Lời nói đầu
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu sản xuất không đủ tiêu dùng, qua hơn
10 năm đổi mới Việt Nam đã và đang từng bước vươn lên bước đầu khẳng
định được uy tín, chinh phục đựơc khách hàng chiếm lĩnh được thị trường lớn,
ổn định góp phần nâng cao vị thế của mình trên chính trường quốc tế. Hiện
nay với cơ chế mở cửa, các thành phần kinh tế hoạt động một cách bình đẳng
theo hiến pháp và pháp luật. Nhiều loại hình doanh nghiệp ra đời và phát triển
mạnh mẽ. Cùng với nó là sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong
nước cũng như nước ngoài đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới
công nghệ, trang thiết bị và mở rộng sản xuất do đó cần thiết phải có một
lượng vốn lớn mà các ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho các
doanh nghiệp, các thành phần kinh tế một cách có hiệu quả.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với hệ thống ngân hàng hai cấp:
Ngân hàng Nhà nước thực hiện quản lý nhà nước và cấp kinh doanh là các
ngân hàng thương mại. Cùng với việc triển khai thực hiện pháp lệnh ngân
hàng ở nước ta trong thời gian qua đã tạo ra những chuyển biến rõ nét cả về tổ
chức, hoạt động và trình độ nghiệp vụ của hệ thống ngân hàng góp phần tăng
trưởng kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền... Các tổ chức tín dụng hình thành
mạng lưới trên hầu khắp các địa bàn cả nước. Ngoài hệ thống ngân hàng
thương mại quốc doanh còn có các ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng
liên doanh... Nghiệp vụ ngân hàng cũng được đổi mới và từng bước hiện đại
hoá, tiếp cận với công nghệ và thông lệ quốc tế. Với hoạt động tín dụng và
các dịch vụ đa dạng ngân hàng đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu của khách
hàng, góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Ngày nay
ngân hàng đã trở thành một mắt xích quan trọng cấu thành nên sự vận động
nhịp nhàng của nền kinh tế. Cùng với các ngành kinh tế khác ngân hàng có
nhiệm vụ tham gia bình ổn thị trường tiền tệ, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát,
tạo môi trường đầu tư thuận lợi, tạo công ăn việc làm cho người lao động,
phát triển thị trường ngoại hối.
5
Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế đang trong thời kỳ mới chuyển đổi
1.1.1 Khái niệm:
Ngân hàng là một tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói
chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thường
chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng
Ngân hàng là một tổ chức thu hút tiền gửi lớn nhất trong hầu hết mọi
nền kinh tế. Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức
tín kinh tế xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng. Ngân hàng đóng vai trò người
thủ quỹ xã hội
Thu nhập từ ngân hàng là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình.
Ngân hàng là các tổ chức cho vay chủ yếu với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ
gia đình và một phần đối với nhà nước (thành phố, tĩnh …). Đối với các
doanh nghiệp ngân hàng thường là các tổ chức cung cấp tín dụng để phục vụ
cho việc mua sắm hàng hoá dữ trữ hoặc xây dung nhà máy, mua sắm trang
thiết bị …Khi doanh nghiệp và người tiêu ding phải thanh toán cho các khoản
mua hàng hoá và dịch vụ họ thường sử dụng séc, ủy nhiệm chi, thẻ tín dụng
hay tài khoản điện tử…Và khi đó họ cần thông tin tài chính hay lập kế hoạch
tài chính, họ thường đến các ngân hàng để nhận lời tư vấn. Các khoản tín
dụngcủa ngân hàng chi chính phủ (thông qua các chứng khoán của chính phủ)
là nguồn quan trọng để đầu tư và phát triển.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất. Ngân
hàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ, vì vậy là
một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của chính phủ nhằm ổn định
kinh tế.
Ngân hàng có thể được định nghĩa thông qua chức năng, các dịch vụ
hoặc vai trò chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên
8
đang không ngừng thay đổi. Thực tế rất nhiều tổ chức tài chính bao gồm các
công ty kinh doanh chứng khoán, quỹ tương hỗ và các công ty bảo hiểm hàng
đầu đang cố gắng cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Ngược lại ngân hàng đang
Khi một ngõn hàng bắt đầu hoạt động, nhiệm vụ đầu tiờn là mở tài
khoản tiền gửi hộ và thanh toỏn hộ cho khỏch hàng, băng cỏch đú ngõn hàng
huy động tiền của cỏc doanh nghiệp cỏc tổ chức và dõn cư.
Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn
tiền của ngõn hàng. Để gia tăng tiền gửi trong mụi trường cạnh tranh và để cú
được nguồn tiền cú chất lượng ngày càng cao, cỏc ngõn hàng đó đưa ra và
thực hiện nhiều hỡnh thức huy động khỏc nhau: Tiền gửi thanh toỏn (tiền gửi
giao dịch hoặc tiền gửi thanh toỏn), tiền gửi của cỏc ngõn hàng khỏc. Tiền gửi
là nguồn quan trongj nhất của ngõn hàng thương mại.Tuy nhiờn khi cần, ngõn
hàng thương mại thuowng vay mượn thờm. Tại nhiều nước, ngõn hàng trung
ương thường xuyờn quyết định tỷ lệ dữ ttruwx bắt buộc giữ nguồn tiền huy
động và vốn của chủ. Do vậy nhiều ngõn hàng vào những giai đoạn cụ thể
phải vay mượn thờm để đỏp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn
chế: Vay mượn tử ngõn hàng trung ương, vay cỏc tổ chức tớn dụng, vay trờn
thi trường vốn.
Cỏc nguồn khỏc: Nguồn ủy thỏc, nguồn trong thanh toỏn, cỏc khoản
nợ khỏc như thuế chưa nộp, lương chưa trả….
Đặc điểm chung của nguồn tiền gửi là chỳng phải được thanh toỏn khi
khỏch hàng yờu cầu.
Tiền gửi là đối tượng phải dữ trữ bắt buộc, do vậy chi phớ tiền gửi
thường cao hơn lói suất phải tra cho tiền gửi. Ở nhiều nước ngõn hàng phải
mua bảo hiểm tiền gửi.
Tiền gửi thường nhạy cảm với cỏc biến động về lói suất, tỷ giỏ, thu
nhập, chu kỳ chi tiền và nhiều yếu tố khỏc…
Hoạt động cho vay là hoạt động sinh lời lớn nhất song rủi ro cao nhất
cho ngõn hàng thương mại. Rủi ro này cú rất nhiều nguyờn nhõn,đều cú thể
gõy ra tổn thất, làm giảm thu nhập của ngõn hàng. Cú nhiều khoản tài trợ mà
tổn thất cú thể chiếm phần lớn vốn của chủ, ước lượng khả năng rủi ro và sinh
lời khi quyết định tài trợ. Đú chớnh là quỏ trỡnh phõn tớch tớn dụng, bao gồm
10
11
yếu cho vay bằng tiền. Đây là hình thức cho vay nặng lãi với lãi suất rất cao,
không có giới hạn và là hình thức tín dụng tiêu dùng, chủ yếu để giải quyết
nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.
Sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản cho thấy tín dụng nặng lãi
không còn phù hợp nữa, nó cản trở sự phát triển của nền kinh tế bởi các nhà tư
bản kinh doanh với mục đích lợi nhuận không thể vay với mức lãi suất cao
hơn tỷ suất lợi nhuận. Vì vậy hoạt động của nó ngày càng thu hẹp và tín dụng
thương mại xuất hiện. Đây là hình thức tín dụng giữa các nhà sản xuất kinh
doanh với nhau do đó chủ thể tham gia quá trình vay mượn này cũng là các
nhà sản xuất kinh doanh.
Vậy tín dụng ngân hàng là gì ?.
"Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ mà một bên là
ngân hàng - một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên
là tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội trong đó ngân hàng giữ vai trò
vừa là người đi vay, vừa là người cho vay "
Đây là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó luôn
luôn đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt đầy đủ và kịp
thời.
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng ngân hàng :
*Tổng vốn huy động :
Tổng vốn huy động cho biết tổng nguồn tiền mà ngân hàng huy động
được trong nền kinh tế. Chỉ tiêu này cho thấy ngân hàng có hoạt động uy tín,
có được người gửi tin tưởng không, mức giá mà ngân hàng đưa ra có phù hợp
không,có khuyến khích được nhân dân gửi tiền vào không? đồng thời cho thấy
ngân hàng đã tham gia vào các hình thức huy động vốn và các dịch vụ ngân
hàng như thế nào?
*Tỷ trọng từng loại tiền gửi trên tổng nguồn vốn huy động :
12
Thông thường nguồn vốn huy động của ngân hàng bao gồm các loại tiền
*Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ :
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này thể hiện chất lượng của những khoản vay. Khi tỉ lệ này vượt
quá một giới hạn cho phép thì nó thể hiện sự yếu kém của hoạt động tín dụng(
Mức giới hạn của mỗi nước là khác nhau, ở Việt Nam hiện nay chấp nhận tỷ
lệ này là 5%).
Theo thời gian, tỷ lệ này có thể phân làm 2 trường hợp:
Nợ quá hạn bình thường + Nợ quá hạn có
vấn đề
Tỷ lệ nợ quá hạn dưới 12 tháng=
Tỷ lệ nợ quá hạn trên 12 tháng=
Qua việc phân loại nợ quá hạn, ta có thể biết rõ các khoản nợ đang gặp
khó khăn hay những khoản nợ không thể thu hồi được từ đó đưa ra các biện
pháp hợp lý rủi ro tới mức thấp nhất.
*Chỉ tiêu lợi nhuận :
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
14
Tổng dư nợ
Nợ quá hạn khó thu hồi
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu lợi nhuận =
Tổng dư nợ tín dụng
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng. Lợi nhuận ở đây
phản ánh chênh lệch giữa chi phí đầu vào (lãi suất huy động) và thu lãi đầu ra.
sẽ gặp nhiều khó khăn.
Một yếu tố mà chúng ta cần phải đề cạp đến ở đây đó chính là lãi suất tín
dụng cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngân hàng. Với phương châm
“Đi vay để cho vay” các ngân hàng luôn luôn phải cố gắng để có thể đưa ra
một mức lãi suất hợp lý sao cho vừa thu hút được vốn nhàn rỗi vừa đem lại lợi
nhuận.Bởi nếu lãi suất huy động tiền nhàn rỗi quá thấp sẽ không khuyến khích
được các tổ chức, cá nhân gửi tiền vào ngân hàng dẫn đến ngân hàng không
đủ vốn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.Ngược lại nếu lãi suất huy động
đặt ra cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của ngân hàng, ngân hàng sẽ gặp
khó khăn trong vấn đề cho vay. Và đối với lãi suất cho vay cũng vậy trường
hợp đưa ra mức lãi suất cao sẽ dẫn đến tình trạng không cho vay được, ứ đọng
vốn hoặc có cho vay được nhưng khó thu hồi bởi khách hàng của ngân hàng
không phải tất cả đều làm ăn có hiệu quả mà có những khách hàng làm ăn
không có lãi hoặc lãi thấp sẽ khó có thể trả được những khoản nợ lớn của
ngân hàng gây rủi ro cho hoạt động của ngân hàng.
*Thuộc về môi trường pháp lý:
Hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng cũng như hoạt động của nền kinh
tế nói chung muốn hoạt động có hiệu qủa thì cần phải có một hệ thống pháp
luật đồng bộ, thống nhất, đầy đủ đi kèm hỗ trợ. Pháp luật đã trở thành một bộ
16
phận không thể thiếu trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,
không có pháp luật hoặc một hệ thống pháp luật không đầy đủ, không phù hợp
với những yêu cầu phát triển của nền kinh tế thì mọi hoạt động trong nền kinh
tế sẽ trở nên hỗn độn, không thể tiến hành trôi chảy. Pháp luật đã tạo lập hành
lang pháp lý giúp cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành thuận tiện
và đạt kết quả cao. Chỉ trong trường hợp các chủ thể tham gia quan hệ tín
dụng chấp hành luật pháp một cách nghiêm minh thì quan hệ tín dụng mới đạt
kết quả mong muốn đem lại chất lượng cho hoạt động tín dụng ngân hàng.
* Thuộc về yếu tố tự nhiên:
Đây là những nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn, dịch
điều kiện cho việc quản lý có hiệu quả các khoản vốn tín dụng, phát hiện và
giải quyết kịp thời các vấn đề có liên quan đến tín dụng khi cần thiết.
- Chất lượng nhân sự:
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn tín
dụng nói riêng và trong hoạt động của ngân hàng nói chung. Hiện nay khi
nghiệp vụ hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển thì đòi hỏi chất lượng
nhân sự ngày càng cao để có thể sử dụng các phương tiện làm việc hiện đại,
phù hợp với sự phát triển nghiệp vụ không ngừng. Do vậy việc tuyển chọn
nhân sự cần phải được tiến hành kỹ lưỡng, cán bộ tín dụng phải là người có
trách nhiệm cao, có đạo đức nghề nghiệp tốt, phải có chuyên môn giỏi thì mới
có thể ngăn ngừa những sai phạm khi thực hiện chu kỳ khép kín cuả một
khoản tín dụng, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng mình trên
thị trường và đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu đa dạng của một xã hội ngày
càng phát triển.
- Quy trình tín dụng:
18
Đây là những giai đoạn, công việc cần phải thực hiện theo một thủ tục
nhất định trong việc cho vay, thu nợ bắt đầu từ việc xét đơn xin vay của khách
hàng cho đến khi thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng. Chất lượng tín
dụng phụ thuộc vào việc lập ra một quy trình tín dụng có đảm bảo tính khoa
học không và việc thực hiện các giai đoạn trong quy trình tín dụng cũng như
sự phối hợp nhịp nhàng giữa các giai đoạn như thế nào?
Quy trình tín dụng gồm 3 giai đoạn chính:
+ Xét đề nghị vay của khách hàng và thực hiện cho vay: Đây là giai đoạn
rất quan trọng trong quy trình tín dụng, nó quyết định đến chất lượng tín dụng
của khoản tín dụng sẽ được thực hiện và là cơ sở định lượng rủi ro trong khi
cho vay. Trong giai đoạn này chất lượng tín dụng phụ thuộc nhiều vào công
tác thẩm định khách hàng và việc chấp hành các quy định về điều kiện, thủ tục
cho vay của ngân hàng.
+ Kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay và theo dõi rủi ro: Việc
những nhân tố thuận lợi nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. Chất lượng tín
dụng phụ thuộc vào việc chấp hành các quy định, thể lệ... và mức độ kịp thời
phát hiện sai sót cũng như nguyên nhân dẫn dến sai sót trong qúa trình thực
hiện một khoản tín dụng.
- Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng:
Trang thiết bị góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng tín
dụng của ngân hàng. Nó là công cụ, phương tiện thực hiện tổ chức quản lý
ngân hàng, kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay và thực hiện nghiệp vụ giao
dịch với khách hàng. Đặc biệt với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông
tin hiện nay, các trang thiết bị tin học đã giúp cho ngân hàng cập nhật được
thông tin nhanh chóng, kịp thời, chính xác. Trên cơ sở đó đưa ra quyết định
tín dụng đúng đắn, không bỏ lỡ thời cơ trong kinh doanh, giúp cho quá trình
quản lý tiền vay và thanh toán được thuận tiện, nhanh chóng và chính xác.
*Thuộc về khách hàng:
20
Để đảm bảo khoản tín dụng đựoc sử dụng đúng mục đích và có hiệu
quả, mang lại lợi ích cho ngân hàng góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển
kinh tế xã hội thì khách hàng có vai trò hết sức quan trọng. Một khách hàng có
tư cách đậo đức tốt, có tình hình tài chính vững vàng, có thu nhập sẽ sẵn sàng
hoàn trả đầy đủ những khoản vay vốn của ngân hàng khi đến hạn qua đó đảm
bảo an toàn và nâng cao chất lượng tín dụng.
Những nhân tố này bao gồm:
Trình độ quản lý điều hành của cán bộ doanh nghiệp có đáp ứng được
trong nền kinh tế thị trường hay không, năng lực về vốn và tài sản của doanh
nghiệp có đủ cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay không, chất lượng hoạt
động sản xuất kinh doanh tôt hay xấu, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hay
thấp, tương lai phát triển của doanh nghiệp như thế nào? ý thức trách nhiệm
của doanh nghiệp trong công tác trả nợ ngân hàng.
Những yếu tố trên đặt ra cho SGD cần phải chọn khách hàng để đầu tư,
thẩm định kỹ lưỡng và cần phải giám sát một cách chặt chẽ quá trình trước,
triển kinh tế xã hội, uỷ thác tín dụng đầu tư cho chính phủ, các chủ đầu tư
trong nước và nước ngoài trong các ngành kinh tế mà trước hết là trong lĩnh
vực nông nghiệp nông thôn.
Từ một ngân hàng được bao cấp với số vốn nhỏ bé, cán bộ nhân viên
đông, trình độ thấp... Khi chuyển sang kinh doanh theo cơ chế thị trường NH
Nông nghiệp đã có nhiều cố gắng trong việc tổ chức lại để tăng cường huy
động vốn phục vụ kinh tế nông nghiệp, nông thôn, mở rộng các loại hình dịch
vụ đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, bước đầu đã đạt
được những kết quả đáng kể như: nhanh chóng khắc phục cơ bản thói quen cũ
của ngân hàng trong cơ chế bao cấp chuyển từ một ngân hàng lỗ sang một
ngân hàng có lãi, cải
thiện đáng kể đời sống cán bộ công nhân viên, góp phần thực hiện tốt nghĩa
vụ với nhà nước.
Trong những năm gần đây ngân hàng đã không ngừng tăng cường quan
hệ đa phương và các hoạt động kinh doanh đối ngoại, uy tín quốc tế của ngân
hàng nhanh chóng được khẳng định, đó chính là cánh cửa mở ra con đường
hội nhập vào cộng đồng ngân hàng khu vực và quốc tế.
2.1.2 Giới thiệu chung về phòng giao dịch NHNo&PTNT chi nhánh Bách
Khoa:
Sáng ngày 25/12/2008, chi nhánh NHNo&PTNT Bách Khoa đã tổ chức
lễ khai trươngg phòng giao dịch số 7 có trụ sở tại 92- Võ Thị Sáu- Quận Hai
Bà Trưng- Hà Nội. Đây là phòng giao dịch số 03 trực thuộc chi nhánh Bách
Khoa
23
Thực hiện tiến trình cơ cấu lại Ngân Hàng và định hướng phát triển của
NHNo&PTNT Việt Nam và chiến lược kinh doanh trên địa bàn Hà Nội của
chi nhánh Bách Khoa. Được sự hỗ trợ giup đỡ của các ngành- các cấp chính
quyền địa phương và đặc biệt là sự ủng hộ- tín nhiệm của khách hàng, cùng
hình thức đầu tư khác.
- Tổ chức kiểm tra, kiểm soát, báo cáo thống kê theo qui định.
- Các nhiệm vụ khác được Tổng giám đốc giao.
2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng tại phòng giao dịch Agribank Bách
Khoa trong những năm gần đây:
2.2.1 Tình hình sử dụng vốn huy động:
Tại phòng giao dich nhno&ptnt chi nhánh Bách Khoa hàng ngày hàng
giờ đang diễn ra các hoạt động kinh doanh đa dạng và phong phú. Căn cứ vào
các kết quả thu được ta thấy rằng hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản tại
phòng và có vị trí hết sức quan trọng. Và để hoạt động tín dụng đem lại kết
quả cao thì cần phải thực hiện tốt đồng thời các nghiệp vụ .
- Các nghiệp vụ bên nợ (huy động vốn)
- Các nghiệp vụ bên có (sử dụng vốn)
- Các nghiệp vụ trung gian (chuyển tiền thanh toán)
Chính vì vậy mà huy động vốn không phải là một hoạt động độc lập
riêng rẽ, có huy động được vốn thì mới có vốn cho vay ngược lại cho vay có
hiệu quả kinh tế phát triển thì mới có nguồn vốn lớn để huy động đồng thời có
làm tốt nghiệp vụ trung gian thì hai nghiệp vụ trên mới được thực hiện tốt.
Như vậy cả ba nghiệp vụ này tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau và hỗ trợ
nhau cùng phát triển. Nói cách khác ngân hàng phải thực hiện chiến lược kinh
25
doanh tổng hợp mà trong đó nghiệp vụ huy động vốn phải được chú trọng để
kết hợp cùng hai nghiệp vụ còn lại tạo nên hiệu quả hoạt đông của ngân hàng.
Hiện nay trong cơ chế thị trường, các Ngân hàng thương mại đều hoạt
động kinh doanh theo hướng “đi vay để cho vay” không sử dụng đến nguồn
cấp phát mà huy động vốn theo hướng có lợi trong kinh doanh.
Sau đây là số liệu cụ thể về tình hình huy động vốn tại phòng giao dịch
nhno &ptnt chi nhánh Bách Khoa trong thời gian qua.
26
Bảng 1: Biến động nguồn vốn huy động giai đoạn 2006-2008
vốn có kỳ hạn vẫn tiếp tục tăng điều đó chứng tỏ rằng trong những năm qua
phòng giao dich đã có nhiều cố gắng và đưa ra những biện pháp tích cực năng
động, sáng tạo để thu hút khách hàng mở tài khoản tiền gửi cũng như gửi tiền
tiết kiệm, phục vụ khách hàng với thái độ văn minh, lịch sự có, trách nhiệm,
đơn giản các thủ tục rườm rà không cần thiết. Kết quả cho thấy phòng giao
dịch đã đạt được những thanh công nhất định.
Mặt khác ta thấy rằng nguồn vốn huy động có kỳ hạn luôn luôn tăng lên
và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động cụ thể là :
- Nguồn vốn kỳ hạn năm 2006 chiếm tỉ lệ là 67%.
- Nguồn vốn kỳ hạn năm 2007 chiếm tỉ lệ là 74%.
27
- Nguồn vốn kỳ hạn năm 2008 chiếm tỉ lệ là 77%.
Để đứng vững và phát triển trong nền kinh tế đầy cạnh tranh như hiện
nay các ngân hàng buộc phải xây dựng cho mình chiến lược kinh doanh một
cách hợp lý và phòng giao dịch cũng vậy. Phòng giao dịch luôn luôn quan tâm
tới vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng. Trên cơ sở nguồn vốn huy động được
Sở tiến hành phân phối sử dụng vốn sao cho có hiệu quả bởi cho vay là khâu
tiếp nối của hoạt động tạo vốn và là khâu cuối cùng quyết định chất lượng
hiệu quả tín dụng.
Bên cạnh đó chúng ta biết rằng huy động vốn và sử dụng vốn là hai mặt
của một quá trình hoạt động tín dụng vì vậy vấn đề cho vay vốn cần phải được
chú trọng, quan tâm, làm sao vừa đáp ứng đựoc nhu cầu sản xuất kinh doanh,
vừa mang lại hiệu quả kinh tế, không chỉ cho bản thân phòng giao dịch mà
còn cho cả nền kinh tế.
Đối tượng cho vay tại phòng giao dịch là các doanh nghiệp nhà nước,
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty tư nhân, hộ gia đình, cá nhân so.Việc
cho vay của phòng giao dịch đã có tác dụng tích cực giúp cho các doanh
nghiệp phát triển được sản xuất kinh doanh, tăng thu ngân sách góp phần đấu
tranh hạn chế cho vay nặng lãi .
160
164
116
208
223
230
183
0
50
100
150
200
250
Tổng doanh số cho
va
y
Tổng doanh số thu nợ Tổng dư
nợ
2006
2007
2008