BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP
. HỒ CHÍ MINH
---------------------------------
Lê Thị Yến Anh
QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM
VỚI CÁC NƯỚC BẮC ÂU
(1969 – 2005) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số : 60 22 54 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGÔ MINH OANH
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI trong xu thế chung của thế giới là hòa bình, hữu nghị, hợp tác
với nhau cũng diễn ra nhiều mâu thuẩn khó có thể nói hết được, các nước lớn vừa
hợp tác nhưng lại vừa mâu thuẩn cạnh tranh với nhau. Điểm nổi bật của xu thế
toàn cầu hóa đặc biệt là toàn cầu hóa kinh tế đã làm cho nền kinh tế trên toàn thế
giới giống như một chỉnh thể mà trong đó nền kinh tế của mỗi quốc gia lại là một
bộ phận có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau. Tuy tham gia vào quá
trình toàn cầu hóa nhưng mỗi một quốc gia đều hoàn toàn độc lập về chính trị, xã
hội, đồng t
hời quá trình toàn cầu hóa cũng đem lại những tính chất phức tạp ảnh
hưởng nhiều đến tình hình an ninh chính trị, kinh tế của thế giới hiện nay.
Về phía Việt Nam, chủ trương đổi mới của nước t
a đã nhanh chóng được
thực hiện trong đó có mở rộng chính sách đối ngoại với các nước trên thế giới.
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ “nhiệm vụ ổn
định và phát triển kinh tế trong chặng đường đầu tiên cũng như sự nghiệp phát
triển khoa học – kỹ thuật và công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa của nước ta tiến
hành nhanh hay chậm điều đó phụ thuộc một phần quan trọng vào việc mở rộng
và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại” [25, tr 81].
Đảng và nhà nước Việt Nam đổi mới nhiều chủ trương chính sách và các
phương thức hoạt động trên lĩnh vực đối ngoại để tăng cường mối quan hệ hợp
tác hữu nghị giữa các nước, Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam
một lần
nữa đã xác định quyết tâm muốn mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các
nước trên thế giới, từng bước hội nhập vào xu thế chung của khu vực và quốc tế,
là bạn của tất cả các nước nhằm mục đích học hỏi kinh nghiệm, trao đổi hợp tác
trên nhiều lĩnh vực. Đại hội Đảng lần IX
đã xác định nhiệm vụ: “thực hiện nhất
quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng, chính sách đa phương hóa, đa
dạng hóa các quan hệ quốc tế, Việt Nam sẳn sàng làm bạn và là đối tác tin cậy
của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế ” [ 28, tr 42 ].
ngoài, học hỏi kinh nghiệm q
uản lý, kỹ thuật công nghệ, thị trường… từ các
nước Bắc Âu để đưa Việt Nam vượt qua tình trạng lạc hậu kéo dài trong nhiều
năm tiến tới việc chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hóa hiện đại hóa.
Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước Bắc Âu không
chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn đáp ứng những nhu cầu thực tiển của đất
nước hiện nay, những kết quả nghiên cứu sẽ giúp chúng ta có được những bài
học kinh nghiệm, tìm được những thuận lợi và khó khăn trong mối quan hệ giữa
hai bên đồng t
hời trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp, những chính sách phù
hợp để phát huy mối quan hệ hợp tác ngày càng có hiệu quả hơn.
Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước Bắc Âu từ trước
đến nay chưa được các nhà khoa học Lịch sử Việt Nam nghiên cứu. Quá trình
phát triển của Việt Nam trong tương lai đòi hỏi cần phải tiếp cận đến những vấn
đề hội nhập quốc tế và khu vực m
ang nhiều lợi ích cho đất nước một cách khách
quan nhất.
Từ những ý nghĩa khoa học và thực tiển trên chúng tôi quyết định chọn đề
tài “Quan hệ giữa Việt Nam với các nước Bắc Âu (1969 -2005)” với mong
muốn khái quát, tổng hợp lại mối quan hệ này. Từ đó đưa ra những nhận định về
quá trình phát triển hợp tác giữa Việt Nam
với các nước Bắc Âu trên cơ sở tác
động của tình hình thế giới, khu vực và sự phát triển nội tại của Việt Nam trong
những thời điểm khác nhau.
2. Lịch sử vấn đề
Theo hiểu biết của chúng tôi đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào
nghiên cứu cụ thể về mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước Bắc Âu, chỉ có
một số sách đã xuất bản đề cập đến vấn đề này chủ yếu t
Đỗ Thị Lan Phương, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 1 năm 2000; “Đan Mạch -
Một đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam” của Vũ Chiến Thắng, Tạp chí
Nghiên cứu Châu Âu, số 49 năm
2003; “Việt Nam – Đan Mạch: hỗ trợ trên cơ sở
bình đẳng” của Hồng Phúc, Tuần báo quốc tế, số 12 năm 1996; “Việt Nam -Thụy
Điển: Quan hệ hợp tác quốc tế không ngừng phát triển” của Đỗ Lan Phương, Tạp
chí Nghiên cứu Châu Âu, số 3 năm 2000. Ngoài ra còn có một số bài viết khác
được lồng ghép chung với mối quan hệ của EU và thế giới như: “Toàn cầu hóa
kinh tế - một số tác động tới quá trình liên kết kinh tế EU – ASEAN” của tiến sĩ
Nguyễn An Hà, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 20 năm 2003; “Thúc đẩy quan
hệ kinh tế EU –ASEAN: cơ hội phát triển cho các nước thành viên mới của
ASEAN” của Hoàng Xuân Hòa, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 50 năm 2003;
“Thực trạng và triển vọng hợp tác đầu tư Việt Nam – EU” của Nguyễn Duy
Quang, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 1 năm
2000; “Vai trò của Liên minh
Châu Âu đối với sự phát triển thương mại Việt Nam” của Hoàng Xuân Hòa, Tạp
chí Nghiên cứu Châu Âu, số 2 năm 2000; “Quan hệ Việt Nam – Liên minh Châu
Âu từ 1995 tới nay”, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 6 năm 2001; “Tổng quan
về hợp tác Việt Nam – EU năm 2000”, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 2 năm
2002; “Quan hệ hợp tác Việt Nam với EU về lĩnh vực dầu khí và du lịch” của Vũ
Văn Phúc, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 2 năm 2002; “Quan hệ kinh tế Việt
Nam với Liên minh Châu Âu” của Trần Văn Chu, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu
,
số 6 năm 2002; “Đổi mới chính sách đối ngoại nhằm phát triển hợp tác Việt Nam
– Châu Âu trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao” của Nguyễn Hoàng Giáp, Tạp chí
Nghiên cứu Châu Âu, số 54 năm 2003; “Tiến trình hợp tác Á –Âu và sự tham
gia của Việt Nam” của Nguyễn Quang Thuấn, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số
59 năm 2004; “Việt Nam trong tiến trình ASEM: cơ hội và thách thức” của
Nguyễn Quang Thuấn, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 61 năm
), Đại sứ quán Na Uy
(www.norway.org.vn
), Đại sứ quán Phần Lan ( www.finland.org.vn/en/ ), Đại sứ
quán Đan Mạch ( www.dk-vn.dk
), Tổ chức hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển
(SIDA) (www.Sida.moci.gov.vn
), Chương trình hợp tác nghiên cứu Việt Nam -
Thụy Điển (www.sarec.gov.vn)
...
Nhìn chung tài liệu này tương đối nhiều nhưng không hệ thống và khái
quát các vấn đề về quan hệ giữa Việt Nam với các nước Bắc Âu, các số liệu trích
dẫn từ nhiều nguồn có sự chênh lệch nhau, không nhất quán đã gây không ít khó
khăn trong quá trình tổng hợp và phân loại tài liệu của người thực hiện đề tài.
3. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi dựa trên những quan điểm của
chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng hai phương phá
p
chuyên ngành là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Đồng thời chúng tôi
cũng vận dụng cơ sở phương pháp luận, các phương pháp liên ngành khác như
phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, phương pháp nghiên cứu kinh tế… và
các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, thống kê.
Dựa vào phương pháp lịch sử chúng tôi muốn dựng lại toàn bộ quá trình
lịch sử trong mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước Bắc Âu qua các sự kiện,
dấu mốc và từng giai đoạn cụ thể của mối quan hệ dưới sự tác động của tình hình
thế giới, khu vực và tình hình phát triển của Việt Nam. Trên
cơ sở của bức tranh
lịch sử toàn cảnh, phương pháp logic vạch ra những bản chất của mối quan hệ
giữa Việt Nam với các nước Bắc Âu nhằm tìm ra được những thuận lợi, những
khó khăn trong mối quan hệ hợp tác giữa các bên và tìm ra những giải pháp thúc
bên bị chi phối bởi trật tự hai cực Ianta, quan hệ quốc tế trên thế giới lúc này
được tuân theo chuẩn mực cùng nhau hay khác nhau về ý thức hệ. Ngoài ra,
trong chính sách đối ngoại của các nước Bắc Âu đều thực hiện chính sách đối
ngoại trung lập, không liên kết quân sự vì thế giữa Việt Nam với các nước Bắc
Âu chưa thiết lập được quan hệ chính thức nào.
Năm 1954 được chúng tôi chọn làm mốc khởi đầu cho việc nghiên cứu
mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước Bắc Âu trước khi hai bên thiết lập quan
hệ ngoại giao vì trong thời gian này mặc dù thực hiện chính sách đối ngoại trung
lập nhưng các nước Bắc Âu vẫn m
uốn giữ cân bằng trong quan hệ với các nước
lớn. Từ năm 1954 từng nước Bắc Âu đã thiết lập mối quan hệ song phương với
chính quyền miền Nam
Việt Nam. Sau khi nhận thấy nguy cơ sa lầy và thất bại
của Mĩ, cùng với các phong trào đấu tranh của nhân dân yêu chuộng hoà bình thế
giới phát triển mạnh, nên năm 1969 Thụy Điển là nước Bắc Âu đầu tiên thiết lập
quan hệ ngoại giao với chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước Bắc Âu (Na
Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch) trong điều kiện tình hì
nh thế giới và khu
vực có nhiều biến động do đó những chính sách, biện pháp trong các chính sách
đối ngoại của chính phủ Việt Nam phải phù hợp với tình hình chung của thế giới.
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở lấy Việt Nam làm chủ thể nghiên cứu chính
trong mối quan hệ giữa các bên.
5. Đóng góp của luận văn
- Trên cơ sở phân tích, so sánh các tài liệu thu thập được, chúng tôi cố
gắng hệ thống lại hoàn chỉnh mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước Bắc Âu
trên nhiều lĩnh vực hợp tác từ năm 1969 đến năm 2005 với những thuận lợi lẫn
khó khăn.
1.1.1. Đôi nét về các nước Bắc Âu
Khu vực Bắc Âu gồm ba nước nằm trên bán đảo Scandinavia (Na Uy,
Thụy Điển, Phần Lan) và hai nước Aixơlen, Đan Mạch. Khu vực Bắc Âu nằm ở
các vĩ độ cao nhất của châu Âu, có địa hình băng hà cổ, khu vực Bắc Âu có diện
tích khoảng 1.258.423 km
2
trong đó Thụy Điển là quốc gia có diện tích lớn nhất
(449.964 km
2
) phần lớn diện tích ở đây nằm trong vùng khí hậu ôn đới lục địa,
lạnh. Mặc dù, Bắc Âu có những đặc điểm khí hậu chung giống nhau như giá rét
vào mùa đông và mát mẻ vào mùa hạ. Tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt về khí hậu
giữa các nước trong khu vực nhất là hai bên dãy núi Scandinavia, Thụy Điển,
Phần Lan nằm ở phía đông nên có mùa đông rất lạnh, tuyết rơi vào khoảng tháng
10 trong năm, còn Na Uy nằm ở phía tây nên có khí hậu ấm hơn, m
ùa đông
không lạnh lắm, mùa hạ mát và mưa nhiều. Đa số cư dân ở Bắc Âu có mức sống
cao, nền kinh tế ở đây phát triển nhanh chóng nhờ biết khai thác hợp lý những
nguồn tài nguyên thiên nhiên sẳn có để phát triển. Nguồn tài nguyên quan trọng
ở Bắc Âu là dầu mỏ, rừng, quặng sắt, đồng, uranium, nguồn thuỷ năng, cá
biển…trong đó nguồn thuỷ điện được xem l
à lợi thế lớn ở Bắc Âu, do có nguồn
thuỷ điện dồi dào và rẻ nên thuận lợi cho công nghiệp phát triển.
Nói đến Bắc Âu là nói đến kinh tế biển, kinh tế biển giữ vai trò quan trọng
và là nguồn thu ngoại tệ lớn của mỗi nước ở khu vực này, ngoài kinh tế biển các
nước Bắc Âu còn phát triển các ngành công nghiệp khai thác dầu khí, công
nghiệp khai thác rừng, sản xuất đồ gỗ, giấy…
Các nước trong khu
vực Bắc Âu có mối quan hệ lịch sử gắn kết lẫn nhau,
năm 1370 các nước Bắc Âu liên minh với nhau thành lập ra Liên minh Kalmar
quốc gia có diện tích vào loại nhỏ nhất ở Châu Âu nhưng Đan Mạch lại có mật
độ dân cư khá lớn khoảng 121 người/km
2
, Đan Mạch có bờ biển dài khoảng
7.300 km, lãnh thổ Đan Mạch là một vùng đất thấp hơn mực nước biển nơi cao
nhất cũng chỉ cao 178m. Nằm ở bán đảo Scandinavia Đan Mạch có một vị trí
quan trọng trong việc thông thương buôn bán giữa các nước trên bán đảo
Scandinavia và một phần còn lại của Châu Âu.
Khí hậu của đất nước Đan Mạch tương đối ôn hòa do có dòng hải lưu nóng
Gulf Stream chảy qua đất nước vì thế nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng
7,9
0
C, trong đó lạnh nhất là tháng 2 với nhiệt độ trung bình – 4
0
C, tháng 7 là
tháng nóng nhất với nhiệt độ trung bình khoảng 16,6
0
C.
Đan Mạch theo thể chế quân chủ lập hiến, đứng đầu nhà nước hiện nay là
Nữ hoàng Margrethe II (nữ hoàng Margrethe II sinh vào ngày 16/4/1940, năm
1967 bà kết hôn với bá tước người Pháp Henri de Laborde de Monpezat, ngày 14
tháng 1 năm 1972 bà lên ngôi nữ hoàng thay cho vua cha là Frederik IX cai trị
vương quốc Đan Mạch). Thủ tướng Đan Mạch hiện nay là Anders Fogh
Rasmussen thuộc Đảng Tự do. Chính phủ Đan Mạch là một cơ quan hành pháp,
Nữ hoàng chỉ định Thủ tướng, Thủ tướng là người điều hành các thành viên
trong chí
nh phủ và các thành viên trong chính phủ nội các do Thủ tướng lập ra
phải được Nữ hoàng chấp thuận.
Đan Mạch là nước có rất ít tài nguyên khoáng sản, ở Đan Mạch nguồn tài
Phần Lan nằm trên bán đảo Scandinavia ở khu vực Bắc Âu, phía tây giáp
với Thụy Điển, phía đông và đông nam giáp với Nga, phía bắc giáp với Na Uy
và phía nam giáp Estonia qua vịnh Phần Lan. Gần 1/3 lãnh thổ của Phần Lan
nằm ở phía vành đai Bắc cực, hồ chiếm
1/10 diện tích của Phần Lan với tổng số
khoảng 50.000 hồ trong đó có hồ Saimaa là hồ lớn nhất với diện tích 4.400 km
2
.
Vịnh Bothnia ở phía tây và vịnh Phần Lan ở phía nam vào mùa đông thường
đóng băng các cảng phải sử dụng máy phá băng để tàu thuyền thuận lợi lưu
thông, đất đai ở Phần Lan đa phần là đất băng giá từ khu vực phía tây bắc có núi
cao với đỉnh lên đến 1.342 m còn phần lớn diện tích còn lại là vùng đất thấp hơn
mực nước biển.
Phần Lan có mùa hè ấm, mùa đông rất lạnh và kéo dài nhất là ở phía Bắc.
Do nằm ở gần Bắc cực nhưng có dòng hải lưu nóng Gulf Stream chảy qua lãnh
thổ nên nhiệt độ ở Phần Lan cao hơn hẳn so với các nước khác trên cùng vĩ
tuyến, ở Phần Lan khí hậu có sự khác biệt rõ rệt giữa mùa đông và mùa hè, ở thủ
đô Helsinki nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 5,3
o
C vào ban ngày nhiệt độ
cao nhất ở miền nam Phần Lan đôi lúc lên đến 30
o
C nhưng vào mùa đông tháng
1, tháng 2 nhiệt độ thường xuộng dưới – 20
o
C. Ở phía cực bắc của Phần Lan ở
dưới vùng Bắc cực khi vào mùa hè có lúc mặt trời không lặn trong thời gian rất
lâu khoảng 73 ngày, người ta còn gọi là những ngày “hè đêm trắng” còn vào mùa
đông ở vùng Bắc cực của Phần Lan một mùa đông lạnh và kéo dài mặt trời
kinh tế Châu Âu (E
EC), Phần Lan gia nhập Liên minh Châu Âu năm 1995 và
EMU từ ngày 1 tháng 1 năm 1999. Ngoài ra, Phần Lan còn là thành viên của Tổ
chức quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và nhiều ngân hàng trên thế giới, Phần Lan là
quốc gia duy nhất ở Bắc Âu tham gia đồng tiền chung Euro bắt đầu vào năm
1999.
Trong chính sách đối ngoại của mình Phần Lan luôn coi trọng chính sách
viện trợ và hợp tác phát triển và coi đây là một phần quan trọng trong chính sách
đối ngoại của m
ình, thông qua những viện trợ phát triển của mình Phần Lan
mong muốn hỗ trợ các nước nghèo cải thiện điều kiện kinh tế xã hội và thông
qua đó Phần Lan muốn tăng cường khả năng thu hút đầu tư, thương mại của các
nước này nhằm mục đích từng bước xóa bỏ tình trạng nghèo đói trên thế giới.
Vương quốc Na Uy
Na Uy nằm ở phía tây của Scandinavia với bờ biển lởm chởm bị chia cắt
bởi nhiều vịnh hẹp và khoảng 50.000 hòn đảo t
rải dài hơn 2500 km, Na Uy có
biên giới đường bộ ở phía đông chung với Thụy Điển, Phần Lan, Nga. Diện tích
lãnh thổ của Na Uy lớn hơn Đức nhưng phần lớn lãnh thổ của Na Uy là núi non
ngoài ra còn có nhiều sông băng và thác nước. Na Uy có diện tích 385.156 km
2
trong đó đất đai ở chính quốc có diện tích 323.759 km
2
, phần còn lại là quần đảo
Svalbard giáp với đảo Greenland thuộc Đan Mạch có diện tích là 61.020 km
2
và
đảo Jan Mayen có diện tích 377 km
2
.
lập hạn chế” sang liên minh quân sự, gia nhập vào Liên minh quân sự Bắc Đại
Tây Dương (NATO) nhằm đảm bảo an ninh, quốc phòng cho Na Uy. Na Uy chủ
trương gia nhập vào liên minh Châu Âu (EU) giống như các nước Bắc Âu khác
nhưng chưa được đa số người dân Na Uy đồng ý mặc dù chưa gia nhập EU
nhưng Na Uy vẫn quan hệ kinh tế thương mại hợp tác với các nước thành viên
EU, quan hệ hợp tác với các nước Bắc Âu khác thông qua Hội đồng Bắc Âu,
ngoài ra Na Uy còn đẩy mạnh hợp tác tiểu vùng với các nước xung quanh biển
Baltic.
Vương quốc Thụy Điển
Thụy Điển nằm ở phí
a đông bán đảo Scandinavia, giáp với Na Uy, Phần
Lan, vịnh Bôtnhia và biển Bantich. Thụy Điển có điểm thấp nhất so với mực
nước biển là 2,4m ở Schonen trãi dài từ phía bắc của Schonen là cao nguyên nam
Thụy Điển, vùng đất này có nhiều đồi núi với nhiều hồ, còn ở miền trung của
Thụy Điển là một vùng đất bằng phẳng nhưng bị chia cắt bởi các đồng bằng lớn,
đồi núi, vịnh hẹp và các hồ. Khí hậu Thụy Điển tương đối ôn hòa do nằm ở gần
Đại Tây Dương với dòng hải lưu Gulf Stream
ấm áp, Thụy Điển có khí hậu ẩm
mưa nhiều, nhiệt độ ít thay đổi giữa mùa đông và mùa hè, mùa đông lạnh và dài
còn mùa hè ấm.
Thụy Điển theo chế độ quân chủ lập hiến,Vua (Carl XVI Gusstaf sinh
ngày 30/4/1946 lên ngôi năm 1973) không có quyền lực chính trị Vua chỉ tham
gia vào các hoạt động mang tính lễ nghi như khai mạc quốc hội hàng năm, chủ trì
hội đồng cố vấn đối ngoại hoặc nhận thư ủy nhiệm của các đại sứ từ các nước
đến nhận nhiệm sở tại Thụy Điển. Quyền lực thuộc về quốc hội và chính phủ.
Thụy Điển có nền công nghiệp phát triển cao, ở Thụy Điển có các ngành
kinh tế chính gồm
công nghiệp chế tạo (chế tạo ô tô hoặc động cơ máy bay) công
nghiệp, thủ công nghiệp trong đó chú trọng đền những xưởng sản xuất
công
nghiệp nhẹ, sản xuất những mặt hàng nhu yếu phẩm phục vụ cho nhu cầu đời
sống của nhân dân. Năm 1954 ở miền Nam để phá hoại hiệp định Giơnevơ Mĩ đã
dựng lên một chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, tháng 9 năm 1954 Mĩ quyết
định viện trợ cho chính phủ Ngô Đình Diệm ở miền Nam và cử tướng L.Colins
sang Việt Nam làm đại sứ ở Sài Gòn, để xây dựng chính quyền thân Mĩ vững
mạnh ở miền Nam ngăn chặn sự lan rộng của phong trào cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc Ngô Đình Diệm ra sức xây dựng chính quyền mới ở miền Nam
Việt Nam thành một quốc gia vững mạnh với đạo quân cảnh sát và đạo quân sen
đầm, Mĩ giúp đỡ chính quyền Sài Gòn xây dựng một đội quân thiện chiến được
trang bị vũ khí tương đối hiện đại và được sự huấn luyện cũng như điều khiển
trực tiếp từ các cố vấn quân sự Mĩ ở Sài Gòn.
Trong giai
đoạn năm 1954 -1968 chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa
ở miền Bắc vừa chú trọng khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm mục
đích lớn nhất tiến tới thống nhất nước nhà, để phục vụ cho nhiệm vụ chiến lược
xây dựng chủ nghĩa x
ã hội ở miền Bắc Đảng và nhân dân miền Bắc đã tăng
cường mối quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, tăng cường đoàn kết với các
phong trào cách mạng thế giới, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
1.1.2.1. Quan hệ giữa Việt Nam cộng hòa với
các nước Bắc Âu (1954 – 1968)
Mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước Bắc Âu trong giai đoạn này chủ
yếu được thiết lập trên cơ sở mối quan hệ giữa chính quyền của Ngô Đình Diệm
với chính phủ các nước Bắc Âu, do bị chi phối của trật tự hai cực Ianta nên mối
quan hệ này được quyết định trên ý thức hệ cùng nhau hoặc khác nhau về ý thức
hệ, trong đường lối chính sách đối n
goại của mình các nước Bắc Âu luôn theo
đến thăm,
lúc 11 giờ ngày 14 tháng 2 năm 1958 tại phòng khánh tiết của Dinh Độc Lập
tổng thống Việt Nam cộng hòa và bộ trưởng ngoại giao đã có buổi tiếp kiến với
đặc sứ Đan Mạch Gunnar Seidenfaden đến trình ủy nhiệm thư lên tổng thống đi
cùng với ngài đặc sứ Đan Mạch còn có ông lãnh sự Đan Mạch Arne Smidt [75].
Mối quan hệ song phương giữa Việt Nam cộng hòa với các nước Bắc Âu
trong giai
đoạn 1954 -1968 được thắt chặt hơn dựa trên cơ sở mối quan hệ gắn bó
lâu dài giữa các nước Bắc Âu với Mĩ. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Việt Nam
cộng hòa với các nước Bắc Âu chỉ được thiết lập về mặt chính trị còn quan hệ
hợp tác kinh tế thì vẫn chưa xuất hiện.
1.1.2.2. Quan hệ giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa với các nước Bắc Âu
(1954 – 1968)
Từ năm 1960 trở đi khi Mĩ đã đưa vào chiến trường miền Nam Việt Nam
một số lượng lớn lực lượng cố vấn quân sự Mĩ, tăng cường trang bị cho quân đội
Sài Gòn nhiều trang thiết bị vũ khí hiện đại như máy bay, xe bọc thép, vũ khí,
phát động “chiến tranh đặc biệt” với hình thức một cuộc chiến tranh mới,
Mĩ còn
mở rộng chiến tranh ra toàn bộ chiến trường Việt Nam với cuộc “chiến tranh cục
bộ” Mĩ coi miền Nam Việt Nam là điểm chốt cuối cùng ngăn chặn sự lan rộng
của chủ nghĩa cộng sản ra cả khu vực Đông Nam Á. Nhận thấy Mĩ đang có nguy
cơ sa lầy ở chiến trường Việt Nam đồng thời trong thời gian này nhân dân t
oàn
thế giới đã đẩy nhanh các hoạt động đấu tranh trong đó có các phong trào đấu
tranh của nhân dân tiến bộ thế giới ngăn chặn nguy cơ chiến tranh, bảo vệ hòa
bình. Các cuộc đấu tranh ủng hộ cho cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân
Việt Nam không chỉ diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa mà nó còn được sự
hưởng ứng của những tầng lớp trẻ tuổi ở một số nước tư bản phát triển như Pháp,
Canad
Thanh niên, Sinh viên, Phụ nữ, Hội hữu nghị …cũng rất tích cực và tham gia các
hoạt động ủng hộ Việt Nam [14, tr 383]. Nhân dân Việt Nam không thể nào quên
hình ảnh của ông Olof Palme sau này là Thủ tướng của Thụy Điển ông đã tham
gia cùng với nhân dân Thụy Điển xuống đường rước đuốc phản đối cuộc chiến
tranh xâm lược Việt N
am của chính phủ Mĩ vào năm 1968.
1.2. Quan hệ giữa Việt Nam với các nước Bắc Âu từ năm 1969 đến năm 1975
1.2.1. Quan hệ giữa chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà với các nước
Bắc Âu từ năm 1969 đến năm 1975
Giai đoạn 1969 -1975 mối quan hệ giữa Việt Nam
với các nước Bắc Âu
diễn ra song song giữa chính quyền Việt Nam cộng hòa ở miền Nam Việt Nam
và chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Hoạt động ngoại giao của chính quyền
cách mạng Việt Nam trở nên phong phú và đa dạng hơn, hai hoạt động ngoại
giao song song giữa chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ cách
mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam với các nước Bắc Âu diễn ra đồng