Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế, là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế. Hàng
triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội điều gửi
tiền tại ngân hàng. Ngân hàng đóng vai trò người thủ quỹ cho toàn xã hội. Thu
nhập từ ngân hàng là thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình. Ngân hàng là tổ
chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần
đối với đất nước. Đối với doanh nghiệp, ngân hàng thường là tổ chức cung cấp tín
dụng để phục vụ cho việc mua hàng hoá dự trữ hoặc xây dựng nhà máy, mua sắm
trang thiết bị. Các khoản tín dụng của ngân hàng cho Chính phủ là nguồn tài
chính quan trọng để đầu tư phát triển. Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh
tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ, vì vậy là công cụ quan trọng trong chính sách
kinh tế của Chính phủ nhằm phát triển kinh tế bền vững.
Trong hoạt động của ngân hàng thì tín dụng là một lĩnh vực quan trọng.
Quan hệ tín dụng quyết định mọi hoạt động kinh tế trong nền kinh tế quốc dân và
nó còn là nguồn sinh lợi chủ yếu, quyết định sự tồn tại, phát triển của ngân hàng.
Nghiệp vụ tín dụng không chỉ có ý nghĩa với nền kinh tế mà nó còn có ý nghĩa
quan trọng, quyết định đối với sự tồn tại và phát triểm của ngân hàng. Chính vì
vậy, việc nâng cao chất lượng tín dụng là vấn đề quan trọng và cần thiết với bất
kỳ một ngân hàng thương mại nào để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mình
trong một môi trường cạnh tranh hết sức gay gắt và quyết liệt như hiện nay.
Chính vì nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, trong quá trình thực
tập tại Phòng giao dịch Phú Xuân - Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn huyện Bảo Thắng, Lào Cai, em đã lựa chọn đề tài: "Nâng cao
chất lượng tín dụng tại Phòng giao dịch Phú Xuân - Chi nhánh Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thông huyện Bảo Thắng, Lào Cai" làm nội
dung nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Trần Thị Thanh Huyền Tài chính A - K39
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm
Ngân hàng thương mại được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở các nước
trên thế giới. Ở một số nước thì khái niệm này dùng để chỉ một số tổ chức tài
chính tiền tệ mà hoạt động kinh doanh chủ yếu của nó là nhận tiền gửi từ các cá
nhân hay tổ chức kinh tế rồi lại để cho các tổ chức này vay lại. Các ngân hàng
không được phép kinh doanh tổng hợp các dịch vụ khác như đầu tư tài chính,
cung cấp dịch vụ cho các nhóm ngành riêng biệt. Trong khi đó ở một số nước thì
lại cho rằng NHTM là ngân hàng được phép kinh doanh tổng hợp tất cả các dịch
vụ ngân hàng.
Ở Việt Nam, NHTM được quy định rõ trong luật Ngân hàng và các tổ chức
tín dụng: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ
yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và
sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện chiết khấu làm phương tiện thanh
toán”.
Trên thực tế, các NHTM ở nước ta ngoài việc thực hiện các hoạt động ghi
trong luật nêu trên thì còn phải thực hiện các hoạt động khác phù hợp với yêu cầu
phát triển kinh tế, xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là cho vay để phát
triển một số thành phần kinh tế, ưu đãi với một số dự án, một số đối tượng.
Do đó, ở Việt Nam các NHTM thường được hiểu như một ngân hàng thực
hiện các dịch vụ tổng hợp về kinh doanh tiền tệ như nhận tiền gửi của khách hàng
để cho vay, cung cấp lại vốn đầu tư … và chịu sự giám sát chặt chẽ của Nhà
nước.
Trần Thị Thanh Huyền Tài chính A - K39
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
- Các nguồn vốn huy động khác: Ngân hàng có thể huy động vốn bằng
cách phát hành các loại chứng khoán (kỳ phiếu, trái phiếu, …) để huy động vốn
từ dân cư hay tổ chức, công ty nào đó …
* Nghiệp vụ tài sản có:
Nghiệp vụ có là nghiệp vụ sử dụng nguồn vốn huy động của NHTM vào
các hoạt động kinh doanh chủ yếu sau:
- Nghiệp vụ cho vay: Là việc NHTM cho khách hàng vay một số tiền để họ
sử dụng trong một thời gian nhất định và khi hết hạn vay, người vay phải trả ngân
hàng một khoản tiền bao gồm cả gốc và lãi.
- Nghiệp vụ bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết trả thay cho khách hàng
trong trường hợp khách hàng không có khả năng thanh toán. Cách cho vay như
vậy gọi là tín dụng bảo lãnh.
- Nghiệp vụ trung gian: trong hoạt động ngân hàng, các dịch vụ ngân hàng
được coi là các nghiệp vụ bên thứ ba bên cạnh nghiệp vụ có và nghiệp vụ nợ.
Thông thương ngân hàng cung cấp các dịch vụ trung gian như:
+ Thanh toán, ngoại hối, vàng bạc đá quý, nhờ thu, …
+ Nhận uỷ thác, ký gửi, …
Trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ của mình, ngân hàng phải đối diện
với rất nhiều rủi ro: rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường, rủi ro quản lý, …
1.2. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại:
1.2.1. Khái niệm về tín dụng:
Theo quan điểm cổ điển, tín dụng được coi là một quan hệ vay mượn lẫn
nhau giữa người cho vay và người đi vay với điều kiện có hoàn trả cả vốn lẫn lãi
sau một thời gian nhất định. Hay nói một cách khác, tín dụng là một phạm trù
kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức
nhường quyền sử dụng (chuyển nhượng) một khối lượng giá trị hoặc hiện vật cho
một cá nhân hay tổ chức khác với những ràng buộc nhất định về: thời gian hoàn
trả (gốc và lãi), lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi,
Trần Thị Thanh Huyền Tài chính A - K39
5
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
ra. Xã hội có sự phân chia giàu nghèo và các giai cấp hình thành. Chế độ tư hữu
về tư liệu sản xuất cùng với sự phân công lao động xã hội là cơ sở cho sản xuất
hàng hoá ra đời. Và những quan hệ vay mượn đầu tiên chính là nguồn gốc sâu xa
của các quan hệ tín dụng. Như vậy có thể khẳng định tín dụng là một phạm trù
kinh tế ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nền
sản xuất và lưu thông hàng hoá. Tín dụng ra đời là một yếu tố khách quan của sự
phát triển kinh tế xã hội.
Sự cần thiết của tín dụng ngân hàng:
Trong suốt sự phát triển lâu dài của tín dụng thì hình thức tín dụng ngân
hàng tỏ ra ưu thế hơn các hình thức tín dụng trước nó như tín dụng cho vay vãng
lai, tín dụng thương mại, …
Hình thức tín dụng ngân hàng ra đời tỏ rõ ưu thế của mình bởi:
- Nguồn vốn cho vay rất lớn vì đó là toàn bộ nguồn vốn trong nền kinh tế
mà ngân hàng có thể tập trung và huy động được.
- Đây là hình thức tín dụng rất linh hoạt vì đối tượng vay mượn là tiền.
Hình thức tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh
tế thị trường và nó luôn luôn đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế một cách linh
hoạt, kịp thời.
Là trung gian tài chính, ngân hàng đóng vai trò là người môi giới giữa một
bên là những người có tiền cho vay và bên kia là những người có nhu cầu cần vay
vốn. Thông qua cơ chế thị trường bằng những biện pháp kinh tế năng động và áp
dụng các phương pháp kỹ thuật hiện đại, tiên tiến, ngân hàng có khả năng thu hút
những nguồn vốn tiền tệ, tiết kiệm, dự trữ trong xã hội để chuyển giao đúng nơi,
đúng lúc, phù hợp với nhu cầu vốn trong sản xuất kinh doanh. Chính nhờ tín dụng
ngân hàng mà những đồng tiền tạm thời nhàn rỗi đã trở thành tiền hoạt động, biến
những đồng tiền nằm phân tán thành vốn tiền tệ tập trung phục vụ cho nhu cầu sản
xuất kinh doanh và qua đó làm cho phát triển mọi hoạt động sản xuất kinh doanh,
giúp cho nền kinh tế ngày càng phát triển.
cấp cho khách hàng có uy tín thường là khách hàng làm ăn thường xuyên, có lãi,
tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra trường hợp nợ nần dây dưa hoặc món vay
rất nhỏ so với vốn của người vay.
Trần Thị Thanh Huyền Tài chính A - K39
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
b) Tín dụng có bảo đảm: là hình thức tín dụng ngân hàng và khách hàng ký
hợp đồng bảo đảm. Khách hàng bảo đảm cho khoản tiền vay bằng tài sản thế
chấp, cầm cố tại ngân hàng hoặc phải có sự bảo lãnh của một bên thứ ba.
1.2.2.3. Tín dụng phân chia theo hình thức tài trợ
Theo tiêu thức này, tín dụng được phân chia thành:
a) Cho vay: là hình thức ngân hàng thương mại đưa tiền cho khách hàng với
cam kết khách hàng phải trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian nhất định. Cho
vay cũng là hoạt động chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động tín
dụng của ngân hàng thương mại. Ngày nay, các ngân hàng thương mại áp dụng
rất nhiều các hình thức cho vay khác nhau phù hợp với sự phát triển kinh tế và
nhu cầu khách hàng như:
Cho vay thấu chi: là phương thức tài trợ ngắn hạn trong đó ngân hàng
thương mại cho phép khách hàng được rút tiền vượt quá số dư trên tài khoản vãng
lai trong phạm vi số tiền và thời hạn nhất định. Hình thức này mang lại nhiều lợi
thế cho khách hàng như: thủ tục đơn giản, không cần tài sản đảm bảo, giải ngân
nhanh chóng, cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân trong một thời hạn đã được hai
bên thỏa thuận phục vụ cho mục đích chi trả lương, mua hàng… của khách hàng.
Đối tượng của hình thức cho vay thấu chi này là các khách hàng truyền thống của
ngân hàng, có uy tín, có thu nhập ổn định.
Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay đối tượng khách hàng
không có nhu cầu vay thường xuyên và không có điều kiện để được cấp hạn mức
thấu chi. Khách hàng thường sử dụng vốn chủ và tín dụng thương mại là chủ yếu,
chỉ khi nào xuất hiện nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuất mới đi vay ngân hàng.
Ở hình thức cho vay này, vốn vay của ngân hàng thương mại chỉ tham gia vào
vay rõ ràng nên khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ hàng hóa sẽ gây
khó khăn cho ngân hàng thương mại trong việc thu hồi vốn.
Cho vay trả góp: là hình thức cho vay mà ngân hàng thương mại cho phép
khách hàng được trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận.
Hình thức này thường áp dụng cho các khoản vay trung dài hạn, tài trợ cho tài sản
cố định. Cho vay trả góp thường rủi ro cao cho ngân hàng vì tài sản đảm bảo là
hàng hóa mua trả góp. Khả năng thu hồi nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của
khách hàng. Trong trường hợp khách hàng mất việc, thu nhập giảm thì ảnh hưởng
đến việc thu nợ của ngân hàng. Do vậy, lãi suất cho vay trả góp thường cao nhất
trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại.
b) Cho thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc
cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ
Trần Thị Thanh Huyền Tài chính A - K39
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua
máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của
bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng
tài sản cho thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên
thỏa thuận. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền mua lại tài sản thuê
hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng cho thuê tài
chính. Nói chung, cho thuê tài chính là sản phẩm tín dụng mang lại nhiều lợi ích
cho doanh nghiệp như tránh được rủi ro khi sở hữu tài sản ( lạc hậu, xuống cấp,
mất giá), thu được lợi ích từ thuế ( chi phí thuê được tính vào chi phí trước khi
xác định lợi nhuận nộp thuế), đáp ứng nhu cầu tài sản cố định để mở rộng sản
xuất của doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp không đủ điều kiện tiếp
cận vốn vay trung, dài hạn của ngân hàng…
c) Bảo lãnh: là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh đảm bảo
sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thể
thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Bảo lãnh thường có 3 bên: bên được bảo
nghiệp được diễn ra liên tục. Đối với ngân hàng thương mại, chiết khấu thương
phiếu giúp ngân hàng không bị đóng băng vốn( ngân hàng có thể tái chiết khấu
thương phiếu khi cần vốn), lãi suất hiệu dụng cao, thủ tục đơn giản.
1.3. Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
1.3.1. Khái niệm.
Trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển, quy mô và số lượng các doanh
nghiệp trong nền kinh tế càng ngày càng gia tăng. Để đứng vững trong điều kiện
cạnh tranh gay gắt của thị trường thì ngoài vấn đề số lượng và giá cả, vấn đề chất
lượng hàng hóa cũng là yếu tố quan trọng góp phần duy trì sự ổn định và phát
triển lâu dài của doanh nghiệp. Có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề chất
lượng. Theo quan niệm của một số nhà kinh tế, “ chất lượng là sự phù hợp mục
đích của người sản xuất và người sử dụng về một loại hàng hóa nào đó” hay “
chất lượng là năng lực của một sản phẩm hoặc dịch vụ thỏa mãn nhu cầu khách
hàng”.
Trên cơ sở đó, chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại là sự đáp ứng
nhu cầu của khách hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của chính ngân hàng,
phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội. Chất lượng tín dụng được hình thành và
đảm bảo từ hai phía: ngân hàng và khách hàng. Bởi vậy, chất lượng tín dụng của
ngân hàng không những phụ thuộc vào bản thân ngân hàng mà còn phụ thuộc vào
chất lượng hoạt động của khách hàng. Khi nghiên cứu chất lượng tín dụng của
Trần Thị Thanh Huyền Tài chính A - K39
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
ngân hàng có thể nghiên cứu trên ba giác độ: từ phía khách hàng, từ phía nền kinh
tế và từ bản thân ngân hàng thương mại.
Thứ nhất, đối với khách hàng: chất lượng tín dụng thể hiện đã thỏa mãn
được bao nhiêu trong số những yêu cầu đặt ra của khách hàng. Từ khía cạnh của
khách hàng vay vốn, chất lượng tín dụng tốt đảm bảo được các yêu cầu như thủ
tục đơn giản, giải ngân nhanh chóng, lãi suất thấp, ngân hàng cung cấp nhiều tiện
ích cho khách hàng như dịch vụ tư vấn, lập phương án kinh doanh cho khách
Qua công thức trên cho thấy việc vận dụng linh hoạt giữa nguồn vốn đi vay
và sử dụng vốn đó để cho vay góp phần không nhỏ trong hiệu quả kinh doanh của
ngân hàng thương mại.
1.3.2.2. Vòng quay vốn tín dụng
Vòng quay vốn tín dụng thường là chỉ tiêu được các ngân hàng thương mại
sử dụng để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng
trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Doanh số thu nợ
Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển của vốn tín dụng. Nếu tỷ lệ vòng
quay vốn tín dụng càng cao chứng tỏ kỳ luân chuyển vốn tín dụng nhanh, công
tác thu nợ của ngân hàng thương mại trong kỳ tốt và ngược lại, tỷ lệ này thấp
phản ánh việc thu nợ kém, vốn tín dụng bị đóng băng. Tuy nhiên, vòng quay vốn
tín dụng tăng quá nhanh kỳ này so với kỳ trước có thể là biểu hiện dư nợ giảm
trong kỳ, quy mô tín dụng bị thu hẹp ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động tín
dụng.
1.3.2.3. Thu nhập từ hoạt động tín dụng
Thu nhập từ hoạt động tín dụng là nguồn thu nhập chủ yếu trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng thương mại. Ngân hàng có chất lượng hoạt động tín
dụng tốt, kinh doanh hiệu quả thì chỉ tiêu này cao và ngược lại. Thật vậy, thu
nhập từ hoạt động tín dụng cao chứng tỏ các khoản vay không những được thu
hồi cả gốc mà còn có lãi đảm bảo được độ an toàn của nguồn vốn vay.
Trần Thị Thanh Huyền Tài chính A - K39
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
Thu nhập từ hoạt động tín dụng = Doanh thu hoạt động tín dụng – chi phí
hoạt động tín dụng
Tuy nhiên, chỉ tiêu này là tuyệt đối nên chưa phản ánh chính xác chất lượng
tín dụng. Trong trường hợp hai ngân hàng thương mại có thu nhập từ hoạt động
Dư nợ bình quân một cán bộ tín dụng =
Số cán bộ tín dụng
Chỉ tiêu này cao chứng tỏ một cán bộ tín dụng được đảm nhiệm một khoản
dư nợ tín dụng lớn, tạo ra nhiều lợi nhuận cho ngân hàng thương mại. Tuy nhiên,
chỉ tiêu này lớn quá lại tạo áp lực cho cán bộ tín dụng, khả năng phân tích kiểm
tra cũng như giám sát khoản vay bị hạn chế.
1.3.2.7. Cơ cấu dư nợ theo các loại hình tín dụng
Chỉ tiêu này cho biết ngân hàng thương mại đã phát triển những hình thức
tín dụng nào? Tỷ trọng mỗi hình thức tín dụng là bao nhiêu? Hình thức tín dụng
nào cần ngân hàng thương mại tập trung phát triển hơn nữa? Đa dạng hóa các loại
hình thức tín dụng không những giảm thiểu rủi ro tín dụng cho ngân hàng mà đem
đến cho khách hàng nhiều sự lựa chọn. Trong điều kiện kinh tế thị trường như
hiện nay, cơ cấu dư nợ theo các loại hình tín dụng không đa dạng phong phú sẽ
không có khả năng thu hút khách hàng, mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng
cho ngân hàng thương mại được.
1.4. Nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng thương
mại.
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại (NHTM),
hoạt động tín dụng phát triển kéo theo các hoạt động khác của NHTM phát triển.
Chất lượng tín dụng được nâng cao góp phần tăng khả năng sinh lời cho ngân
hàng. Vì vậy, nâng cao chất lượng tín dụng luôn là cái đích mà tất cả các NHTM
muốn hướng tới. Có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của
NHTM, không chỉ từ phía chính NHTM, khách hàng ( KH) mà còn có một số các
nhân tố khác.
Trần Thị Thanh Huyền Tài chính A - K39
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
1.4.1. Nhân tố chủ quan
a. Chính sách tín dụng của ngân hàng: Chính sách tín dụng là đường lối,
chủ trương đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng quỹ đạo, liên quan đến việc
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
dụng hiệu quả các hình thức kiểm tra sẽ thiết lập được hệ thống phòng ngừa hữu
hiệu, giảm rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng.
Thu hồi và giải quyết nợ là khâu quyết định đến chất lượng tín dụng. Sự
nhạy bén của NHTM trong việc kịp thời phát hiện những biểu hiện bất lợi xảy ra
với khách hàng cũng như có những biện pháp xử lý kịp thời tư vấn cho khách
hàng giảm thiểu được những khoản nợ quá hạn sẽ tác động tích cực tới chất lượng
hoạt động tín dụng.
Quy trình tín dụng của NHTM không mang tính cứng nhắc. Thực vậy, đối
với mỗi khách hàng khác nhau, ngân hàng có thể chủ động, linh hoạt thực hiện
các bước trong quy trình tín dụng cho phù hợp. Ví dụ, với những dự án lớn thì
bước phân tích là quan trọng; đôi khi có những dự án phức tạp, NHTM phải thành
lập tổ thẩm định riêng. Còn với cho vay tiêu dùng, việc giám sát mục đích sử
dụng vốn cần được chú trọng nhiều hơn.
c.Công tác tổ chức ngân hàng: Ngân hàng thương mại được tổ chức một
cách khoa học sẽ đảm bảo được sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng
ban, giữa các ngân hàng với nhau trong toàn hệ thống cũng như với các cơ quan
liên quan khác. Trong công tác tổ chức ngân hàng thương mại cần chú trọng công
tác kiểm tra kiếm soát nội bộ. Thông qua công tác này giúp các nhà lãnh đạo ngân
hàng nắm được những gì đang diễn ra, phát hiện những thuận lợi cũng như những
khó khăn sai trái để từ đó đưa ra các biện pháp giải quyết kịp thời. Chất lượng tín
dụng phụ thuộc vào việc chấp hành những quy định, thể chế, chính sách và mức
độ phát hiện kịp thời các sai sót cũng như nguyên nhân dẫn đến các lệch lạc trong
quá trình thực hiện một khoản tín dụng.
d. Phẩm chất và trình độ cán bộ: Chất lượng đội ngũ cán bộ trong ngân hàng
là nhân tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Thực vậy, cán bộ tín dụng tham gia
vào mọi khâu của quy trình tín dụng từ bước đầu tiên đến bước cuối cùng. Cán bộ
tín dụng mà không có đạo đức nghề nghiệp, làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm,
cố ý làm trái pháp luật sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Ngoài ra, trình
ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh cũng như việc quản
lý vốn vay của khách hàng để qua đó có thể đưa ra quy định cho vay đúng đắn.
Nếu khách hàng sử dụng vốn vay ngân hàng không đúng đối tượng kinh doanh,
phương án và mục đích khi xin vay thì sẽ không trả được nợ đúng hạn.
Thứ ba, rủi ro trong công việc kinh doanh của khách hàng: Rủi ro là thuật
ngữ chỉ những nguy cơ hay khả năng gây ra tổn thất. Rủi ro trong kinh doanh là
Trần Thị Thanh Huyền Tài chính A - K39
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
một yếu tố tất yếu. Trong sản xuất kinh doanh, rủi ro phát sinh dưới nhiều hình
thái khác nhau như thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, năng lực sản xuất kinh doanh
yếu kém, bị lừa đảo, trộm cắp… ví dụ như giá nguyên vật liệu đầu vào của ngành
sản xuất bia tự nhiên tăng cao, bắt buộc doanh nghiệp phải đẩy giá sản phẩm tăng,
làm giảm số lượng tiêu thụ bia vì họ chuyển sang dùng nước khoáng thay bia.
Điều này làm giảm doanh thu của doanh nghiệp trong khi đó chi phí lại tăng, khả
năng thu hồi vốn chậm, doanh nghiệp làm ăn thua lỗ ảnh hưởng tới khả năng trả
nợ ngân hàng.
Thứ tư, tài sản đảm bảo : quyền sở hữu tài sản là một trong những tiêu chuẩn
để được cấp tín dụng ( tài sản thế chấp, tín chấp, cầm cố…). Tuy nhiên hiện nay
có rất nhiều tài sản đảm bảo của các pháp nhân không có giấy chứng nhận sở hữu.
Tài sản cố định phần lớn là máy móc, thiết bị lạc hậu không đủ tiêu chuẩn thế
chấp trong khi nhu cầu vay vốn ngân hàng là rất lớn. Như vậy, nếu cho vay đúng
chế độ thì hầu hết các doanh nghiệp không đủ điều kiện để được vay hoặc nếu
được vay nhưng số lượng vay không đáng kể.
b. Môi trường kinh tế: Nền kinh tế là một hệ thống bao gồm các hoạt động
kinh tế có quan hệ biện chứng và tác động lẫn nhau nên bất kỳ một sự biến động
của một hoạt động kinh tế nào cũng sẽ ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh
của các lĩnh vực còn lại. Hoạt động của ngân hàng thương mại có thể được coi là
chiếc cầu nối các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Vì thế, sự ổn định hay mất
ổn định của nền kinh tế sẽ tác động mạnh mẽ đến hoạt động của ngân hàng, đặc
khăn. Ngược lại, nếu phù hợp với thực tế khách quan thì sẽ tạo môi trường pháp
lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành hiệu quả và đạt kết quả cao.
d. Môi trường xã hội: Quan hệ tín dụng được thực hiện trên cơ sở lòng tin.
Nó là cầu nối giữa ngân hàng và khách hàng. Đạo đức xã hội ảnh hưởng tới chất
lượng tín dụng. Trong trường hợp đạo đức xã hội không tốt, lợi dụng lòng tin để
lừa đảo sẽ làm giảm chất lượng tín dụng. Hơn nữa trình độ dân trí chưa cao, kém
hiểu biết về hoạt động ngân hàng cũng sẽ làm giảm chất lượng tín dụng.
e. Môi trường tự nhiên: Những biến động bất khả kháng xảy ra trong môi
trường tự nhiên như thiên tai (hạn hán, lũ lụt, động đất, hoả hoạn) làm ảnh hưởng
tới hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, đặc biệt là trong các ngành có
liên quan đến nông nghiệp, thuỷ sản, hải sản. Vì vậy khi môi trường tự nhiên
không thuận lợi thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn từ đó làm giảm chất lượng tín
dụng của Ngân hàng thương mại.
Trên đây là những nhân tố chính tác động tới chất lượng tín dụng của Ngân hàng
thương mại. Để nâng cao chất lượng tín dụng, chúng ta cần nghiên cứu và nhận thức
đúng đắn các yếu tố trên, cùng với kết quả hoạt động thực tiễn của các Ngân hàng
thương mại, để từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục có tính khả thi cao.
Trần Thị Thanh Huyền Tài chính A - K39
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
TẠI PHÒNG GIAO DỊCH PHÚ XUÂN - CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN
BẢO THẮNG, LÀO CAI
2.1. Khái quát về Phòng giao dịch Phú Xuân - Chi nhánh ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Bảo Thắng, Lào Cai.
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Phòng giao dịch Phú Xuân -
Chi nhánh NHNo & PTNT huyện Bảo Thắng, Lào Cai.
Phòng giao dịch Phú Xuân - Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Bảo Thắng,
Đây là bộ phận tập trung những hoạt động chính của ngân hàng, quyết định
phần lớn kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hang.
Tổ tín dụng được giao các nhiệm vụ sau đây: cho vay đối với các thành phần
kinh tế theo Luật Ngân hàng và Luật các tổ chức tín dụng, mở tài khoản cho vay
và theo dõi các hợp đồng tín dụng, tính lãi theo định kỳ, điều hoà vốn và ngoại tệ,
làm báo cáo và tập hợp báo cáo gửi hàng cấp trên, làm một số nghiệp vụ khác
được giao.
* Tổ kế toán:
Quản lý toàn bộ các tài khoản khách hàng và các tài khoản nội bộ trong
ngoài bảng cân đối kế toán: Mở tài khoản tiền gửi, thanh toán các loại séc, ngân
phiếu - thực hiện thanh toán nội bộ, thanh toán qua hệ thống điện tử và thanh toán
bù trừ.
Tổ trưởng tổ kế toán PGD Phú Xuân chịu trách nhiệm trước Giám đốc về
việc kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ thanh toán, về các quyết định
chuyển tiền đi cũng như hạch toán và các tài khoản thích hợp.
Tổ kế toán đảm nhiệm cả hai công việc: Kế toán nội bộ và kế toán giao
dịch. Nhiệm vụ của kế toán nội bộ là thực hiện công tác kế toán và quản lý chi
tiêu nội bộ như: chi trả lương cho cán bộ công nhân viên; báo cáo tổng hợp thu
chi hàng tháng, hàng quý và cả năm với Ban giám đốc.
Trần Thị Thanh Huyền Tài chính A - K39
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Phan Hồng Mai
Nhiệm vụ của kế toán giao dịch là xử lý các giao dịch như: nhận tiền gửi của các
doanh nghiệp, các cá nhân, các tổ chức kinh tế, xã hội, mở tài khoản; thực hiện
nghiệp vụ chuyển tiền và thanh toán cho khách hàng, các nghiệp vụ thanh toán
không dùng tiền mặt; tổ chức ghi chép phản ánh một cách đầy đủ, chính xác, kịp
thời từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh về các hoạt động huy động và sử dụng vốn;
tổ chức thanh toán bù trừ và thanh toán liên hàng và lập bảng cân đối ngày, tuần,
tháng, quý, năm và gửi báo cáo lên ngân hàng cấp trên.
-Nguồn < 12 tháng 13.178 33.663 42.990
-Nguồn từ 12 tháng trở lên 39.537 28.278 22.212
Phân loại theo loại nguồn
-Tiền gửi dân cư 60.270 65.307 70.217
-Tiển gửi TCKT, TCXH 1.107 1.885 1.289
-Tiền gửi khác 123 135 144
( Nguồn: Báo cáo KQKD của PGD Phú Xuân )
Qua bảng trên ta thấy hoạt động huy động vốn của PGD Phú Xuân có
nhiều thay đổi nhưng nhìn chung tăng qua các năm. Năm 2008, tổng nguồn vốn
huy động được là 61.500 triệu đồng, tăng 162,66% so với năm 2007. Năm 2009
tăng lên 67.327 triệu đồng, tăng 9,55% và đến năm 2010 là 71.650 triệu đồng, tăng
6,4%.
Năm 2008 là năm diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ và lan rộng ra
toàn cầu khiến cho nền kinh tế thế giới lâm vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng
cũng ảnh hưởng ít nhiều đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và hoạt động của
ngành ngân hàng nói riêng. Hoạt động của PGD Phú Xuân cũng ảnh hưởng ít
nhiều. Tuy nhiên, sau hơn một năm đi vào hoạt động, với những biện pháp thu hút
tiền nhàn rỗi từ dân cư như tăng lãi suất cùng xác chương trình khuyến mại, tiết
kiệm dự thưởng, ưu đãi đặc biệt với khách hàng khi gửi tiết kiệm, tổng nguồn
vốn huy động được cả năm 2008 đạt 61.500 triệu đồng, tăng hơn rất nhiều so với
năm 2007.
Xác định được huy động vốn là một hoạt động quan trọng của ngân hàng
nên sang năm 2009, PGD Phú Xuân đã đưa ra hàng loạt các biện pháp như đẩy
Trần Thị Thanh Huyền Tài chính A - K39
25