Nghiên cứu bệnh hoại tử thần kinh (viral nervous necrosis - VNN) ở một số loài cá biển nuôi ở Khánh Hòa - Pdf 26


1

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực tập tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô
giáo, bạn bè và những người thân.
Bằng tình cảm chân thành tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới quý thầy cô khoa NTTS,
trường Đại Học Nha Trang đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đồ án tôt nghiệp này.
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Đỗ Thị Hòa cùng Th.S Trần Vĩ Hích đã trực
tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đồ án.
Xin cảm ơn chị Nguyễn Thị Nguyệt Huệ và các anh chị công tác tại phòng thí nghiệm
bộ môn Bệnh Học Thủy Sản đã tận tình chỉ bảo, tạo điều kiện giúp đỡ tôi suốt thời gian thực
hiện đồ án.
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban điều hành dự án NORAD, khoa NTTS, trường Đại
học Nha Trang đã hỗ trợ cơ sở kinh phí, cơ sở vật chất và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi
hoàn thành đồ án này.
Lời cảm ơn chân thành xin được gửi tới những người bạn cùng thực tập tại phòng thí
nghiệm bộ môn Bệnh học Thủy Sản và những người thân đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực
hiện đồ án.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nha Trang, tháng 11 năm 2007
Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Duyên

mắt cá. Không bào hình tròn có đường kính từ 4-16 µm, màu trắng đục, riêng trong mô mắt
không bào còn có hình elip kích thước (6; 12) và (12;25) µm. Trong khi mô não và mắt của
những cá khoẻ của 17 mẫu cá này và 47 mẫu cá còn lại không thấy xuất hiện những không bào.
Bệnh VNN đã xuất hiện trên cả 3 loại cá biển đang được nuôi ở Khánh Hoà là cá Mú
Epinephelus spp, cá Chẽm Lates calcarifer, cá Bớp Rachycentron canadum với tỷ lệ nhiễm lần
lượt là 31,25%, 20% và 23,53%. Tỷ lệ nhiễm VNN chung trên cả 3 loại cá biển trên là 26,56%.
Điều tra thực tế 45 hộ ương nuôi cá biển tại Khánh Hoà cho kết quả 42 hộ (chiếm
93,33%) gặp hội chứng có dấu hiệu bệnh lý giống với bệnh VNN (LVNNS). Hội chứng
LVNNS xuất hiện ở cả 3 loại cá biển là cá Mú, cá Chẽm, cá Bớp trong đó có 2 loài cá đang
được nuôi nhiều ở Khánh Hoà là cá Mú và cá Chẽm với các dấu hiệu là cá bơi không định
hướng, bỏ ăn, thân đen xám, nằm đáy lồng, tấp bờ, rồi chết. Cá xuất hiện hội chứng này vào
mùa nóng từ tháng 3 đến tháng 9 và gây chết nhiều ở giai đoạn cá nhỏ hơn 5 cm. Thực người
dân không áp dụng biện pháp kỹ thuật nào khi cá mắc hội chứng trên, ngoại trừ việc vớt bỏ cá
bệnh ra khỏi bể, ao, lồng nuôi ương nuôi.

3

MỤC LỤC

Trang
Danh mục các bảng i
Danh mục các hình i
Các thuật ngữ viết tắt ii
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
PHẦN 2. TỔNG LUẬN 3
2.1. Vài nét về đối tượng nghiên cứu 3
2.1.1. Hệ thống phân loại 3
2.1.2. Thành phần giống loài và sinh thái phân bố 3
2.1.3. Đặc điểm về dinh dưỡng, sinh sản, tốc độ tăng trưởng 4
2.2. Tình hình sản xuất giống và nuôi cá biển 5

Nervuos Necrosis-LVNNS) trên cá biển nuôi tại Khánh Hoà 29
4.2.1. Một số dấu hiệu bộc lộ ở cá bị nhiếm LVNNS 29
4.2.2. Loài, cỡ cá, mùa vụ xuất hiện hội chứng bệnh giống với bệnh hoại tử
thần kinh (LVNNS) trên cá biển nuôi ở Khánh Hoà 30
4.3. Kết quả nghiên cứu mô bệnh học ở các mẫu cá bị hội chứng giống với bệnh
hoại tử thần kinh (LVNNS) ở cá biển nuôi tại Khánh Hoà 33
4.3.1. Đặc điểm của các mẫu cá biển thu trong thời gian nghiên cứu 34
4.3.2. Những biến đổi mô bệnh học ở các mẫu cá biển có biểu hiện bên ngoài
giống với bệnh VNN 35
4.3.3. Tỷ lệ cảm nhiễm virus gây hoại tử thần kinh (VNN) trên cá Mú ương
nuôi tại Khánh Hoà 42
4.3.4. So sánh bước đầu về sự cảm nhiễm bệnh VNN ở cả ba loại cá biển nuôi
tại Khánh Hoà: cá Mú (Epinephelus spp), cá Bớp (Rachycentron canadum) và cá
Chẽm (Lates calcarifer) 43
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 44
5.1. Kết luận 44
5.1.1. Về tình hình nuôi cá biển tại Khánh Hoà 44
5.1.2. Về kết quả điều tra về hội chứng giống bệnh hoại tử thần kinh (Like
Viral Nervous Necrosis-LVNNS) trên cá biển nuôi tại Khánh Hoà 44
5.1.3. Về kết quả nghiên cứu mô bệnh học ở các mẫu cá bị hội chứng giống
với bệnh hoại tử thần kinh (LVNNS) ở cá biển nuôi tại Khánh Hoà 45
5.2. Đề xuất ý kiến 45
5

6CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
CTV, et al: cộng tác viên
LVNNS: hội chứng bệnh có dấu hiệu bên ngoài giống với bệnh hoại tử thần kinh- VNN
NTTS: nuôi trồng thuỷ sản
KST: kí sinh trùng
Tp: thành phố
TX: thị xã
VNN: Viral Nervous Necrosis-virus gây hoại tử thần kinh ở cá biển
(Rachycentron canadum), cá Chẽm (Lates calcarifer)… . Các kết quả điều tra của TS. Bùi
Quang Tề cho thấy các loài cá Mú (Epinephelus spp) nuôi lồng trên Vịnh Hạ Long, nuôi tại
vùng biển Nha Trang cũng thường gặp bệnh có dấu hiệu tương tự như bệnh hoại tử thần kinh
(Viral Nervous Necrosis – VNN). Tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu sâu về bệnh này ở Việt
Nam, đặc biệt là Khánh Hòa. Do vậy đặt vấn đề nghiên cứu bệnh hoại tử thần kinh ở một số
loài cá nuôi tại Khánh Hòa là điều rất cần thiết, nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội và góp phần
vào việc nghiên cứu bệnh VNN ở Việt Nam. Được sự cho phép của nhà trường, của khoa
NTTS, của giáo viên hướng dẫn, tôi đã thực hiện đề tài tốt nghiệp với tiêu đề “NGHIÊN CỨU
BỆNH HOẠI TỬ THẦN KINH (VIRAL NERVOUS NECROSIS–VNN) Ở MỘT SỐ LOÀI
CÁ BIỂN NUÔI Ở KHÁNH HÒA”. Đề tài này gồm các một số nội dung chính như sau:
1. Tìm hiểu một số đặc điểm dịch tế học của bệnh VNN

2

2. Nghiên cứu sự biến đổi mô bệnh học ở một số loài cá biển nuôi tại Khánh Hoà bị
nhiễm virus VNN
3. Xác định mức độ cảm nhiễm của bệnh VNN trên một số loài cá biển nuôi ở Khánh
Hòa
Để thực hiện đề tài tốt nghiệp này bản thân tôi đã có nhiều cố gắng để vận dụng các kiến
thức đã học vào việc nghiên cứu. Tuy vậy do trình độ bản thân còn hạn chế nên báo cáo đề tài
không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn . Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Duyên
Giống cá Vược: Psammoperca
Loài: Psammoperca waigiensis Họ: Rachycentridae
Giống: Rachycentron canadum
Loài: Rachycentron canadum
2.1.2. Thành phần giống loài và sinh thái phân bố
Theo Lê Trọng Phấn (1993) họ cá Mú có 75 giống và trên 400 loài. Trong đó ở Việt
Nam họ cá Mú có tới 48 loài và 11 giống. Theo TS. Nguyễn Tuần Viện Nghiên cứu nuôi
trồng Thủy Sản II, cá Mú nằm trong họ phụ Epinephelinae có 159 loài thuộc 15 giống. Nhưng
theo kết quả nghiên cứu của Đào Minh Sơn và Đỗ Văn Nguyên (1998) thì cá Mú ở Việt Nam
có tới 13 giống với trên 40 loài. Tuy nhiên cá kinh tế chỉ khoảng 23 loài thuộc 6 giống:
Anyperodon, Cromileptes, Plextropomus, Cephalopholis, Variola, Epinephelus [13, 14, 28].
Cá Mú, cá Chẽm, cá Bớp đều là loài cá vùng nước ấm, phân bố ở vùng biển nhiệt đới
và á nhiệt đới, nơi có rạn san hô, đá ngầm, phân bố rất ít ở vùng ôn đới [22, 23, 28]. Chúng
phân bố rộng từ Đông châu Phi, Hồng Hải, Ả Rập, Ấn Độ đến Indonesia, Philippine, Nhật
Bản, Trung Quốc, Việt Nam, Singapore, Bắc Úc. Riêng cá Mú, ở vùng biển Thái Bình Dương
Cá Mú Chấm Trắng
(Epinephelus caeruleopunctatus)
Cá Chẽm Lates calcarifer
Cá Bớp Rachycentron canadum
Hình 1: Một số hình ảnh các loài cá nghiên cứu

4

có tới 37 loài, Trung Quốc có 31 loài, Nhật Bản có 25 loài, Đài Loan có 27 loài, Hồng Kông

C và ngừng bắt mồi khi ở nhiệt độ nước ở 18,3
o
C (Richrads 1967).
Ngưỡng chịu đựng độ mặn của cá Bớp từ 22,4-44,5
o
/
oo
(Christesen 1965, Rossler, 1967), pH
thích hợp từ 7,5-8,3, oxy hoà tan lớn hơn 5,5 mg/L [9].
2.1.3. Đặc điểm về dinh dưỡng, sinh sản, tốc độ tăng trưởng
Cả 3 loài cá trên đều thuộc nhóm cá ăn dữ, ăn mồi động vật, thường rình bắt mồi nơi
yên tĩnh, tranh ăn dữ dội, con lớn lấn át con bé, khi đói thiếu thức ăn chúng ăn lẫn nhau. Cá
mới nở ăn động vật phù du, cá lớn từ cỡ từ 8-12 cm trở đi ăn tôm, tép, cá con… Chúng rất ít
khi ăn mồi đã chết và mồi chìm ở đáy [10, 28].
Tốc độ tăng trưởng của một vài loài cá Mú nuôi ở nước ta sau 1 năm: cá Mú Son
(Cephalopholis miniata) là 0,3–0,4 kg, cá Mú Đen Chấm Đen (E. malabaricus) là 0,8 kg; cá
Mú Đen Chấm Nâu (E. coioides) là 0,8 kg; cá Mú Ruồi E. tauvina là 1-1,2 kg; cá Mú Nghệ
(E. lanceolatus) là 3-4 kg [28]. Trong điều kiện tự nhiên, cá Bớp khi đánh bắt thường có chiều
dài từ 15-120 cm, có con dài 200 cm, trọng lượng đạt 68 kg. Đặc biệt trong điều kiện nuôi, cá
Bớp là đối tượng tăng trưởng nhanh, sau 6 tháng nuôi có thể đạt 1 kg, 1 năm nuôi đạt 5-6 kg;
2 năm nuôi đạt 8-10 kg. Tuy cá Bớp là loài tăng trưởng nhanh nhưng tuổi thọ lại ngắn. Người
ta xác định được rằng với cá đực có thể sống tối đa 9-13 năm, cá cái 11-14 năm [9, 10]. Cá
Mú là loài cá tập tính chuyển đổi giới tính, thông thường lúc còn nhỏ là cá cái, khi lớn lên
chuyển thành cá đực. Thời gian chuyển đổi giới tính thay đổi theo từng loài, loài cá Mú Đen
Chấm Đỏ (E. akaara) chuyển đổi giới tính lúc có chiều dài 27–30 cm với trọng lượng 0,7–1

5

kg, loài cá Mú Mỡ (E. tauvina) lúc có chiều dài 65–75 cm, loài cá Mú Chuột lúc có trọng
lượng trên 3 kg. Hệ số thành thục và sức sinh sản khác nhau ở các loài: ở cá Mú Đen Chấm

gia khác trong khu vực có sản lượng 1 năm khoảng 1.000-2.000 tấn trong những năm 1990-
1997 [24].

6

Năm 1981, Thái Lan bắt đầu nuôi cá Mú (Ratanochote, et al, 1985). Từ đó đã
có nhiều tài liệu kỹ thuật chăm sóc và cho sinh sản nhân tạo cá Mú như của Chaiyakarn, et al,
1993. Tuy nhiên việc sản xuất giống nhân tạo vẫn không hiệu quả, cá bột và cá hương thường
được thu từ tự nhiên bằng cách bẫy và giăng lưới là chủ yếu [27].
Theo Chu, 1996, ở Đài Loan có khoảng 300 trại sản xuất cá giống có khả năng
cung cấp khoảng 20.000 cá Mú bột mỗi năm. Hiện nay Đài Loan là nước sản xuất thành công
nhất về công nghệ sản xuất giống cá Mú, chủ yếu là cá Mú Chấm Nâu (E. coioides), cá Mú
Đen Chấm Đen (E. malabaricus), cá Mú Cọp (E. fuscoguttatus), cá Mú Nghệ (E.
lanceolatus). Một số nước Đông Nam Á cũng có những thành công nhất định trên quy mô thí
nghiệm với một số loài như Indonesia với cá Mú Chuột (Cromileptes altiveles) và cá Mú Cọp
(E. fuscoguttatus); Thái Lan với cá Mú Đen Chấm Đen (E. malabaricus); Việt Nam và các
nước khác như Trung Quốc, Philipine với cá Mú Chấm Nâu (E. coioides) [17, 27].
Từ những thành công đầu tiên trong nghiên cứu sinh sản nhân tạo loài cá Chẽm (Lates
calcarifer) ở Thái Lan đầu những năm của thập niên 70, nghề nuôi cá Chẽm đã phát triển
mạnh mẽ, đã trở thành một nghề nuôi có hiệu quả cao không chỉ ở Thái Lan mà lan rộng ra
các nước trong khu vực: Philippine, Indonesia, Malaysia, Singapore, Brunei, India, Đài Loan,
Austrlia và cả ở Papua new guinea. Theo Mackinnon, 1984, năm 1981 Thái Lan nuôi thương
phẩm đạt được 300 tấn. Theo Anon, 1985 đã tổng kết cá Chẽm được nuôi ở Thái Lan vào năm
1983 đạt được 512 tấn. Cá Chẽm (Lates calcarifer) là một trong những loài cá nuôi có triển
vọng ở Indonesia vì chúng sinh trưởng nhanh và dễ nuôi. Năm 1978 Indonesia thu được 571
tấn cá Chẽm nuôi nước lợ (Rabalal và Soesanto, 1982). Philippine bắt đầu nuôi cá Chẽm
(Lates calcarifer) từ những năm 1983 dựa vào kỹ thuật , kinh nghiệm của các nước trong khu
vực. Năm 1985 Fortes đưa cá Chẽm vào Philippine nuôi thí nghiệm và rút ra kết luận rằng
hình thức nuôi ghép cá Chẽm với Măng biển (Chanos chanos) hoặc Tilapia là có hiệu quả
nhất. Trại sản xuất cá Chẽm (Lates calcarifer) có qui mô lớn nhất được thành lập đầu tiên ở

Tại Hải Phòng, cá Mú nuôi lồng với thể tích 50 m
3
thả cỡ giống 12 cm/con, mật độ 19
con/m
3,
cho ăn

thức ăn tươi sống như cá tạp, cua, ghẹ…Sau 6 tháng nuôi cá thu hoạch đạt cỡ
trung bình 500 g/con, tỷ lệ sống ước tính đạt 75-78%, năng suất 7,2 kg/m
3
. Ở Huế cá Mú nuôi
lồng tròn hoặc ovan với đủ các loại kích cỡ, mật độ thả 30-45 con/m
3
[5]. Theo Lê Anh Tuấn,
2004 vào năm 1994-1995 Viện Nghiên cứu Hải Sản Hải Phòng kết hợp với Sở Nông Lâm
Ngư Quảng Ninh và công ty Đại Bàng Trung Quốc đã sản xuất thành công giống cá Mú Mỡ
(E. tauvina), cá Mú Đen Chấm Đen (E. malabaricus) tại Vịnh Hạ Long sau 3 tháng ương nuôi
đạt 13 cm tương ứng với khối lượng 50 g/con. Theo TS Nguyễn Tuần cho biết bắt đầu từ năm
1995 Bộ Thủy Sản đã giao đề tài ương giống cá Mú Đen Chấm Đỏ (E. akaara) cho một số
đơn vị nghiên cứu Hải Sản phía Bắc tiến hành tạo giống vì đây là loài cá có giá trị kinh tế cao,
phục vụ chiến lược xuất khẩu. Nhưng đến cuối năm 2001 mới sản xuất được giống cá Mú
Đen Chấm Đỏ với số lượng không đáng kể vì tỷ lệ sống thấp chỉ đạt trên dưới 1%. Theo các
chuyên gia về cá nước mặn, cá Mú Đen Chấm Đỏ là loại cá tương đối dễ nuôi và phát triển tốt
tại nhiều vùng nuôi nước mặn ở Việt Nam phù hợp với nhiều mô hình như lồng, ao. TS
Nguyễn Tuần cho biết nhóm nghiên cứu do ông phụ trách đã thành công trong việc ương
giống cá Mú Đen Chấm Đỏ vào năm 2004. Tuy nhiên cái khó hiện nay vẫn là khâu giống. Cá

8

Mú giống Đen Chấm Đỏ của Trung Quốc, Đài Loan được nhập về Việt Nam bán là 17.000

Tóm lại những loài cá trên đều là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao nhưng nghề
nuôi còn mang tính tự phát, người nuôi chưa hiểu về kĩ thuật nuôi, chưa xử lí chất thải ô
nhiễm môi trường, kinh nghiệm còn hạn chế [2, 10, 14, 27, 28], con giống thì người dân khai

9

thác ở các rạn lớn nên chất lượng không đảm bảo, nguồn giống nhập khẩu giá cao, không chủ
động… [Nguồn thời báo Kinh Tế Việt Nam, số 124, 23/06/2005].
2.3. Tình hình nghiên cứu bệnh cá biển trên thế giới
2.3.1. Bệnh do kí sinh trùng
Từ năm 1959–1973 nhà kí sinh trùng học nổi tiếng người Nga A.Parukhin đã tiến
hành nghiên cứu về KST trên một số loài cá Mú và cá biển ở Đông Nam Á (A.M Parukhin,
1976). Trong công trình nghiên cứu này ông đã hệ thống được thành phần giun sán kí sinh ở 4
loài cá Mú sống tự nhiên là: E. areolatus; E. fasciatus; E. orientalis, E. ascolatus. Kết quả đã
phát hiện được hơn 20 loài giun sán kí sinh ở ruột cá, trong 4 loài nghiên cứu thì thành phần
giun sán kí sinh là tương tự nhau. Riêng loài cá E. ascolatus có khả năng nhiễm giun sán hơn
3 loài kia [12].
Năm 1987, hai nhà khoa học là Leong Tak Seng và S.I.Wong ở Malaysia tiến hành
nghiên cứu khu hệ kí sinh trùng kí sinh ở cá Mú nuôi lồng và một số đối tượng cá biển nuôi
khác. Công trình nghiên cứu kí sinh trùng trên cá Mú Đen Chấm Đen (E. malabaricus), kết
quả tìm thấy 16 loài kí sinh trùng kí sinh ở cá Mú nuôi lồng và 11 loài kí sinh ở cá Mú ngoài
tự nhiên. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy mức độ cảm nhiễm kí sinh trùng ở cá nuôi cao gấp
3 lần cá Mú sống ngoài tự nhiên. Trong đó loài Pseudorhabdosynnochus epinepheli là phổ
biến nhất: tỷ lệ cá Mú nuôi nhiễm là 97,2%, cá Mú tự nhiên nhiễm 77%. Trong khi đó tỷ lệ
cảm nhiễm Trematoda loài Prosorhynchus pacificus ở cá nuôi là 81%, ở cá tự nhiên là 72%.
Theo tổng kết trong số 21 loài kí sinh trùng đã tìm thấy thì chỉ có 6 loài kí sinh trùng là gặp ở
2 nhóm cá nuôi và cá tự nhiên. Năm 1988, 2 tác giả trên đã kiểm tra trên 149 con cá Chẽm
(Lates calcarifer) trưởng thành, trong đố 102 con thu tại Bangkok, 47 con tại Songla (Thái
Lan) và 32 con kích cỡ thương phẩm nuôi ở Penang (Malaysia). Kết quả tìm thấy 17 loài kí
sinh trùng: 2 laòi thuộc Protozoa, 2 loài thuộc Monogenea, 6 loài thuộc Digena, 1 loài

Nam. Chúng có thể kí sinh ở tất cả các giai đoạn phát triển của cá từ cá con đến cá bố mẹ.
Trên cơ thể cá những nơi bị bọn này kí sinh vẩy bị mất, xuất hiện các vết xuất huyết hoặc vết
loét, bề mặt cơ thể nhiều chỗ sưng lên, cá bơi lội lờ đờ gần mặt nước, biếng ăn và tiết nhiều
nhớt. Một số loài thường kí sinh trên cá Mú nuôi như Caligus epidemicus, Caligus sp,
Lepeooptheirus sp [23].
Trên cá Mú E. coioides nuôi tại Philippine đã tìm thấy loài Zeylanicobdella arugamensis
kí sinh. Ngoài ra bệnh đỉa còn thấy trên rất nhiều loài cá Mú khác được nuôi ở Malaysia và
Thái Lan như E. bleekeri, E. malabaricus, E. lanceolatus, E. fuscoguttatus…Đỉa cá kí sinh
trên bề mặt cơ thể, miệng, khoang mũi và trên nắp mang. Chúng làm giảm khả năng bắt mồi,
khiến cá khó cử động nắp mang và làm cá chậm lớn, không những thế đỉa còn đóng vai trò
như một đường dẫn truyền cho các loài virus, vi khuẩn và động vật đơn bào kí sinh trong máu
xâm nhập. Bệnh gây chết cá nếu cảm nhiễm với cường độ cao [23].
2.3.2. Bệnh do vi khuẩn
Không phải tất cả vi khuẩn tồn tại trong cơ thể động vật thủy sản đều là tác nhân gây
bệnh. Ở động vật thủy sản vi khuẩn gây rất nhiều loại bệnh nguy hiểm khác nhau và là mối đe
dọa rất lớn trong ngành nuôi trồng thủy sản công nghiệp. Các bệnh nhiễm khuẩn ở cá Mú

11

thường có một số dấu hiệu giống nhau như cá xuất huyết ở trên mang và trong cơ thể, mắt cá
lồi, tích dịch trong ruột, xoang cơ thể hay dưới gốc vẩy [6].
Vi khuẩn Vibrio gây bệnh cho cá biển thường có các dấu hiệu như trên thân xuất hiện các
đốm nhỏ, tại đó cá bị tróc và rụng vẩy sau đó tạo các vết loét nhỏ và sâu, cá yếu, bơi lờ đờ,
ngửa bụng, xuất huyết [5, 24]. Bệnh Vibriosis đã được phát hiện trong nghề nuôi cá Mú ở rất
nhiều quốc gia như Brunei, Malaysia, Đài Loan, Thái Lan, Singapore…[23]. Đối với cá Mú
ương và nuôi lồng thường do nhóm vi khuẩnVibrio spp gây bệnh là chủ yếu [4, 5, 8, 12].
Những vi khuẩn Gram âm đặc biệt là V. parahaemolyticus & V. alginolyticus là nguyên nhân
gây bệnh xuất huyết máu ở cá Mú ương và nuôi lồng [23]. Hai loài vi khuẩn này gây bệnh
trên cá Mú ở Singapore thiệt hại số cá Mú Mỡ cỡ giống 2-4 cm rất lớn vào năm 1986-1991
(Lim, 1998). Nhóm vi khuẩn Vibrio còn gây bệnh trên các loài cá Mú E. salmoides (Ogbum,

làm thiệt hại 20–60% tổng số cá Mú nuôi lồng vào năm 1982–1986. Theo Muroga & CTV,
1977; Ueki & CTV, 1990 tại Nhật Bản vi khuẩn Pasteurell piscicida đã phân lập trên loài cá
Mú Chấm Đỏ. Ở Thái Lan, kết quả phân lập và xác định tên vi khuẩn trên cá Mú nuôi lồng
chủ yếu là do vi khuẩn Aeromonas spp, Flexibacter spp, Vibrrio spp, Streptococcus spp [4].
2.3.3. Bệnh do virus
Gây bệnh ở động vật thủy sản và ở cá biển nói riêng có rất nhiều giống virus. Theo
KenWolf, 1988, thế giới đã phát hiện và nghiên cứu 59 loài virus gây bệnh ở cá, trong đó nuôi
cấy virus thành công từ 23 loại bệnh ở cá [6]. Nhìn chung theo các kết quả nghiên cứu thì
bệnh virus ở cá Mú chủ yếu do Nodavirus và Iridovirus. Tuy nhiên chưa có thuốc đặc trị các
bệnh trên [2, 6, 21]. Dưới đây là một số bệnh thường gặp do virus gây ra trên cá Mú.
• Bệnh hoại tử thần kinh (Viral nervous necrosis – VNN)
Hiện nay bệnh VNN gây ra những tác hại rất lớn đối với nghề sản xuất giống cá biển nên
gần đây đã có khá nhiều những công trình nghiên cứu về bệnh VNN trên thế giới. Các công
trình nghiên cứu chủ yếu tập trung từ năm 1992 trở lại đây với sự đóng góp của rất nhiều nhà
khoa học như Chi SC, Nakai, Nishizawa, Munday, Danayadol, Zaffan, Sohn SG,
H.D.Nguyễn…Đối tượng của những nghiên cứu này chủ yếu là những loài cá Mú như E.
malabaricus, E. tauvina, E. fuscoguttatus, E. akaara, E. septemfaciatus, Cromileptes
altiveles…Ngoài ra còn có những đối tượng thủy sản khác như cá Chẽm Lates calcarifer, cá
Giò Raapcentron canadam, Psedocaranx dentex, Saparus aurata, Dicetrachus labrax…[6,
19, 21].
- Bệnh này có tên khác là: bệnh virus viêm màng lưới não (Viral encephalopathy and
retionpathy–VER) của cá biển; bệnh cá bơi xoắn (Spining Grouper Disease); bệnh cá Mú liệt
(Paralytic syndrome), bệnh cá điên… [6,18, 19, 20, 21].
- Tác nhân gây bệnh là Betanodavius thuộc họ Nodavirus, hình cầu đường kính 20-25 nm,
22-28 nm, 25–30 nm, acid nucleic là ARN. Virus kí sinh trong tế bào chất của các tế bào thần
kinh ở não và ở võng mạc mắt [6, 12, 19, 21, 24].
- Bệnh đã phát hiện ở ít nhất 20 loài cá biển Thái Bình Dương như cá Mú Epinephelus sp,
cá Giò Raapcentron canadam, cá Chẽm Lates calcarifer, Dicentrachus labrax, Anguila
alguila, Gadus morhua, Lateolabrax japonicus, Latric nineata, Pseudocaranx dentex, Seriola
dumerili, Oplegnathus fasciatus, Oplegnathus punctatus, Oxyeleotris lineolatus, Racycentron

- Bệnh VNN phát triển mạnh vào mùa có nhiệt độ cao, ở nhiệt độ 28
o
C độc lực của virus
này mạnh hơn nhiều so với 16
o
C. Ở viện nghiên cứu Gondol, bệnh này xảy ra vào ngày 15–30
trong bể nuôi ấu trùng. Theo Yaowanit Danaydol và CTV (1995) đã cảm nhiễm thành công
Nodavirus cho một số loài cá Mú khỏe. Với loài cá Mú Đen E. malabaricus bệnh xảy ra sau 4
ngày thí nghiệm, tỷ lệ chết ở các lô được tiêm là 100%, tác nhân gây bệnh lên tới 70% sau 5
ngày cảm nhiễm, trong khi tỷ lệ chết ở các lô đối chứng là 0% [2, 6].

14

- Để chẩn đoán bệnh sơ bộ ta dựa vào các dấu hiệu bên ngoài như đã kể trên. Để chẩn đoán
bệnh chính xác ta dùng phương pháp mô học kết hợp với kính hiển vi quang học và kính hiển
vi điện tử, kĩ thuật ELISA, PCR, RT-PCR, FAT. Theo kết quả nghiên cứu của H.D.Nguyễn,
K.Mushiake, T.Nakai, K.Muroga cho biết kỹ thuật FAT và PCR, RT-PCR đã phát hiện ra có
mặt của virus SJNNV không chỉ ở trong tuyến sinh dục mà cả ở trong những cơ quan khác
như gan, thận, dạ dày, ruột. Tuy nhiên kỹ thuật PCR và kính hiển vi điện tử không xác định
được sự có mặt của virus trong các tầng tế bào màng mắt. Trong những nghiên cứu hiện nay
kính hiển vi điện tử không thể chứng minh được sự có mặt của vius trong giác mạc và trong
những mô khác mà những mô này đã cho kết quả dương tính khi sử dụng kỹ thuật PCR [6,
22].
- Con đường lan truyền bệnh: theo cả trục ngang (nguồn nước, chất tiết và thức ăn tuơi
sống mang mầm bệnh…) và trục dọc (cá bố mẹ bị bệnh là nguồn lây bệnh cho đàn cá con sau
này) [5, 6, 19, 22].
- Biện pháp phòng và trị: hiện nay chưa có phương pháp đặc trị nào đối với bệnh VNN gây
ra. Giải pháp có hiệu quả nhất để phòng bệnh này trong sản xuất giống và nuôi cá biển là
dùng vaccine và các chất kích thích miễn dịch. Trong sản xuất cá biển giống cần lựa chọn cá
bố mẹ không mang virus bằng cách kiểm tra trứng trước khi cho đẻ bằng phương pháp PCR

khác nhau như TGIVD, GSIVD, GIVD, SGIVD. Dưới đây là một vài kết quả nghiên cứu về
bệnh này trên thê giới.
Bệnh TGIVD (Grouper Iridovirus Disease of Taiwan): tác nhân gây bệnh là do
virus Iridovirus có kích thước 200-240 nm. Khi cá bị bệnh TGIV cá bỏ ăn, sau đó trọng lượng
giảm dần, cơ thể thiếu máu và ở trạng thái hôn mê, các tế bào ở lá lách có sự lớn lên về kích
thước. Trong các ao nuôi cá Mú ở Đài Loan cá ở giai đoạn 5–8 cm thường hay bị bệnh TGIV
và có thể gây chết đến 60% ở nhiệt độ 25-28
o
C. Khả năng nhiễm bệnh 100% từ cá bệnh sang
cá khỏe chỉ mất 11 ngày, cá có thể cảm nhiễm bệnh ở mọi giai đoạn [12, 21].
Bệnh GSIVD (Grouper Spawner Iridovirus Diease): tác nhân gây bệnh là do
virus đường kính 120-135 nm. Cá bị bệnh không biểu lộ bất kỳ sự thương tổn nào nhưng cơ
thể trở nên nhợt nhạt sau đó chết rất đột ngột. Bệnh có thể gặp cả cá Mú Đen (E. malabaricus
cỡ nhỏ và cá trưởng thành. Tỷ lệ chết lên tới 90% ở cá Mú cỡ 20 g-5 kg nuôi lồng tại Thái
Lan khi bùng nổ dịch bệnh do sự cảm nhiễm virus này. Những tế bào của thận, lá lách, tim và
ống ruột trở nên to hơn. Virus được tìm thấy trong những tế bào phình to của lá lách và phần
đầu thận đã gây ra sự hoại tử của những cơ quan này.
Bệnh GIVD (Grouper Iridovirus Disease): tác nhân gây bệnh là do Iridovirus
thuộc giống Ranavirus đường kính 200-240 nm. Cá bị bệnh bơi lội bất bình thường với những
cơn co thắt, giảm ăn, bơi lờ đờ, đuôi và vây trở nên tối. Cá gần chết trôi nổi trên nước và cuối
cùng chìm dần xuống đáy bể rồi chết. Thể virus 20 mặt đã được phát hiện ở tế bào vây, lá
lách, thận của cá cảm nhiễm, tỷ lệ chết lên tới 20-30%. Cá Mú E. aurowa, E. malabaricus cỡ
1,0-1,5 cm và 10-12 cm ở Đài Loan, Thái Lan đã cảm nhiễm bệnh này [21].

16

2.3.4. Bệnh do nấm

hiện thì có 46 loài sán, 18 loài giun tròn, 7 loài giun đầu móc và 9 laòi giáp xác. Theo Nguyễn
Thị Muội, 1980, Đỗ Thị Hòa, 2002 đã phát hiện thấy loài Benedenia epinipheli kí sinh trên cá
Mú nuôi ở Khánh Hòa. Đặc biệt giống Benedenia đã gây ra cho cá Mú Mè chết nhiều ở Vịnh

17

Hạ Long, Cát Bà (Bùi Quang Tề). Theo Bùi Quang Tề trong các lồng nuôi cá biển tại vịnh Hạ
Long, Việt Nam đã bị cảm nhiễm khoảng 20 giống sán lá đơn chủ. Trong đó có 4 giống kí
sinh ở các loài cá Mú nuôi lồng tại đây là: Ancyrocephalus, Pseudorhabdosynochus,
Haliotrema & Benedenia (Bùi Quang Tề, 2001). Bệnh này có thể phát triển quanh năm nhưng
cường độ cảm nhiễm và tác hại lớn nhất vào các mùa có nhiệt độ trong khoảng 20–30
o
C [5].
Năm 2003 các lồng nuôi cá Mú cỡ 10-15 cm tại khu vực bảo tồn Hòn Mun đã bị chết dữ
dội, khi kiểm tra cho thấy cá bị nhiễm kí sinh trùng Pseudorhabdosynochus epinepheli với
mật độ cao (Đỗ Thị Hòa, 2003) [6].
Tác hại của sán lá song chủ đối với nghề nuôi thủy sản không lớn như sán lá đơn chủ, tác
hại phụ thuộc vào chủng loại hoặc vị trí kí sinh. Thường chúng kí sinh trong mắt, mang, trong
hệ thống tuần hoàn và một số cơ quan quan trọng khác thì gây tác hại lớn hơn khi kí sinh
trong hệ thống ống tiêu hóa. Sán Sanguinicola có thể kí sinh trên cá nước ngọt và cá biển ở
các giai đoạn khác nhau của cá [6].
Giống kí sinh trùng Lamproglena kí sinh trên một số loài cá nước ngọt ngoài ra còn gặp kí
sinh ở cá biển, trên mang các loài cá Mú (Epinephelus spp) nuôi tại Khánh Hòa cũng gặp
Lamproglena kí sinh nhưng cường độ và tỷ lệ cảm nhiễm không cao [6].
Caligus spp là kí sinh trùng kí sinh rất phổ biến trên cá, đặc biệt là cá nước lợ và cá nước
mặn. Tại công ty sản xuất giống cá biển Hoằng Ký, Khánh Hòa, năm 2002, cá Mú giống đã bị
chết rải rác khi bị nhiễm Caligus ở cường độ cao [6].
Bệnh đỉa cá Piscicolosis rất phổ biến ở cá nước ngọt, lợ, mặn. Đặc biệt cá nuôi lồng trên
biển, hay nuôi trong các đìa nước mặn tại Nha Trang, Khánh Hòa cũng đã có trường hợp
nhiễm đỉa cá với cường độ cao [6].

“Những dấu hiệu mô bệnh học trên cá Song Chấm Nâu Epinephelus coioides tại Hải Phòng
và Nghệ An”. Đề tài được tiến hành từ tháng 7/2003 đến tháng 6/2004 với phương pháp
nghiên cứu mô bệnh học và kỹ thuật PCR. Theo đó các mẫu cá Mú được thu ở trại sản xuất cá
biển Cát Bà, Cửa Hội và lồng nuôi ở Cát Bà với các dấu hiệu bệnh lý đặc trưng của bệnh
VNN là bơi không định hướng, bơi vòng trên mặt nước, bỏ ăn, thân sậm đi. Kết qủa được 56
mẫu dương tính bằng kỹ thuật PCR. Tuy nhiên trong 56 mẫu bị dương tính này thì chỉ có 22
mẫu xuất hiện không bào hình tròn, elip ở niêm mạc mắt, hình tròn ở não cá bệnh với đường
kính không bào từ 5-12 µm. Mẫu cá bệnh trên được thu vào tháng 6, 10/2003, tháng 6/2004 ở
28-45 ngày tuổi và cá có kích cỡ 15-20 cm. Bệnh gây chết 70-80% ở cá giai đoạn ấu trùng 40-
45 ngày tuổi tại trại Cửa Hội trong 7 ngày sau khi có dấu hiệu bỏ ăn, bơi xoay vòng, đảo từ
đáy lên mặt nhưng gây chết rải rác và kéo dài tỷ lệ thấp ở cá nuôi lồng ở Cát Bà với dấu hiệu
sưng bóng hơi, bơi nghiêng trên mặt nước, tập trung đáy lồng, mình cong. Cá thương phẩm
thu tại Cát Bà nhiễm VNN không có dấu hiệu đặc trưng của bệnh nhưng cá chết ở dưới đáy
lồng kéo dài 10-15 ngày và tỷ lệ chết lên tới 80-90% [16].
Mặc dù bệnh VNN gây tác hại rất lớn với nghề sản xuất giống và nuôi cá biển ở nhiều
quốc gia trên trế giới, nhưng ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu sâu về bệnh này [6]. Đặc
biệt, Khánh Hòa là nới có nghề nuôi cá mú khá phát triển, ngoài ra còn có một vài cơ sở cho
sinh sản nhân tạo các loài cá biển, nhưng cho đến nay vẫn chưa có thông tin nào về bệnh
VNN ở cá biển nuôi tại địa phương này. Do vậy một nghiên cứu về bệnh này tại địa phương
là thật sự cần thiết.

19

PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Địa điểm nghiên cứu
−Thời gian: từ 15/08/2007 đến 10/11/2007
−Địa điểm: các cơ sở ương nuôi cá biển tại Khánh Hòa, mẫu được phân tích tại phòng thí
nghiệm bệnh học Thủy Sản-trường Đại học Nha Trang
−Đối tượng: cá Mú (Epinephelus sp), cá Chẽm (Lates calcarifer), cá Bớp (Rachycentrron
canadum) ương nuôi tại Khánh Hòa

Một số đặc điểm dịch
tế của bệnh VNN ở
cá biển
Nghiên cứu mức độ
cảm nhiễm của bệnh
VNN trên cá biển nuôi
bằng phương pháp mô
bệnh học
Loài,
hình
thức
nuôi

biển
Năng
suất,
sản
lượn
g
Khó
khăn,
thuậ
nlợi
Loài

mẫn
cảm
Giai
đoạn
phát


Trích đoạn Kết quả nghiên cứu mô bệnh học ở các mẫu cá bị hội chứng giống với bệnh Về kết quả nghiên cứu mô bệnh học ở các mẫu cá bị hội chứng giống
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status