền
của lãi suất các nguồn theo khối lượng từng nguồn), lãi suất huy động của từng nguồn và đặc
biệt là lãi suất cạnh tranh NEC.
Mặt khác , cũng với một mức chi phí trả lãi bình quân , sự đa dạng hoá trong lãi suất cho
phù hợp với mỗi hình thức huy động vốn là cần thiết , Sự đa dạng hoá lãi suất làm cho tăng
tính hiệu quả của chính sách lãi suất mà ngân hàng đưa ra . Nếu có chính sách lãi suất phù hợp ,
hiệu quả , ngân hàng sẽ tối thiểu hoá được chi phí trong khi vẫn hoàn thanh kế hoạch về nguồn
vốn .
Nguồn huy động tiền gửi có chi phí thấp hơn nguồn tiền vay. Trong những năm qua,
nguồn tiền gửi có mức tăng trưởng káh cao nhưng vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu cho vay,
đặc biệt là cho vay trung hạn và dài hạn.
Chi phí khác
Bên cạnh chi phí chính là lãi suất , trong quá trình huy động vốn còn có các chi phí khác
như chi phí tiền lương cho cán bộ huy động , chi phí in ấn phát hành , chi phí cơ sở vật chất ,
chi phí giao dịch quảng cáo … Tuy chi phí này chiếm một tỷ trọng tương đối nhỏ nhưng nếu
tiết kiệm được cũng góp phần giảm bớt gánh nặng cho ngân hàng.
3.2.3. Mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn
Nguyễn Đắc Trọng TCDN 49A
14
Báo cáo tổng hợp
Như ở chương 1 đã trình bày, huy động vốn và sử dụng vốn có mối quan hệ mật thiết
với nhau. NHTM không những chỉ huy động thật nhiều vốn với lãi suất thích hợp mà còn phải
tìm kiếm nơi để cho vay và đầu tư cso hiệu quả. Nếu ngân hàng chỉ chú trọng tới huy động vốn
mà không cho vay và đầu tư hết thì sẽ bị ứ đọng vốn và giảm lợi nhuận. Ngược lại, nếu ngân
hàng không huy động đủ vốn để cho vay và đầu tư, ngân hàng sẽ mất cơ hội mở rộng khách
hàng, làm giảm uy tín của mình trên thị trường.
Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
1.Nguồn vốn ngắn hạn 373.203 364.921 406.096
2.Sử dụng vốn ngắn hạn 363.000 431.000 900.000
- Dư nợ cho vay ngắn hạn 363.000 431.000 900.000
3.Phần dư nguồn vốn ngắn hạn 10.203 - 66.079 - 493.904
Nguồn; phòng kế toán – ngân quỹ
Qua phân tích ở trên ta thấy nguồn vốn của ngân hàng phát triển nông thôn chi nhánh
Từ Sơn có tăng nhanh nhưng không đáp ứng yêu cầu vay vốn cho nền kinh tế. Vốn ngắn hạn
huy động của năm 2008 thì thiếu nhưng đến năm 2009 và năm 2010 lại thừa. Năm 2009 nguồn
vốn ngắn hạn giảm 2.2% nhưng sử dụng vốn ngắn hạn lại tăng 18.7% so với năm 2008. Năm
2010 so với năm 2009 nguồn vốn ngắn hạn tăng 11.3% nhưng sử dụng cho vay cũng tăng
l08.9%. Điều này cho thấy vốn ngắn hạn của ngân hàng không đủ để đáp ứng nhu cầu của
khách hàng.
Tóm lại, ngân hàng phát triển nông thôn đã đáp ứng được nguồn vốn trung và dài hạn
tuy nhiên vốn ngắn hạn lại bị thiếu hụt trầm trọng. Điều này cũng có thể là do tình hình khách
hàng của ngân hàng. Tuy nhiên nếu số vốn ngắn hạn của ngân hàng trong tình trạng như vậy
thì sẽ gặp rủi ro trong việc khi khách hàng cần rút tiền đột ngột. Về việc dử dụng vốn thì quy
mo của vay ngắn hạn lớn hơn vay dài và trung hạn.
Mối quan hệ giữa huy động vốn, sử dụng vốn và các loaị rủi ro
Để huy động vốn từ bên ngoài, ngân hàng phải trả lãi. Khi tài trợ, ngân hàng thu lãi.
Như nhiều giá cả hàng hoá khác, lãi suất của các khoản cho vay, gửi tiền và chứng khoán
thường xuyên biến động, có thể làm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng và ngược lại gây tổn
thất cho ngân hàng gây ra các loại rủi ro.
Ở trên, chúng ta đã xem xét mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn trong
ngắn hạn, trung và dài hạn, từ đó đánh giá được phần nào hiệu quả huy động vốn của
ngân hàng. Vì hiệu quả công tác huy động không chỉ ở chỗ có huy động được nhiều hay
không mà còn cả sự hợp lý giữa việc huy động và sử dụng vốn đem lại hiệu quả cao cho
hoạt động ngân hàng.
Nguyễn Đắc Trọng TCDN 49A
16
17
Báo cáo tổng hợp
càng nhiều, tạo điều kiện cho chi nhánh mở rộng tín dụng trung và dài hạn, đáp ứng nhu
cấu vốn của nền kinh tế.
Trong công tác xây dựng và thực hiện chính sách huy động vốn, chi nhánh đã theo
dõi, nắm bắt kịp thời mọi biến động trên thị trường để từ đó điều chỉnh kịp thời lãi suất
huy động đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh.
Phát hành thẻ ATM, tổng số thẻ năm 8.463 thẻ, tăng 2.495 so vơí 2009. Trong đó:
số thẻ phát hành trong năm 2010 có 33 thẻ ghi nợ quốc tế, 63 thẻ tín dụng quốc tế, 154 thẻ
lập nghiệp, 2.245 thẻ ghi nội địa.
Thanh toán quốc tế: Mo 67LC nhập khẩu trị giá 21,29 triệu USD , Thanh toán 56
LC trị giá 17,84 triệu USD. Mua ban ngoai tệ: Doanh số mua ngoai tệ đạt: 14.56 triệu
USD, doanh số bán ngoại tệ đạt 14.60 triệu USD, lãi thu được từ kinh doanh ngoai tệ :
15.32 nghìn USD
b. Những khó khăn:
Mặc dù chi nhánh đã đạt được những kết quả rất đáng mừng, nhưng việc thực hiện
chính sách và công tác huy động vốn tại chi nhánh vẫn còn một số những hạn chế cần
khắc phục.
- Cơ cấu nguồn vốn huy động của chi nhánh còn chưa hợp lý về thời hạn, lãi suất,
nguồn hình thành và đồng tiền huy động được, điều này đã tác động đến nhu cầu sử dụng
vốn của chi nhánh, cơ cấu giữa tài sản nợ và tài sản có chứa nhiều rủi ro.
- Về chi phí huy động vốn, mức chênh lệch lãi suất đầu ra và lãi suất đầu vào của
chi nhánh trong thời gian qua không có sự thay đổi là bao nhiêu. Điều này cần chú ý bởi
nếu không tạo được khoảng cách rộng về chênh lệch thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lợi
nhuận của chi nhánh.
- Nguồn vốn huy động và cho vay tại chi nhánh chỉ mới tập trung ở một lượng
khách hàng nhất định. Do vậy dễ gây rủi ro cho hoạt động của chi nhánh khi mà khách
hàng gặp rủi ro trong kinh doanh.
- Hiệu quả công tác tiếp thị khách hàng còn hạn chế, chưa khai thác được nhiều
khách hàng vừa có nguồn vốn, vừa có nhu cầu thanh toán, vừa có nguồn ngoại tệ, khách
liên quan hầu như chưa hoàn chỉnh do vậy rất khó cho công tác kinh doanh nói chung và
công tác huy động vốn nói riêng của chi nhánh.
Nguyễn Đắc Trọng TCDN 49A
19
Báo cáo tổng hợp
Mặc dù đó co nhiều tiến bộ nhưng hệ thống thanh toán hoạt động vẫn còn thiếu
hiệu quả, còn thiếu các dịch vụ chất lượng cao phù hợp với nhu cầu của khách hàng, kết
quả làm cho vốn của ngân hàng bị trụi nổi trong quá trình thanh toán và gây trở ngại đối
với việc huy động vốn của chi nhánh.
- Nguyên nhân chủ quan
Chính sách huy động vốn của chi nhánh chưa được xây dựng gắn kết với chính
sách sử dụng vốn. Trong các kế hoạch về phương thức hoạt động cũng như trong báo cáo
tổng kết hàng năm của ngân hàng thường tập trung chủ yếu vào các hoạt động tín dụng,
đầu tư, bảo lãnh… các kế hoạch và báo cáo về nguồn vốn thường đơn giản, thiếu các giải
pháp cụ thể. Nói chung, chi nhánh thường chỉ đưa ra các chỉ tiêu về tăng trưởng về sử
dụng vốn mà ít đề cập đến việc huy động các nguồn vốn sao cho thích hợp với từng loại
nhu cầu. Kết quả trong nhiều trường hợp vốn huy động không cho vay và đầu tư được dẫn
đến khả năng sinh lời thấp của chi nhánh.
Phát triển thêm các sản phẩm mới huy động vốn chưa nhiều. Các hình thức huy
động tuy đó đa dạng hóa nhưng chưa thực sự hấp dẫn với khách hàng và bên cạnh đó các
chi nhánh của các ngân hàng thương mại cổ phẩn phát triển mạnh và luôn áp dụng lãi suất
huy động cao hơn. Mặc dù chi nhánh đó áp dụng các đợt phát hành kỳ phiếu, trái phiếu
nhưng lãi suất chưa thực sự linh hoạt. Kỳ phiếu và trái phiếu mới chỉ có lãi suất cố định,
chưa có đảm bảo trượt giá nên hạn chế sức hấp dẫn với người gửi tiền. Sự phát triển của
thị trường đòi hỏi ngân hàng phải cung cấp một danh mục đa dạng các dịch vụ liên quan.
Công nghệ thông tin chưa đáp ứng kịp thời phát triển các nghiệp vụ kinh doanh,
nhất là các phần mềm ứng dụng trong công tác huy động vốn và quản lý luồng vốn vào –
ra hàng ngày. Hiện nay nhu cầu kết nối trực tuyến giữa các doanh nghiệp lớn với ngân
hàng để thực hiện việc thanh toán chuyển tiền rất lớn và vậy ngân hàng phải chủ động xây
dựng các phần mềm đê giúp doanh nghiệp trong thanh toán chuyển tiền nhằm huy động
phục vụ khách hàng, chất lượng dịch vụ mà ngân hàng cung cấp.
- Tiếp tục nâng cấp và trang bị thêm các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động
thanh toán liên ngân hàng…
Nguyễn Đắc Trọng TCDN 49A
21
Báo cáo tổng hợp
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Xuân Thông, 2009, Lịch sử Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Từ Sơn.
2. Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Từ Sơn các năm
2008, 2009, 2010.
Nguyễn Đắc Trọng TCDN 49A
22