TIỂU LUẬN:
Báo Cáo Thực Tập Tổng Hợp
Ngân hàng thương mại cổ phần á
Châu - Chi nhánh Hà Nội
Lời nói đầu
Hoạt động chủ yếu của ngân hàng là huy động và cho vay, trong đó cho vay
chiểm tới hơn 80% hoạt động của ngân hàng.Trên thực tế, hoạt động sản xuất kinh
doanh của bất cứ một doanh nghiệp nào dù là các doanh nghiệp sản xuất hay các doanh
nghiệp dịch vụ thì việc cung ứng đủ nguồn vốn là vô cùng quan trọng.
Đặc biệt, nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế
thị trường và đang có những bước phát triển nhanh chóng, từng bước tham gia vào thị
ACB ) được thành lập theo giấy phép số 0032/NH – GP do ngân hàng nhà nước cấp
ngày 24/04/1993, quyết định số 533/QĐ - UB do UBND Thành Phố Hồ Chí Minh cấp
ngày 13/05/1993 và chính thức đi vào hoạt động kinh doanh ngày 04/06/1993 vvới thời
gian hoạt động là 50 năm.
Khi mới thành lập vốn điều lệ ban đầu của ACB là 20 tỷ đồng và số cổ đông 27 thành
viên.Đến năm 1994, ACB tăng vốn điều lệ lên là 70 tỷ đồng.
Năm 1998 tăng lên 341,428 tỷ đồng và số cổ đông từ 27 thành viên tăng hơn 780 thành
viên.tính đến thời điểm 11/ 2002, ACB có vốn điều lệ cao nhất trong hệ thống ngân
hàng thưuơng mại cổ phần ở Việt Nam.
Đến 28/02/2003, ngân hàng nhà nước cho phép ACB tăng vốn điều lệ từ 341,428 tỷ
đồng lên 423,911 tỷ đồng việt nam.
Hiện nay, ngoài các cổ đông trong nước ACB còn có 3 cổ đông nước ngoài
là :
Connaught Investors Ltd (thuộc tập đoàn Jardine Matheson )
LG Investment &Sercurities Co. Ltd
Dragon Financial Holdings Ltd.
ACB không ngừng mở rộng mạng lưới hoạt động của mình. Tính cho đén nay ngoài hội
sở chính tại 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, TPHCM, ACB đã có 40 chi nhánh từ
Bắc đến Nam, sở giao dịch , phòng giao dịch,các công ty, trung tâm trực thuộc : công ty
chứng khoán ACB, công ty địa ốc ACB, trung tâm thẻ ACB, trung tâm chuyển tiền
nhanh Western Union và hệ thống các kiosbank, trung tâm dịch vụ khách hàng. Hiện nay, ACB đã có 4 trung tâm giao dịch ACB – Western Union và 788 điểm
chi trả tại 61 tỉnh, thành phố và có hơn 3875 đại lý chấp nhận thanh toán thẻ tín dụng
trên cả nước.
Trung tâm thẻ của ngân hàng á Châu ACB được thành lập từ năm 1995 như một
bộ phận chuyên kinh doanh về thẻ trực thuộc hội sở của ngân hàng á Châu ACB. ACB
là ngân hàng thứ hai sau gnân hàng ngoại thương Việt Nam phát hành thẻ tín dụng quốc
tế Visa và Master Card, và là một trong các ngân hàng đầu tiên phát hành thẻ tín dụng
ổi bật là ngân hàng mạnh tại
Việt Nam
T
ờ báo The Asian Wall
Street Joumal
1997
1998
Chứng nhận
Đ
ại lý chuyển tiền tốt nhất trong
khu vực
Cụng ty Western Union
1999 Bài viết Ngân hàng tốt nhất Việt Nam
Tạp chí Global
Finance
Magazine (USA )
2000 Giấp khen
Thực hiện tốt các quy đ
ịnh của
bộ luật lao động trong n
ăm
(1995- 2000)
Uỷ ban nhân dân Q3,
TPHCM
2001 Danh sách
Là m
ột trong 500 ngân hàng
hàng đầu châu á
Trang t
ổng
quan
Là ngân hàng c
ổ phần duy nhất
được đánh giá về độ tín nhiệm
Cơ quan đ
ịnh mức tín
nhiệm Quốc tế Fitch
2002 Giải thưởng
Giải thưởng chất lư
ợng Việt
Nam năm 2002
Hội đ
ồng xét duyệt
quốc gia
2002 Bằng khen
Thành tích kinh doanh
ổn
đ
ịnh,
nâng cao chất lượng hoạt đ
ộng,
chất lư
ợng sản phẩm dịch vụ
trong nhiều năm, đ
ạt giải
thưởng chất lư
ợng Việt Nam
Dương
( APQO )
2003 Bằng khen Đã có nhi
ều thành tích trong
công tác từ thiện từ năm 2000-
2002, góp ph
ần vào sự nghiệp
xây d
ựng Chủ Nghĩa Xã Hội và
bảo vệ Tổ Quốc
Thủ Tướng Chính Phủ
II. Giới thiệu về cơ cấu tổ chức của ngân hàng thương mại cổ phần á Châu –
Chi nhánh Hà Nội
Bộ máy tổ chức và công tác nhân sự tại Chi nhánh ACB - Hà Nội
Ngân hàng á Châu có đầy đủ số lượng thành viên theo quy định của Nhà nước bao
gồm : 10 thành viên hội đồng quản trị, 4 thành viên ban kiểm soát. Ngân hàng ban hành
và thực hiện đầy đủ các qui chế và qui định nội bộ của một ngân hàng thương mại cổ
phần.
Chi nhánh ACB Hà Nội là một chi nhánh lớn của ngân hàng á Châu tại khu vực phía
Bắc. Bộ máy tổ chức của Chi nhánh được thể hiện ở sơ đồ sau :
phận
thẻ
Phòng
Wester
n
Union
Phòng
giao
dịch
Kim
Liên
phòng
giao
dịch
Ngọc
Lâm
Nội
Bài
Đội ngũ nhân viên phòng khách hàng doanh nghiệp tại ACB Hà Nội được đào tạo
nghiệp vụ tốt trước khi đưa vào làm việc. Đồng thời ngân hàng chú trọng nâng cao trình
độ nghiệp vụ trong quá
trình làm việc.
III.Đánh giá khái quát kết qủa hoạt động kinh doanh trong thời gian qua.
1. Một số chỉ tiêu kết quả hoạt động kinh doanh của ACB.
Báo cáo tài chính của ngân hàng á Châu ACB năm 2003 Báo cáo tài chính của ngân hàng á Châu bao gồm 4 báo cáo sau đây :
Bảng cân đối kế toán.
Báo cáo hoạt động kinh doanh.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Thuyết minh báo cáo tài chính.
Tuy nhiên hai báo cáo mà chúng ta quan tâm nhất chính là bảng cân đối kế toán
và báo cáo kết quả kinh doanh.chính vì vậy báo cáo tập trung phân tích hai báo cáo này.
Bảng cân đối kế toán ngày 31 tháng 12 năm 2003
Đơn vị : triệu đồng STT
Chỉ tiêu
4
Ti
ền gửi tại các tổ chức tín dụng trong
nước
6 2.211.484 2.405.910
5 Cho vay các tổ chức tín dụng trong nước
7 43.638 -
6
Cho vay khách hàng
8
5.330.490
3.894.784
7 Đầu tư vào chứng khoán 9 1.794.883 456.237
8 Đầu tư vào các đơn vị khác 10 78.432 82.703
9 Tài sản cố định hữu hìnhTài sản cố đ
ịnh
hữu hỡnh
11 115.889 74.462
10 Tài sản cố định vô hình 12 17.535 20.608
11 Xây dựng cơ b
dụng trong nước
16 644.769 10.724
15 V
ốn nhận từ chính phủ,các tổ chức quốc
tế và các tổ chức khác
17 162.252 98.718
16 Tiền gửi của khách hàng 18 8.969.542 8.297.194
17
N
ợ khác 19 485.484 419.648
18 Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp 31 10.380 13.941
Tổng nợ
10.292.410
8.860.208
V
ốn và các quỹ19 Vốn cổ phần 20 423.911 341,428
20
Các qu
ỹ dự trữ
21
114.756
Chúng ta thấy rằng, tài sản của ngân hàng tăng 1515141 triệu đồng trong đó
khách hàng vay tăng 1435706 triệu đồng, chiếm hơn 95% tiền gửi của khách hàng vào
ngân hàng, so với năm 2002 tiền gửi của khách hàng tăng lên 672348 triệu đồng trong
năm 2003. Nếu xét về tỷ lệ tiền gửi khách hàng / tổng nợ thì năm 2002 là 94% còn năm
2003 là 87%. Điều này cho thấy các khoản nợ của ngân hàng tăng lên chủ yếu là các
khoản khách hàng gửi vào ngân hàng tăng, vì vậy các khoản nợ là lành mạnh, phản ánh
hiệu quả hoạt động của ngân hàng á Châu.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cho năm kết thúc ngày 31 tháng 12 năm
2003
Đơn vị : Triệu đồng STT
Chỉ tiêu Ghi chú
Năm
2003
Năm
2002
1 Thu nhập lãi
23 668.568 509.284
2
Chi phí lãi 24
( 408.995
)
( 277.942)
(44.457)
(31.232)
9 chi phí khấu hao (15.508) (12.024)
10chi phí ho
ạt
đ
ộng khác
29
(83.508)
(79.511)
Chi phí ngoài lãi
(143.473)
(122.767)
11
chi phí d
ự phòng rủi ro tín dụng
74,09
82,59
107,68
1
64,65
188,40
Tốc độ tăng lợi nhuận (%) 100,37 111,47 130,38 152,91 114,43
Tỷ lệ lãi trước thuế /
Vốn điều lệ (%)
21,70
24,10
31,50
48,20
44,44
Tổng vốn huy động của ngân hàng
Tiền gửi khách hàng là một trong những chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động cũng
như sự tín nhiệm của khách hàng dành cho ngân hàng á Châu. Tổng tiền gửi khách hàng
tại ngân hàng không ngừng tăng lên, đặc biệt từ năm 1999 đến năm 2003
Hoạt động ngân hàng là một lĩnh vực hoạt động yêu cầu những trang thiết bị và công
nghệ tiên tiến và hiện đại, có như vậy thì chất lượng các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp
cũng như công tác quản trị mới đảm bảo tính hiệu quả. Nhận thức được vấn đề trên,
trong những năm quan ngân hàng á Châu ACB đã không ngừng chú trọng vào việc
trang bị và ứng dụng công nghệ mới vào trong hoạt động của mình.
Hầu hết tất cả bàn làm việc tại Chi nhánh ACB - Hà Nội đều được trang bị máy tính
cá nhân nằm trong mạng diện rộng dùng riêng (private WAN) và được nối mạng
Internet. Điều này giúp cho các nhân viên trong Chi nhánh có thể trao đổi dữ liệu một
cách nhanh chóng với nhau, với mọi Chi nhánh khác và với Hội sở của ngân hàng. Như
vậy, ngân hàng ACB chuyển từ một hệ thống các đơn vị phân tán ( các Chi nhánh hoạt
động tương đối độc lập) sang một hệ thống tập trung thống nhất, thống nhất về thông
tin, thống nhất về dữ liệu và điều quan trọng nhất là thống nhất trong phương thức phục
vụ khách hàng.
Ngân hàng ACB đã tập trung hóa cơ sở dữ liệu hoạt động ngân hàng, toàn bộ dữ liệu
hoạt động của ngân hàng được tập trung tại cơ sở dữ liệu trung tâm, mọi thay đổi đều
được cập nhật trực tuyến và tức thời. Với cơ sở dữ liệu tập trung này không chỉ giúp cho
hoạt động quản trị tại ngân hàng, phòng ngừa được rủi ro mà còn cho phép nắm được
chính xác số dư của mọi tài khoản, cũng như cho phép giao dịch tài khoản được thực
hiện tại bất cứ đâu.
Nhằm nâng cao chất lượng các dịch vụ, đồng thời quảng bá hình ảnh của mình, ngân
hàng á Châu đã xây dựng website để cung cấp thông tin cho từng chủ tài khoản. Chăm
sóc khách hàng làm phương châm hành động của doanh nghiệp, nó là điều kiện sống
còn của ngân hàng, chính vì vậy, ngân hàng á Châu đã đưa vào sử dụng hệ thống
Phone- Banking; Internet-Banking và Mobile-Banking. Đây là những hệ thống cho phép
khách hàng có thể kiểm tra số dư tài khoản, các giao dịch của mình thông qua mạng
điện thoại cố định, mạng Internet và tin nhắn.
Ngân hàng á Châu đang cố gắng chuẩn bị những tiền đề quan trọng để ngân hàng có
đ
ịnh
70
70
70
70
Vốn pháp điều lệ thực
có
70 341 424 557
Đơn vị: Tỷ đồng
Ngân hàng á Châu tuân thủ quy định của nhà nước là không dùng vốn điều lệ để mua cổ
phiếu, hùn vốn với cổ đông, mua sắm tài sản cố định không vượt quá 50% vốn điều lệ
và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ. Là một ngân hàng thương mại cổ phần, ACB luôn
tuân thủ quy định về cổ đông, cổ phần và cổ phiếu.
Theo quy định của ngân hàng nhà nước Việt Nam mọi ngân hàng phải duy trì hệ số an
toàn vốn trên 8% thì ngân hàn á Châu luôn đảm bảo hệ số này. 1999
2000
Đứng trước vấn đề đó thì ngân hàng thương mại cổ phần á Châu đã đưa ra
phương hướng để mở rộng khả năng cho vay đối với doanh nghiệp,tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn của ngân hàng. Kết luận.
Hoạt động ngân hàng chính là một trong những hoạt động chủ yếu nhất của nền
kinh tế, góp phần thúc đẩy nhiều hoạt động khác của nền kinh tế phát triển.
Tại Việt Nam,hoạt động ngân hàng đã và đang có những bước phát triển đáp
ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nền kinh tế thị trường, đồng thời tích cực tham gia
vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Cùng với xu hế hội nhập đó, các doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ cũng ngày càng phát triển.Nhưng để cạnh tranh và đúng vững được
trên thương trường thì bản thân các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến và mở
rộng sản xuất kinh doanh nhằm tăng khả năng cạnh tranh và tạo ra lợi nhuận lớn. Vì vậy
họ luôn coi ngân hàng là đối tác quan trọng bậc nhất của mình,mặt khác ngân hàng cũng
coi doanh nghiệp là khách hàng lớn nhất của mình và là nguồn thu mang lại lợi nhuận
chính cho ngân hàng.Do đó, sự tồn tại và thịnh vượng của doanh nghiệp cũng chính là
sự tồn tại và thịnh vượng của ngân hàng.
Nhưng sự hạn chế trong cho vay đối với các doanh nghiệp của các ngân hàng đã
làm cho doanh nghiệp gặp không ít khó khăn về tài chính.
Vì vậy, bản thân ngân hàng ACB nói riêng họ nhận thấy là cần phải đẩy mạnh khả năng
cho vay đối với các doanh nghiệp.Do đó, việc tìm kiếm giải pháp để mở rộng khả năng
cho vay đối với các doanh nghiệp là rất quan trọng và cần thiết