1
Phần Mở Đầu.
1. Đặt vấn đề.
Trong cơ cấu các mặt hàng thủy sản, cá ngừ luôn giữ một vai trò đặc biệt vì
những giá trị dinh dưỡng của nó. Kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, nhu cầu
về cá ngừ tăng vọt dẫn đến sản lượng khai thác tăng liên tục và cá ngừ đã trở thành
mặt hàng có giá trị kinh tế cao. Chính vì vậy, việc đẩy mạnh nghề khai thác, chế
biến và thương mại cá ngừ đã trở thành mục tiêu kinh tế của nhiều nước trên thế
giới. Cá ngừ gồm nhiều loài khác nhau, trong đó cá ngừ đại dương (cá ngừ vây
vàng và cá ngừ mắt to) là loài cá có giá trị kinh tế nhất trong các loài cá ngừ. Tại
Việt Nam, nghề khai thác cá ngừ đại dương xuất hiện vào những năm đầu thập niên
90 và nhanh chóng trở thành nghề khai thác được quan tâm phát triển trong chiến
lược phát triển nghề cá xa bờ của ngành thủy sản từ năm 1997.
Cá ngừ đại dương, ở Việt Nam, chỉ được đánh bắt bằng nghề câu vàng, tập trung
chủ yếu ở 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa. Hiện nay, cả nước có khoảng
1.670 tàu chuyên câu cá ngừ, trong đó có khoảng 45 tàu câu cá ngừ công nghiệp với
trang thiết bị khai thác và bảo quản sản phẩm hiện đại của các doanh nghiệp, số còn
lại là tàu truyền thống của ngư dân được cải hoán từ các tàu nghề lưới rê và câu đáy.
Năm 2005, sản lượng khai thác cá ngừ đại dương ước đạt 11.000 tấn, tương đương
giá trị khoảng 850 tỷ đồng (Báo cáo của Bộ Thủy Sản, 2006). Xuất khẩu cá ngừ
Việt Nam cũng phát triển nhanh từ sau năm 2000. Các doanh nghiệp Việt Nam đã
cố gắng mở rộng thị trường từ con số 25 thị trường năm 2002, đến năm 2005 cá ngừ
của Việt Nam đã xuất sang trên 60 nước trên thế giới, với các thị trường chính là
Mỹ, Nhật, Australia, New Zealand, Đài Loan,….Sản lượng cá ngừ xuất khẩu cả
nước năm 2005 đạt 28.580 tấn, trị giá 78.402 triệu USD, tăng 43% so với năm 2004
(Phạm Tuyết Nhung, 2006).
Nhận thức được vai trò quan trọng của nghề sản xuất cá ngừ đại dương, trong
thời gian qua, Bộ Thủy sản đã chọn cá ngừ đại dương là đối tượng mục tiêu ưu tiên
để phát triển nghề cá xa bờ, nhưng do sự phát triển nhanh và ồ ạt, nên nghề sản xuất
2
Kết quả nghiên cứu cho thấy rất ít khi các tàu gặp phải tai nạn khi hoạt động
khai thác cá ngừ, nhưng qua đó cũng cho thấy nguy cơ tiềm ẩn tai nạn là rất lớn. Có
hai yếu tố dẫn đến nguy cơ tai nạn lớn là: Ý thức chủ quan của ngư dân; Tình trạng
tàu thuyền, máy động lực trang thiết bị do đưa vào khai thác đã quá cũ kĩ, xuống
cấp không đáp ứng theo tiêu chuẩn an toàn hiện hành.
Tình trạng bỏ nghề không còn hoạt động nghề câu chuyển sang nghề khác đang
có xu hướng ra tăng. Để giải thích cho tình trạng này có rất nhiều nguyên nhân.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục tiêu chung
Điều tra hiện trạng tàu thuyền; máy động lực; trang thiết bị tàu; trang bị cứu
thủng của nghề câu cá ngừ đại dương và đề xuất các khuyến nghị nhằm đảm bảo an
toàn trong họat động khai thác cá ngừ tại địa phương
3.2. Mục tiêu cụ thể
+ Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá hiện trạng tàu
thuyền nghề khai thác cá ngừ đại dương.
+ Điều tra thực trạng tàu thuyền; máy động lực; trang thiết bị tàu; trang bị cứu
thủng tại các phường Vĩnh Thọ, Vạn Thạnh Tp Nha Trang và huyện Vạn Ninh tỉnh
Khánh Hòa
+ Xây dựng và đề xuất mô hình tàu thuyền; máy động lực; trang thiết bị tàu;
trang bị cứu thủng đảm bảo hoạt động an toàn hiệu quả phù hợp với địa phương
nghiên cứu.
+ Đề xuất những khuyến nghị nhằm đảm bảo an toàn cho nghề câu vàng cá ngừ
đại dương tại Nha Trang.
4. Câu hỏi nghiên cứu.
- Hiện trạng về tàu thuyền; máy động lực; trạng thiết bị tàu; trang bị cứu thủng
trên các tàu câu cá ngư tại phường Vĩnh Thọ, Vạn Thanh Tp Nha Trang và huyện
Vạn Ninh như thế nào?
4
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên.
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Khánh Hòa là một trong những tỉnh nằm ở miền duyên hải Nam Trung bộ, phía
Bắc giáp tỉnh Phú Yên, phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Tây giáp hai tỉnh Đắc
Lắc và Lâm Đồng, phía Đông giáp
biển Đông. Trên bản đồ Việt Nam,
Khánh Hòa nằm ở tọa độ địa lý từ
11
0
42
’
50
’’
N đến 12
0
52
’
N và từ
108
0
40
’
33
’’
E đến 109
0
27
’
55
’’
thuỷ sản và đặc sản có giá trị kinh tế cao. Với 7 bán đảo lớn và trên 200 đảo nhỏ tạo
thành nhiều đầm, vịnh kín gió tạo điều kiện cho các đàn cá di cư đến sinh sản. Ven
bờ có nhiều rạn san hô là nơi có đa dạng hải sản sinh sống với giá trị kinh tế cao.
1.1.1.2. Khí hậu, thời tiết
Nằm trong khu vực duyên hải miền Trung, Khánh Hòa chịu ảnh hưởng khí hậu
nhiệt đới gió mùa nhưng khô ráo ôn hòa, quanh năm nắng ấm, thường chỉ có hai
mùa rõ rệt là mùa khô kéo dài từ 8 đến 9 tháng và mùa mưa ngắn chỉ từ 3 đến 4
tháng. Mưa bão, gió mùa Đông bắc cũng như áp thấp nhiệt đới chỉ ảnh hưởng đến
vùng biển Khánh Hoà từ tháng 9-12, vì vậy rất thuận lợi cho hoạt động khai thác hải
sản, đặc biệt tàu dưới 30 CV có thể sản xuất từ 230 – 280 ngày/ năm. Nhiệt độ trung
bình hàng năm trên dưới 26
0
C, các tháng cuối năm và đầu năm hơi lạnh nhưng
không rét buốt, mùa hè ít bị ảnh hưởng bởi gió tây. Lượng mưa cũng tương đối ít,
trung bình từ 1.200 đến 1.800 mm.
Biển Khánh Hoà chịu ảnh hưởng của 2 dòng hải lưu chính: dòng chảy mùa gió
Tây Nam và dòng chảy gió mùa Đông Bắc. Dòng hải lưu nóng đưa theo nhiều ấu
trùng, thức ăn và nhiều loài cá đến tạo ngư trường phong phú với sản lượng cao.
Dòng hải lưu mạnh đẩy cá đi xa bờ gây khó khăn cho nghề khai thác thuỷ sản. Hoạt
động của chế độ hải lưu tạo thành hiện tượng nước trồi lưu động từ tháng 4 đến
tháng 10 nên đây là mùa cá chính của Khánh Hoà. Từ tháng 11 đến tháng 3 năm
sau, ảnh hưởng của nước triều yếu dần, cá di cư xa bờ làm sản lượng cá giảm rõ rệt.
7
Thuỷ triều Khánh Hoà thuộc loại thuỷ triều hỗn hợp thiên về nhật triều. Trong một
tháng có khoảng 20 ngày nhật triều, tháng có hoạt động thuỷ triều mạnh nhất là
tháng 6 đến 7 và tháng 11 đến 12.
1.1.1.3. Tiềm năng nguồn lợi thuỷ hải sản của tỉnh Khánh Hoà.
Khánh Hoà là một trong những vùng đất địa hình thuận lợi, thiên nhiên ưu đãi
với khí hậu ôn hoà. Ngoài lợi thế về du lịch, Khánh Hoà còn có một thế mạnh khác
- Ngư trường Bắc Khánh Hòa từ vĩ tuyến 12
0
30’N trở lên. Nghề truyền thống:
giã đơn, vây rút chì, rê lộng, đăng, trủ bao ánh sáng, giã đôi, pha xúc, vó mành, lưới
cước, lưới chồng…
- Ngư trường vùng Nha Trang nằm trong phạm vi từ vĩ tuyến 12
0
00’N đến
12
0
30’ N. Nghề truyền thống: giã đơn, trũ rút ánh sáng, đăng, vó mành ánh sáng,
pha xúc, vây rút chì, câu, lưới cản, lưới chồng, lưới hai, giả đôi…
- Ngư trường Nam Khánh Hòa từ vĩ tuyến 12
0
00’N trở xuống phía Nam. Ở
đây ngư dân có nghề truyền thống: giã đơn, trũ rút, pha xúc, vây rút chì, giả đôi…
Ở vùng biển Khánh Hòa có thể khai thác cá biển quanh năm nhưng có hai
vụ chính
Vụ Bắc ( từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau)
Vụ Nam (từ tháng 4 ÷ 9). Tuy vậy, càng đi xuống Nam, vụ Nam thường xuất
hiện chậm hơn (khoảng tháng 7 ÷ 9).
Trong vụ Bắc thường đánh bắt đựơc các loài cá: Cá Trích, Nục, Hồng, Mối.
Còn vụ Nam, các loài đánh bắt chủ yếu là Cá Thu, cá Cơm, Trích, Nục, Lầm,
Chuồn.
Ở vùng biển Khánh Hòa, sản lượng hải sản chủ yếu là các đối tượng di cư
theo mùa được khai thác ở tầng mặt và tầng giữa. Công cụ khai thác các loài di cư
tầng mặt chiếm hơn 75% số lượng tàu thuyền và hơn 65% về công suất. Đặc biệt ở
Khánh Hòa rất phát triển nghề Đăng, đó là nghề truyền thống có tính mùa vụ khai
thác trong năm, khai thác cá di cư nổi rất có hiệu quả.
9
Số lượng lao động toàn ngành thuỷ sản trong năm 2001 là 58.500 người, đến
năm 2005 tổng số lao động toàn ngành là 59.180 người. Trong năm 2006, lao động
trong ngành là 62.300 người, trong đó lao động đánh cá là 31.000 người, lao động
chế biến đông lạnh là 11.500 người, lao động đóng sửa tàu thuyền là 800 người, lao
động nuôi trồng toàn tỉnh là 16.500 người, lao động dịch vụ khác là 2.500 người.
Bên cạnh đó, cơ cấu lao động trong từng ngành nghề đã có sự thay đổi nhỏ. Sự phát
triển trong nội bộ ngành thuỷ sản mà trước hết là công nghiệp chế biến thuỷ sản có
vai trò quyết định trong việc bố trí chuyên môn hoá sản xuất trong khai thác và nuôi
trồng thuỷ sản, tác động đến cơ cấu ngành nghề phát triển theo hướng tập trung vào
nguyên liệu chế biến xuất khẩu. Hiện nay, tại tỉnh Khánh Hòa, lao động trong nghề
khai thác có xu hướng giảm còn lao động trong nghề nuôi trồng, chế biến, dịch vụ
có xu hướng tăng lên, đặc biệt là nghề nuôi trồng. Đây cũng là xu hướng phát triển
chung của cả nước.
Bảng 1.1. Tổng số lao động trong ngành thuỷ sản Khánh Hoà từ năm 2001-2006.
Lao động trong ngành
Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
LĐ khai thác hải sản 30.000 30.500 29.500 30.789 29.450 31.000
LĐ chế biến đông lạnh 10.800 11.250 11.500 11.500 10.925 11.500
Sở Thuỷ sản đã phối hợp với một số cơ sở đào tạo tổ chức chiêu sinh và đào tạo
nhiều lớp thuyền trưởng cho ngư dân, tạo điều kiện cho ngư dân có đủ điều kiện cần
thiết khi hành nghề trên biển. Thế nhưng các lớp này cũng chưa được chú trọng đầu
tư đúng mức, chủ yếu hỗ trợ ngư dân có chứng nhận hành nghề khai thác nên kết
quả mang lại chưa cao.
1.1.2.3. Phân bố dân cư nghề cá theo đơn vị hành chính.
Cụm dân cư nghề cá tỉnh Khánh Hòa được phân bố ở các khu vực thành phố và
các huyện, thị xã có mặt giáp biển được thể hiện qua bảng tổng hợp sau :
Bảng 1.2. Cụm dân cư nghề cá tỉnh Khánh Hòa.
STT
Thành phố Nha Trang
Thị xã Cam Ranh Huyện Vạn Ninh
Huyện Ninh Hòa
12
1 Phường Vĩnh Thọ Xã Cam Bình Xã Đại Lãnh Xã Ninh Hải
2 Phường Vĩnh Phước Phường Cam Linh Xã Vạn Thọ Xã Ninh Diêm
3 Phường Xương Huân Phường Cam Lợi Xã Vạn Long Xã Ninh Thuỷ
4 Phường Vĩnh Nguyên Thị trấn Ba Ngòi Xã Vạn Phước Xã Ninh Phước
5 Phường Vĩnh Trường Phường Cam Thuận
Xã Vạn Thắng Xã Ninh Vân
6 Xã Phước Đồng Xã Cam Phú Thị trấn Vạn Giã
Xã Ninh Ích
7 Xã Vĩnh Lương Xã Cam Phúc Bắc Xã Vạn Hưng Xã Ninh Lộc
cao nhất trong vòng 5 năm
(8,6%). Điều này có thể giải thích
do trong năm 2005, nhờ chính sách hỗ trợ phát triển khai thác hải sản của tỉnh, một
số chủ trang trại nuôi tôm sú gặp phải khó khăn về dịch bệnh đã chuyển sang đóng
mới tàu tham gia khai thác hải sản mà chủ yếu là khai thác tôm hùm con và một số
loài cá nhỏ phục vụ cho việc nuôi tôm hùm lồng.
Tàu thuyền thủ công không tăng, trong năm 2005, một lượng lớn tàu thủ công
chuyển sang gắn máy dưới 20 CV. Đội tàu này chia làm 2 nhóm, một nhóm chủ yếu
thực hiện dịch vụ hậu cần nghề cá như chở đá cây, vận chuyển cá và ngư dân ra vào cảng
tại khu vực thành phố Nha Trang, nhóm khác hoạt động tại các huyện Vạn Ninh, Cam
Ranh, Ninh Hòa tham gia khai thác nguồn lợi hải sản ven bờ với ngư cụ rất thô sơ.
CHỈ TIÊU ĐVT
Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
Tổng số thuyền chiếc 4.812 4.901 4.944 4.995 5.424 5.524
Số thuyền máy chiếc 3.312 3.401 3.444 3.495 5.417 5.517
Tổng công suất CV 110.578
123.900
(%)
Số
lượng
Tỉ lệ
( %)
Số
lượng
Tỉ lệ
( % )
Số
lượng
Tỉ lệ
(%)
Dưới 20 CV 1.220 35,4 1.225 35,5 2.684 49,5 2.684
48,7
Từ 21-45 CV 1.290 37,5 1.292 37,4 1.578 29,1 1.578
28,6
Từ 46-89 CV 670 19,4 673 19,5 786 14,5 786 14,2
Từ 90-149CV 195 5,7 236 5,6 312 5,8 412 7,5
Từ 150-399CV 69 2,0 69 2,0 54 1,0 54 0,9
Trên 400 CV - - - - 3 0,1 3 0,1
Tổng số 3.444 100,0 3.495 100,0
mang lại kết quả kinh tế cao như nghề vây, nghề mành, nghề xúc, nghề trủ. Những
nghề này một phần cung cấp lượng cá chủ yếu cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của
người dân tại Nha Trang, một phần cung cấp nguyên liệu đầu vào cho hoạt động
nuôi trồng thủy sản tại Khánh Hòa như tôm hùm con, thức ăn cho tôm và một số hải
sản nuôi khác. Bên cạnh đó, một số nghề xa bờ bước đầu mang lại kết quả kinh tế
cao như nghề lưới rê thu ngừ, nghề câu vàng cá ngừ đại dương. Đây là những nghề
mà ngành Thủy sản cũng như địa phương đang có chính sách hỗ trợ phát triển trở
thành những nghề chủ lực của tỉnh trong tương lai, góp phần nâng cao sản lượng
khai thác, giảm bớt áp lực khai thác gần bờ, tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho xuất
khẩu thủy sản.
Trong những năm gần đây, nhờ có các chính sách đúng đắn mà ngành khai thác
có những bước phát triển đáng kể thể hiện qua sự đa dạng hoá ngành nghề, đầu tư
16
đóng mới các tàu thuyền, trang bị thiết bị hiện đại trên tàu để đánh bắt dài ngày trên
biển như máy định vị ngư trường, máy dò cá, hệ thống thông tin liên lạc, tủ cấp
đông, nhờ đó làm giảm bớt áp lực khai thác gần bờ và sản lượng khai thác khai thác
xa bờ cũng tăng lên đáng kể.
Chương trình khai thác xa bờ, đa số có kết quả cao, đời sống ngư dân được nâng
cao, tuy nhiên việc thu hồi nợ rất khó khăn. Có một số chủ tàu làm ăn kém hiệu quả
do năng lực yếu kém và thiếu kinh nghiệm khai thác đã có hướng chuyển đổi chủ
đầu tư. Sở Thuỷ sản đã phối hợp với chi nhánh Quỹ hỗ trợ phát triển Khánh Hoà
thực hiện kiểm kê tài sản tất cả các tàu vay vốn tín dụng trong chương trình khai
thác xa bờ nhằm phân loại để xử lý theo quyết định số 89/2003/QĐ -TTg ngày
08/5/2003 của Thủ tướng Chính phủ.
Đến cuối năm 2006, toàn tỉnh có 5.517 tàu thuyền gắn máy với tổng công suất
224.775 CV. Trong đó, đội tàu khai thác xa bờ của tỉnh tương đối mạnh bao gồm
469 chiếc có công suất từ 90 CV trở lên. Ngư trường hoạt động khai thác xa bờ
tương đối rộng, kéo dài từ Khánh Hoà đến Kiên Giang và tập trung nhiều nhất tại
các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa- Vũng Tàu và Kiên Giang. Hoạt động
tình trạng này có thể do:
- Nguồn lợi thuỷ sản ven bờ suy giảm do khai thác quá mức.
- Bên cạnh đó, một số ngư dân làm nghề cản lộng, giã cá hay mành đèn có xu
hướng chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản, tận dụng mặt nước ven bờ nuôi Vẹm xanh.
- Thời tiết có chiều hướng không thuận lợi cho việc khai thác hải sản.
CHỈ TIÊU ĐVT
Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
Sản lượng KTTS
Tấn 66.130 67.600 66.095 59.700 66.190 65.000
Tổng số thuyền chiếc
4.812 4.901 4.944 4.995 5.424 5.524
Tổng công suất CV
110.578 123.900
132.602
Giáo dục cộng đồng để mọi người dân khi tham gia hoạt động nghề cá đều có ý
thức chấp hành tốt Luật Thuỷ sản, Luật biển và các công ước quốc tế cũng như luật
pháp Việt Nam.(Định hướng phát triển nghề cá Khánh Hòa 1, năm 2005).
19
1.2. Tình hình nghiên cứu về vấn đề liên quan đến đề tài.
Liên quan đến việc điều tra đánh giá hiện trạng tàu thuyền trang bị động lực,
trang thiết bị tàu, trang bị cứu thủng tại việt nam đã có một số công trình nghiên cứu
sau:
Điều tra tình hình tai nạn tàu thuyền nghề cá Việt Nam từ 1980- 1989 đề do
trường đại học thủy sản thực hiện. Tác giả TS Phan Trọng Huyến
Nghiên cứu một vài tiêu chuẩn an toàn hàng hải của tàu thuyền nghề cá Việt Nam
trên quan điểm thiết kế và trang bị tàu đề tài cấp trường năm 1996 tác giả TS Phan
Trọng Huyến
Năm 1994 PGS- TS Nguyễn Quang Minh thực hiện công trình nghiên cứu đề tài
“nghiên cứu tính ổn định với nghề cá ven bờ các tỉnh phía nam Việt Nam”.
Nghiên cứu thiết kế các loại tàu cá cỡ nhỏ có khả năng hoạt động an toàn trên vùng
biễna bờ ( khu vực trường sa –DK1) - Chủ nhiệm đề tài TS. Phạm Ngọc Hòe
Thực trạng an toàn sản xuất trên tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương tỉnh Khánh
Hòa. Đồ án tốt nghiệp của SV Nguyễn Ngọc Dương lớp 43 AT Đại Học Nha Trang.
Đề tài chỉ nghiên cứu nhưng tai nạn xảy ra đối với công nhân trong quá trình khai thác
chứ chưa đi nghiên cứu thực trạng hay đi phân tích các nguy cơ tai nạn đối với tàu
thuyền; máy động lực; trang bị tàu; trang bị cứu thủng.
Nghiên cứu tính phù hợp của quy phạm trang bị an toàn hàng hải với thực tiễn tàu
thuyền nghề cá Việt Nam đề tài cấp Bộ GD& ĐT năm 2000, tác giả TS Phan Trọng
Huyến. Đề tài này chỉ nghiên cứu tính phù hợp của các quy phạm trang bị an toàn
chung cho tàu thuyền nghề cá nói chung, không đi sâu vào nghiên cứu cụ thể cho nghề
câu cá ngừ đại dương
- “Tổng quan nghề cá Khánh Hòa” do Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng và
Viện Kinh tế & Quy hoạch thủy sản thực hiện đã khái quát sơ lược những nét cơ
07/5/1998 được trang bị theo các tiêu chuẩn Việt Nam như sau :
21
- Phòng cháy chữa cháy: Theo TCVN 4007 – 85
- Phương tiện cứu sinh : Theo TCVN 4018 – 85
- Phương tiện tín hiệu : Theo TCVN 4019 – 85
- Trang bị vô tuyến điện: Theo TCVN 4020 – 85
- Trang bị hàng hải: Theo TCVN 4021 – 85
- Phòng, phát hiện và chữa cháy : Theo TCVN 6529-5 : 1997
- Quy phạm trang bị an toàn tàu biển (gồm : Phương tiện cứu sinh, phương tiện
tín hiệu, trang bị vô tuyến điện, trang bị hàng hải) : Theo TCVN 6278 : 1997.
- Phân cấp tàu theo: 28 TCN 140 : 2000.
- Vỏ tàu theo: TCVN 3903 – 1994.
- Máy tàu và trang thiết bị theo: TCVN 6259 – 1997.
Các phương tiện nghề cá có chiều dài đường nước thiết kế từ 20 mét trở xuống,
phương tiện hoạt động ở vùng biển ven bờ được trang bị an toàn tối thiểu theo quy
định tại tiêu chuẩn ngành "28 TCN 91-90: Tàu cá cỡ nhỏ - Trang bị an toàn".
1.4. Tổng quan tàu thuyền, trang bị khai thác tàu cá việt nam.
1.4.1. Tàu thuyền nghề cá.
- Tàu cá cả nước.
Tàu
cá
nước
ta đa số
là
nhân
là
chủ
yếu.
Có trên 75.000 phương tiện gắn máy với công suất bình
quân khoảng 49 CV/chiếc. Tổng công suất đội tàu trên 4.000.000 CV. Có khoảng
8.000 chiếc tàu có khả năng đánh bắt xa bờ. Trong những năm gần đây tàu cá
nước ta có những chuyển biến tích cực, cả về số lượng và công suất máy (Nếu như
năm 1990 tổng số tàu cá nước ta là 45.000 chiếc với công suất bình quân là
22CV/chiếc thì tính đến tháng 5 năm 2005 cả nước ta có khoảng 97.600 chiếc và
22
công suất bình quân là 55CV/chiếc). Vật liệu đóng tàu cá nước ta chủ yếu là gỗ.
Trong tổng số 97.600 tàu cá nước ta hiện nay, tàu cá vỏ gỗ chiếm tới hơn 90%.
Bảng 1.6. Số lượng tàu thuyền đánh bắt xa bờ cả nước.
Năm 2000
2001 2002 2003 2004 2005 Sơ bộ 2006
Số lượng tàu thuyền
9766
14326
15988
giám sát kỹ thuật trong đóng mới và trong quá trình khai thác. Tuy nhiên, nội dung
giám sát được giảm bớt rất nhiều so với tàu giao thông, công tác thử nghiệm trong
đóng mới mang tính hình thức và không đánh giá được tính ổn định của tàu (không
lập thông báo ổn định).
Hiện tại ngành Thuỷ sản chỉ có 2 cơ sở thiết kế tàu cá có đội ngũ cán bộ dưới
100 người có chuyên môn cao. Đồng thời, ở một số địa phương có nghề cá phát
triển cũng có một số đơn vị tư vấn tàu thuyền, song hoạt động ở phạm vi nhỏ lẻ. Số
cơ sở đóng tàu thuộc ngành có đủ năng lực đóng tàu thuyền nghề cá theo thiết kế
không nhiều (cả nước có khoảng trên dưới 10 đơn vị ) còn lại ở các địa phương chủ
yếu là các cơ sở nhỏ lẻ, đóng lắp theo kinh nghiệm dân gian.
Tàu cá đóng mới cần phải thỏa mãn nghiêm ngặt về tính nổi, tính ổn định, tính
lắc, độ bền,…Việc đóng tàu không theo thiết kế dẫn đến hậu quả là thường thừa
bền, không quản lý được các tính năng (tính ổn định, tính lắc) làm con tàu không
đảm bảo được an toàn trong quá trình khai thác trên biển. Khi gặp sóng to, gió lớn,
cũng như lúc làm việc do sự phân bố tải trọng không đều, nếu con tàu không đảm
bảo được tính ổn định thì rất dễ bị lật tàu gây tai nạn. Tàu đóng không theo thiết kế,
không quản lý được tính lắc dẫn tới việc tàu lắc không theo ý muốn và nếu tàu lắc
quá làm cho sức chịu đựng của thuyền viên không đảm bảo, dễ bị tai nạn hơn.
Ngoài ra, mỗi loại nghề khai thác cá đòi hỏi con tàu có tính năng khác nhau. Tàu
đóng không theo thiết kế thì tính năng của nó sẽ khó đảm bảo phù hợp với yêu cầu
riêng của nghề khai thác.
1.4.2. Nhận xét tổng quan nghề cá cả nước:
Tình
hình
đóng
mới,
đây
tăng
rất
nhanh
cả
về
số
lượng
cũng
như
công
suất
máy.
Tuy
nhiên,
thiết
bị
phục
vụ
trên
tàu
(về
số
lượng,
chất
lượng
cũng
như
vị
trí
nghiệp
vụ
cũng
như
ý
thức
của thuyền
viên
(thuyền
trưởng,
máy
trưởng,
thuyền
viên)
trong
với
an
toàn
của
tàu
thuyền
cũng
như người lao động
làm
việc
trên
tàu. 24
Chương 2.
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
2.1. Phạm vi và nội dung nghiên cứu.
Đồ án tập trung nghiên cứu về thực trạng tàu thuyền, máy động lực, trang thiết
2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu
2.2.3.1. Nguồn số liệu
- Số liệu thứ cấp: Số lượng tàu thuyền, năng lực khai thác được thu thập từ
Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản Khánh Hòa, Sở thuỷ sản Khánh Hòa, UBND
thành phố Nha Trang, phường Vĩnh Thọ, Vạn Thạnh và các trang Web Bộ Thủy
Sản, Tổng cục Thống kê.
Vấn đề nghiên cứu
1. Hiện trạng về tàu thuyền; máy động lực; thiết bị tàu; trang b
ị
cứu thủng cho nghề câu cá ngừ đại dương.
2. Phân tích và các nguy cơ ti
ềm ẩn tai nạn đối với nghề câu ngừ