Lời cảm ơn
Với sự giúp đở tận tình của của các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình, trong
suốt thời gian tìm hiểu, học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp với đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức đối với sinh
viên của phòng Công tác học sinh – sinh viên trường Cao đẳng Hoan Châu –
Nghệ An”.
Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Lãnh đạo Học viện
Quản lý Giáo dục, Ban lãnh đạo Khoa quản lý, các thầy cô giáo đã giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường;
Đặc biệt, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS.Hà Thế
Truyền, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Cũng qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các thầy cô giáo
trường Cao đẳng Hoan Châu đã tạo điều kiện cung cấp và giúp tôi thu thập
thông tin để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Do điều kiện thời gian và năng lực có hạn nên khóa luận không tránh khỏi
những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các
bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, 2012
Sinh viên
Phạm Thị Lương
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. HSSV Học sinh sinh viên
2. GD Giáo dục
3. QLGD Quản lý giáo dục
4. GDĐĐ Giáo dục đạo đức
5. QL Quản lý
6. QLGDĐĐ Quản lý giáo dục đạo đức
7. ĐH, CĐ Đại học, Cao đẳng
sống trong môi trường văn minh, hiện đại hơn, nhưng kéo theo đó cũng có nhiều
vấn đề nảy sinh làm ảnh hưởng ít nhiều đến đời sống xã hội. Thực tế trong một
bộ phận sinh viên còn có các biểu hiện đáng lo ngại mà các nhà quản lý giáo
dục, nhất là ở phòng Công tác học sinh – sinh viên phải quan tâm, đó là: Một bộ
phận nhỏ SV thiếu ý thức tổ chức kỉ luật, lười lao động, lừi học tập, gian lận
trong học tập thi cử, làm bừa làm ẩu, thiếu trách nhiệm, với chính bản thân
1
mình, phẩm chất đạo đức mờ nhạt, thiếu sự tìm tòi sáng tạo trong học tập, sinh
hoạt thiếu lành mạnh, coi thường các chuẩn mực đạo đức xã hội, thậm chí sa vào
các tệ nạn xã hội…. Đánh giá thực trạng giáo dục đào tạo, Nghị quyết Trung
ương 2 khóa VIII nhấn mạnh: “Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận HSSV có
tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng,
thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước”. Do
đó, GDĐĐ và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh viên đang là việc
làm hết sức cần thiết và cấp bách đối với các trường trong bối cảnh toàn cầu hóa
hiện nay. Ngành giáo dục và đào tạo không chỉ đề cập trên phương diện lý luận
mà trên thực tế, xuất phát từ thực tiễn, ngành đã có những chủ trương, biện pháp
và hoạt động thiết thực để giáo dục đạo đức cho sinh viên.
Trong việc thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục toàn diện hiện nay,
việc giáo dục đạo đức cho sinh viên là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của mỗi nhà
trường, đặc biệt là các trường Đại học, Cao đẳng (ĐH, CĐ) trong cơ chế hiện
nay. Tuy nhiên, đó không phải là vấn đề đơn giản, một sớm một chiều mà cần
phải có thời gian, cũng như kinh nghiệm làm việc của những người quản lý để
có được kết quả tốt nhất trong việc giáo dục đạo đức đối với sinh viên của
trường.
Trường Cao đẳng Hoan Châu – Nghệ An mới được thành lập từ năm
2009, các hoạt động của trường cũng bắt đầu đi vào ổn định. Tuy nhiên, qua thời
gian thực tập và tìm hiểu thực tế về công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên ở
Phòng Công tác Học sinh – Sinh viên (CTHS – SV) nói riêng và trường Cao
đẳng Hoan Châu nói chung vẫn còn bộc lộ một số hạn chế cần khắc phục do yếu
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức đối với sinh
viên của của phòng Công tác học sinh – sinh viên trường Cao đẳng Hoan Châu –
Nghệ An.
3
6. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại trường Cao đẳng Hoan Châu –
Nghệ An.
- Nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức đối với sinh
viên của Phòng Công tác học sinh – sinh viên trường Cao đẳng Hoan Châu –
Nghệ An.
- Nghiên cứu 150 sinh viên và một số phẩm chất đạo đức của sinh viên.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu về lý luận quản lý, các văn kiện Đại hội Đảng các
cấp, luật giáo dục, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước có liên quan.
Nghiên cứu tài liệu sách báo, phân tích tổng hợp tài liệu để rút ra nhận
xét.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp Anket (điều tra bằng Anket)
Phương pháp này nhằm phát hiện thực trạng về thực hiện các biện pháp
quản lý hoạt động giáo dục đạo đức đối với sinh viên.
7.2.2. Phương pháp đàm thoại
Nhằm hỗ trợ phương pháp điều tra.
7.2.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nhằm hỗ trợ phương pháp điều tra.
7.2.4. Phương pháp quan sát
Nhằm hỗ trợ phương pháp điều tra bằng Anket.
7.2.5. Phương pháp chuyên gia
Nhằm phát hiện thực trạng và thẩm tra lại những kết luận được rút ra từ
đề tài này đặc biệt là các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh
Theo C.Mác thì: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung
nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cần đến một sự chỉ đạo,
điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát
sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ
cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”. [14,23]
Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Quản lý là việc tổ chức, điều khiển các
hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. [15,396]
Một số tác giả khác cũng đưa ra định nghĩa khác nhau như:
- Tác giả Nguyễn Minh Đạo định nghĩa: “Quản lý là sự tác động liên tục,
có tổ chức, có tính hướng đích của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức
quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về mặt chính trị, văn hóa xã hội, kinh
tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương
6
pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển
của đối tượng”. [7,7]
Từ đó ta thấy, Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà
trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền
bạc, vật chất, đồng thời quản lý là một trong những loại hình lao động quan
trọng nhất trong các hoạt động của con người. Quản lý đúng tức là con người đã
nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và tất yếu sẽ thành công.
Thuật ngữ QL đã phổ biến tuy chưa có sự định nghĩa thống nhất, nhưng
theo nghĩa rộng thì: QL là hoạt động có mục đích của con người, QL chính là
hoạt động do một hoặc nhiều người phối hợp hành động để đạt được kết quả như
mong muốn. Một cách chung nhất, QL được xét với tư cách là một hành động
có thể định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có tính hướng đích của
chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”.
Trong định nghĩa trên cần lưu ý một số điểm cơ bản như sau:
- QL bao giờ cũng là một tác động có hướng đích, có mục tiêu xác định.
- QL thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận là chủ thể QL và đối tượng
QL, đây là mối quan hệ mệnh lệnh, phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt
năng này đan xen, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện. Chất xúc tác và liên
kết giữa các chức năng cơ bản này là thông tin quản lý và các quyết định quản
lý.
1.1.3. Quản lý giáo dục
Giáo dục là một bộ phận của xã hội nên quản lý giáo dục (QLGD) là một
loại hình quản lý xã hội.
Ở cấp độ hệ thống (vĩ mô) có thể hiểu:
- QLGD là những tác động có hệ thống, có ý thức, hợp quy luật của chủ
thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục
8
nhằm thực hiện có chất lượng, hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo
thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.
- QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có tính hướng đích của chủ
thể QL lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống, sử dụng tối ưu
các tiềm năng, cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách
tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn
biến động.
Ở cấp độ vi mô, QLGD có hai định nghĩa như sau:
- QLGD là hệ thống những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp quy
luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên học sinh, cha mẹ học
sinh và các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng
và hiệu quả mục tiêu giáo dục của Nhà trường.
- QLGD thực chất là những tác động của chủ thể QL vào quá trình giáo
dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên, học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các
lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh
theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.
Từ những khái niệm trên, dù ở cấp độ vĩ mô hay vi mô thì quản lý giáo
dục có 4 yếu tố: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý và mục
tiêu quản lý được thể hiện ở sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ khái niệm quản lý
Giáo sư Phạm Minh Hạc xem “Quản lý nhà trường là thực hiện đường
lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm đưa nhà trường vận hành theo
nguyên lý giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với
từng học sinh”.
Theo PGS.TS Phạm Viết Vượng: “QL trường học là hoạt động của các
cơ quan QL nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực
lượng giáo dục, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục và đào tạo
trong nhà trường”.
Tóm lại, quản lý nhà trường là QLGD được thực hiện trong phạm vi xác
định của một đơn vị giáo dục nhà trường nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế
hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội. QL nhà trường bao gồm các nội dung như sau:
10
- QL hoạt động dạy và học
- QL hoạt động giáo dục đạo đức.
- QL hoạt động lao động lao động sản xuất.
- QL hoạt động giáo dục thể chất và vệ sinh.
- QL hoạt động hướng nghiệp và dạy nghề.
- QL hoạt động xã hội, đoàn thể.
Đặc trưng của nhà trường XHCN là thông qua dạy chữ để dạy người.
Một trong những nội dung quan trọng của nhà trường là GDĐĐ và hình thành
nhân cách cho thế hệ trẻ. Công tác giáo dục đạo đức là nhiệm vụ chiến lược
trọng tâm, hàng đầu và bao trùm lên mọi mặt công tác trong nhà trường. Việc
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn và phát huy những phẩm
chất, đức tính, những giá trị tinh thần cao quý của con người Việt Nam tùy thuộc
phần lớn vào công tác GDĐĐ trong nhà trường.
1.1.5. Đạo đức
Đạo đức là một hiện tượng xã hội – là một hình thái ý thức đặc biệt phản
ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống con người, của
xã hội loài người. Hiện tượng này được nhìn nhận dưới nhiều góc độ, song có
hai cách hiểu thường được nhắc đến và khái quát như sau:
1.2.1. Hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường
Thực chất giáo dục đạo đức (GDĐĐ) là quá trình biến hệ thống các
chuẩn mực đạo đức từ đòi hỏi bên ngoài xã hội đối với cá nhân, hình thành đòi
hỏi bên trong của cá nhân, hình thành niềm tin, trở thành nhu cầu, thói quen của
đối tượng GD.
Trong nhà trường, quá trình giáo dục đạo đức gồm nhiều yếu tố khách
quan, chủ quan, bên trong, bên ngoài đối với nhà trường, đối với học sinh, sinh
viên. Các mối quan hệ trong nhà trường mà học sinh, sinh viên tham gia hoạt
động đều tác động đến giáo dục, ảnh hưởng đến kết quả giáo dục cho học sinh,
12
sinh viên. GDĐĐ đạt hiệu quả cao khi nhà giáo dục áp dụng các biện pháp giáo
dục hiệu quả và tổ chức tốt quá trình giáo dục.
Giáo dục đạo đức là công việc của toàn xã hội, song giáo dục trong nhà
trường giữ vai trò định hướng, đó là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch
nhằm phát triển nhân cách cho người học, hình thành chuẩn mực, hành vi ứng
xử đúng mực trong các mối quan hệ xã hội, qua đó hình thành, phát triển ý thức,
tình cảm niềm tin và thói quen đạo đức theo yêu cầu xã hội.
Trong nhà trường ngày nay, giáo dục đạo đức cho người học là giáo dục
đạo đức XHCN, giáo dục lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc Việt Nam
XHCN, yêu que hương đất nước, giàu lòng vị tha, nhân ái, yêu lao động, yêu
nghề… Bên cạnh đó là giáo dục tư tưởng chính trị, truyền thống dân tộc, bản
sắc văn hóa dân tộc, giáo dục pháp luật.
Giáo dục đạo đức cho HSSV phải đảm bảo các nguyên tắc: tính thống
nhất, tính thực tiễn, đảm bảo chuẩn mực đã được xã hội thừa nhận. Trong tình
hình hiện nay, quá trình hội nhập đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu thì giáo dục
đạo đức trong nhà trường còn bao gồm các vấn đề:
- Giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
- Bảo vệ môi trường, bảo vệ sinh thái.
- Dân số và kế hoạch hóa gia đình, chống bạo lực, chống tệ nạn xã hội.
- Đấu tranh vì một thế giới hòa bình, ổn định, bình đẳng, phát triển bền
nằm trong độ tuổi từ 18 đến 2 tuổi. Sinh viên thuộc mọi thành phần khác nhau
trong xã hội.
- Về hoạt động học tập: đòi hỏi SV phải có tính năng động cao, tính độc
lập, đòi hỏi tư duy lý luận cao hơn, học tập nghiên cứu gắn liền với vấn đề nghề
nghiệp, vị trí trong xã hội sau này, động cơ học tập mang tính thực tiễn cao hơn,
công ăn việc làm, khẳng định vị thế trong xã hội, có nhiều sinh viên học tập
nghiên cứu, say mê tìm tòi sáng tạo.
14
- Sự phát triển trí tuệ: Quá trình nhận thức của sinh viên là quá trình
nhận thức tri giác có mục đích ở mức độ rất cao. Sự ghi nhớ có chủ định giữ vai
trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, ghi nhớ logic, ý nghĩa, suy luận khoa học ở
mức phát triển cao. Tuy nhiên, ở một bộ phận không nhỏ sinh viên tư duy thiếu
toàn diện, kết luận còn vội vàng, theo cảm tính hoặc thiên về lối tư duy cũ, thiếu
sáng tạo.
- Sự phát triển ý thức: Đại đa số rất chú ý đến hình thức bên ngoài, quá
trình tự ý thức rất mạnh mẽ và có tính đặc thù không chỉ thể hiện cái tôi đậm nét
trong hiện tại mà còn nhận thức được vị trí của mình ở hiện tại và tương lai. Có
nhiều SV có nhận xét, đánh giá sâu sắc mặt mạnh, yếu của những người xung
quanh và của chính mình. Tuy nhiên sự đánh giá đó có khi còn thiếu khách
quan, phiến diện. Đa số các SV có khả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện vươn
lên, trở thành công dân tốt, tuy vậy, không ít sinh viên do kinh nghiệm, vốn sống
chưa nhiều nên dễ bị sa ngã trong nhận thức và hành vi.
- Sự hình thành thế giới quan: đã có sự hứng thú nhận thức các vấn đề
tự nhiên, xã hội, quan tâm nhiều đến vấn đề con người, vai trò của con người
trong lịch sử, các mối quan hệ xã hội, quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của
bản thân đối với Tổ quốc, quê hương, gia đình, bạn bè… Tuy nhiên, sự đánh giá
các vấn đề xã hội, quan niệm đúng sai, thiện ác, chưa thống nhất.
- Đời sống tình cảm: Ở độ tuổi sinh viên thì tình cảm bạn bè chiếm vị trí
chủ yếu so với các mối quan hệ khác. Giao lưu rộng rãi với các bạn bè đủ lứa
tuổi, sở thích… Mối quan hệ tình yêu nam nữ đã tương đối phổ biến; xuất hiện
Như vậy, giáo dục đạo đức luôn được quan tâm. Nội dung giáo dục đạo
đức cho sinh viên bao gồm:
a/ Giáo dục lòng yêu nước
Yêu nước là tình cảm đạo đức được biểu hiện ở xu hướng mọi hoạt động
của bản thân nhằm phục vụ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
16
Yêu nước được thể hiện cụ thể là tình yêu quê hương, đất nước, gia đình,
họ tộc, láng giềng, bạn bè…, đó là tình thương yêu đồng bào, sẵn sàng hy sinh
tính mạng và tài sản để giữ gìn nền độc lập, tự do của Tổ quốc, của nhân dân,
phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”.
Yêu nước còn thể hiện ở chỗ tự vượt khó, chiến thắng bản thân, đấu
tranh chống các tệ nạn xã hội, thực hiện nghĩa vụ công dân, tôn trọng và bảo vệ
pháp luật, tích cực học tập, chiếm lĩnh đỉnh cao trí tuệ để phục vụ cho sự nghiệp
đổi mới đất nước.
b/ Giáo dục tình yêu lao động, cần cù sáng tạo
Các thành quả mà con người có được đều do lao động. Dù là lao động
chân tay hay lao động trí óc nhưng nếu con người thiếu lao động tự giác thì cũng
không bao giờ có hạnh phúc thực sự.
Quá trình lao động khiến con người phải suy nghĩ, tìm tòi tổng kết kinh
nghiệm, tìm cách làm sao để kết quả ngày càng tốt hơn. Trong lao động, khả
năng sáng tạo, trí thông minh được phát triển. vì vậy, cần chú giáo dục lao động
cho sinh viên theo mục đích sau:
+ Có tinh thần chủ động trong lập thân, lập nghiệp, không ngừng học tập
để nâng cao trình độ, chuyên môn, tay nghề; chủ động vươn lên trong lao động,
sản xuất, kinh doanh, góp phần xây dựng gia đình, địa phương, đơn vị phát triển.
+ Hình thành những phẩm chất cần thiết cho lao động: tính cẩn thận, tinh
thần kỷ luật, tính cẩn thận, tinh thần trách nhiệm, vượt khó, đoàn kết.
+ Rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo lao động, lao động có kỷ thuật nghề nghiệp,
tiến tới làm tốt một nghề.
Đạo đức nghề nghiệp và lương tâm nghề nghiệp góp phần định hướng
hoạt động nghề nghiệp của SV ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Đạo
18
đức và lương tâm nghề nghiệp là làm ra sản phẩm trên cơ sở tự nguyện tự giác,
xuất phát từ lương tâm, không cho phép làm ra sản phẩm không đạt yêu cầu theo
đánh giá của bản thân người sản xuất.
Đạo đức nghề nghiệp là làm cho người ta tự phán xét việc làm của mình
theo một chuẩn mực nhất định. Người có đạo đức nghề nghiệp sẽ là người lao
động chăm chỉ, cần cù, lao động có chất lượng, hiệu quả, trái ngược với kiểu
làm ăn gian dối, lừa đảo, làm chơi ăn thật… Đạo đức nghề nghiệp là một nội
dung có nhiều điểm tương đồng với xây dựng văn hóa nghề.
1.2.2.3. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức đối với sinh viên
a/ Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục đạo đức đối với sinh viên
Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục đạo đức đối với sinh viên là làm
cho quá trình giáo dục đạo đức diễn ra đồng bộ, đạt hiệu quả cao, nâng cao chất
lượng giáo dục đạo đức. Mục tiêu đó được thể hiện ở các nội dung sau:
- Về nhận thức: Làm cho mọi người, mọi tổ chức xã hội có nhận thức
đầy đủ, đúng đắn về tầm quan trọng của công tác QLGDĐĐ, nắm vững quan
điểm của chủ nghĩa Mac-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người,
phát triển toàn diện.
- Về thái độ, tình cảm: làm cho mọi người hiểu và ủng hộ việc làm đúng,
đấu tranh với việc sai trái, có thái độ đúng đắn đối với công tác QLGDĐĐ cho
SV.
- Về hành vi: Tự giác, tích cực tham gia quản lý và tổ chức hoạt động
giáo dục đạo đức cho SV thông qua các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội, tự
tu dưỡng rèn luyện theo chuẩn mực xã hội.
Vậy, điều quan trọng nhất của quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên là
làm sao cho quá trình hoạt động GDĐĐ tác động đến sinh viên để hình thành ý
thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, tạo lập cho họ hành vi và thói quen đạo đức.
b/ Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh viên
khá quan trọng và hiệu quả tuy nhiên dễ bị lạm dụng dẫn đến quan liêu, xa rời
thực tế.
- Phương pháp tâm lý xã hội: Phương pháp này có đặc điểm là kích thích
đối tượng QL để họ toàn tâm toàn ý cho công việc, tực giác thực hiện các yêu
cầu của nhà quản lý, yêu cầu của nhà QL được biến thành nhu cầu của người bị
QL.
Nhiệm vụ của phương pháp này là động viên, kích thích tính chủ động,
tích cực, tự giác, tạo ra bầu không khí cởi mở, tin cậy, giúp đỡ lẫn nhau hoàn
thành nhiệm vụ. Thường dùng các phương pháp như: thuyết phục, động viên,
tạo dư luận, giao việc đòi hỏi yêu cầu cao… Ưu điểm của phương pháp này là
phát huy quyền làm chủ tập thể, phát huy được tiềm năng của mỗi cá nhân, nếu
vận dụng tốt sẽ mang lại hiệu quả cao. Tuy nhiên hiệu quả của phương pháp này
lại phụ thuộc rất lớn vào nghệ thuật của nhà quản lý.
- Phương pháp kinh tế: Đây là phương pháp mà sự tác động gián tiếp tới
người bị QL bằng cơ chê kích thích lao động thông qua lợi ích vật chất để họ
chủ động, tích cực tham gia vào công việc chung và thực hiện tốt nhiệm vụ được
giao, tức là dùng lợi ích vật chất làm đòn bẫy tác động lên người bị QL.
Trên thực tế, nhà quản lý phải biết vận dụng, lựa chọn và phối hợp cả ba
phương pháp trên để quản lý giáo dục đạo đức thì mới đem lại hiệu quả cao.
d/ Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của Phòng Công tác học
sinh – sinh viên
Biện pháp là con đường, là cách thức để thực hiện một công việc nào đó.
Khi lựa chọn biện pháp phải xuất phát từ nội dung của hoạt động giáo dục đạo
đức. Biện pháp cũng là một yếu tố hợp thành phương pháp, tùy vào tình huống
cụ thì phương pháp và biện pháp có thể chuyển hóa cho nhau.
Quản lý giáo dục đạo đức của Phòng Công tác học sinh – sinh viên
thường được áp dụng các biện pháp cơ bản sau đây:
21
- Bồi dưỡng nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ, giảng viên, công
nhân viên trong việc quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên.