Thực trạng và biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của hiệu trưởng ở các trường trung học phổ thông huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TÀO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
______________________
Phan Thị Hiền Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử
dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công
trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Phan Thị Hiền
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trong thời gian vừa qua, nước ta đã khẳng định vị trí của mình trong khu vực với nhiều sự kiện
nổi bật. Một trong những sự kiện quan trọng đó là việc chúng ta gia nhập vào Tổ chức thương mại thế
giới WTO. Với mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam từ một nước nông nghiệp về cơ bản sẽ trở thành
nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Để thực hiện mục tiêu trên, mặt bằng dân trí phải
đư
ợc nâng cao nhằm cung cấp nguồn nhân lực phát triển về số lượng lẫn chất lượng. Với yêu cầu cấp
thiết đó, nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo phải trang bị kiến thức cho người học không chỉ có khả
năng nhớ các tri thức đã lĩnh hội ở nhà trường mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh tri thức một cách
chủ động, s
áng tạo; đồng thời, người học phải có năng lực giao tiếp với cộng đồng trong công việc và
cuộc sống hàng ngày.
Học sinh ngày nay học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai. Những
kiến thức đã được học phải cần thiết, bổ ích cho bản thân người học và cho sự phát triển của xã
hội.Trong bối cảnh xã
hội phức tạp hiện nay, dưới tác động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường
đã ảnh hưởng không nhỏ tới lực lượng thanh thiếu niên trong cả nước. Các tệ nạn xã hội ngày càng có
nguy cơ xâm nhập vào môi trường học đường. Lứa tuổi vị thành niên là lứa tuổi thích khám phá, thích
tự khẳng định mình thông qua các hoạt động giao tiếp. Theo A.Carrel, “Giáo dục quá thi
ên về trí thức
sẽ tạo ra con người có óc mà không tim”. Chính vì lẽ đó, ngoài giờ học chính khóa ở lớp, các học sinh
thường tham gia những hoạt động nhóm nhằm trao đổi thông tin, giải trí sau những giờ học căng thẳng
trên lớp. Nhu cầu được giao tiếp, được tự khẳng định mình của thanh niên ngày càng tăng cao phù hợp
với bốn trụ cột của Giáo dục thế kỉ XXI mà UNESCO đã đưa ra: “Học để biết, học để là
m, học cùng
chung sống học cách sống với người khác và học để tự khẳng định mình”. Ngoài giờ giảng dạy trên
lớp, các giáo viên còn có trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi để học sinh tham gia
sinh hoạt, giao lưu nhằm nâng cao các kỹ năng học tập chung, kỹ năng vận dụng các kiến thức đã học
vào thực tiễn trong cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đì
nh và cộng đồng; đồng thời, nhằm hạn chế các tệ
nạn xã hội đang có nguy cơ xâm nhập vào nhà trường thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên

thân trong mọi hoạt động.
Trong những năm qua, các trường trung học phổ thông ở tỉnh Tây Ninh nói chung và ở huyện
Trảng Bàng nói riêng chưa thực sự chú trọng đến HĐGDNGLL. Đa số các hoạt động ngoài giờ lên lớp
được “giao khoán” cho Đoàn thanh niên đảm trách. Nhìn chung, việc quản l
ý HĐGDNGLL của hiệu
trưởng còn nhiều hạn chế, chưa đảm bảo yêu cầu phát triển giáo dục toàn diện theo mục tiêu chung của
giáo dục. Bên cạnh đó, tình hình cơ sở vật chất của các trường còn nhiều thiếu thốn chưa đáp ứng điều
kiện tối thiểu cho hoạt động đặc thù này.
Từ kinh nghiệm công tác Đoàn và quản lý trường THPT trong thời gian qua, tôi đã thu thập
được một số thông tin về thực trạng của công tác quản l
ý việc tổ chức HĐGDNGLL của hiệu trưởng ở
một số trường trung học phổ thông trong tỉnh. Thực hiện chủ trương về đổi mới chương trình sách giáo
khoa của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ năm học 2006-2007, xuất phát từ yêu cầu thực tế về việc nâng cao
chất lượng của việc tổ chức HĐGDNGLL, tôi định hướng nghiên cứu của m
ình vào đề tài: “Thực
trạng và biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của hiệu trưởng ở các trường
trung học phổ thông huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng về công tác quản lý HĐGDNGLL của hiệu
trưởng ở các trường trung học phổ thông huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh nhằm tìm ra ưu điểm, hạn
chế và những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó. Từ đó, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu
quả quản lý HĐGDNGLL ở các trường trung học phổ thông huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động giáo dục của hiệu trưởng ở các trường trung học phổ thông huyện
Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

3.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của hiệu trưởng ở các trường
trung học phổ thông huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

71; học sinh lớp 10: 331)
7.3. Các phương pháp bổ trợ
Quan sát, nghiên cứu sản phẩm hoạt động, lấy ý kiến chuyên gia.
7.4. Phương pháp sử dụng toán thống kê để phân tích và xử lý số liệu nhằm định lượng kết quả
nghiên cứu.
8. Cấu trúc luận văn
A. Phần mở đầu
B. Phần nội dung
1. Chương 1: Cơ sở lý luận về HĐGDNGLL của Hiệu trưởng ở các trường THPT.
2. Chương 2: Thực trạng về HĐGDNGLL và công tác quản lý của Hiệu trưởng ở các trường
THPT huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
3. Chương 3: Biện pháp quản lý HĐGDNGLL của Hiệu trưởng ở các trường THPT huyện Trảng
Bàng, tỉnh Tây Ninh.
C. Phần kết luận - kiến nghị
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ
LÊN LỚP CỦA HIỆU TRƯỞNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG

1.1. Sơ lược một số nét lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ở nước ngoài

Từ thế kỷ XV có ông Thomas More (1478 - 1535) là một trong những nhà giáo dục thời kỳ
phục hưng, ông đòi hỏi giáo dục nhằm phát triển nhiều mặt ở trẻ em: về thể chất, đạo đức, trí tuệ và kỹ
năng lao động.Theo ông, lao động là nghĩa vụ của mọi người, song, mỗi ngày chỉ làm việc 6 giờ, thời
gian còn lại để học văn hoá và sinh hoạt xã hội. Đây chính là tiếng nói tiến bộ của loài người về lĩnh
vực giáo dục trong t
hời kỳ văn hoá phục hưng.
Đến thế kỷ XX ông A.X. Ma-ca-ren-cô nhà sư phạm nổi tiếng của nước Nga đã nói về tầm quan
trọng của công tác giáo dục học sinh ngoài giờ học: “các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục

khoa học, kỹ thuật, văn nghệ, thể dục thể thao
của nhà trường và của địa phương.”
Hoạt động tập thể được xác định là một trong những hoạt động giáo dục cơ bản thực hiện trong
trường phổ thông nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ.
Từ khi cải cách giáo dục lần thứ 3 (1979), trong Điều lệ trường phổ thông tháng 4/
1979, điều
10 có ghi: “Công tác giáo dục ở trường phổ thông tiến hành thống nhất theo đúng nội dung và trình tự
quy định trong chương trình, kế hoạch đào tạo và sách giáo khoa do Bộ giáo dục ban hành và được
thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục: học tập văn hóa, lao động sản xuất, thực nghiệm khoa
học và các hoạt động xã hội.”
Tại khoản 3 điều 10 xác định: “Các hoạt động xã hội do nhà trường tổ chức cho học sinh tham

gia với mức độ thích hợp, là nhằm củng cố những tri thức đã học được, bồi dưỡng tình cảm đối với
nhân dân lao động, xây dựng thái độ tích cực tham gia công tác xã hội, góp phần xây dựng địa phương
và rèn luyện học sinh về ý thức và năng lực làm chủ tập thể, hình thành nhân sinh quan cách mạng.
Ngoài những hoạt động giáo dục trên đây cần tổ chức thêm những hoạt động ngoại khóa khác như thể
dục thể thao, văn nghệ để công tác giáo dục được thêm phong phú.”
Đã có nhiều luận văn Thạc sĩ chuyên ngà
nh Quản lý giáo dục nghiên cứu đề tài HĐGDNGLL ở
trường THPT như:
- Luận văn “Các biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
của Hiệu trưởng các trường TH
PT các tỉnh phía Nam”, tác giả Nguyễn Thị Hoàng Trâm, năm 2003.
- Luận văn “Thực trạng việc quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường trung
học cơ sở bán công TP Hồ Chí Minh”, tác giả Trần Thị Minh Thi, năm 2005.
- Luận văn “Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng các
trường THPT Huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây trong giai đoạn hiện nay”, tác giả Nguyễn Như Ý, năm
2005.
- Luận văn “Các biện phá
p quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng các

n thiện nhân cách của bản thân về mọi mặt.
C.Mác cũng nhấn mạnh rằng, trong quá trình hình thành nhân cách, điều kiện quyết định là hoạt
động thực tiễn, hoạt động lao động và hoạt động xã hội. Đối với giáo dục, giai cấp vô sản có ý thức sâu
sắc rằng: muốn đào tạo con người phát triển toàn diện, muốn xây dựng một nền giáo dục mới phải tiến
hành cuộc cách mạng chính trị, cách mạng xã hội làm thay đổi các
quan hệ xã hội, thiết lập quan hệ xã
hội mới và chỉ trên quan hệ xã hội đó, mới xây dựng được nhân cách con người xã hội tương lai được.
HĐGD bao gồm hoạt động của người thầy và hoạt động của học sinh. Hai hoạt động này có sự
gắn bó chặt chẽ, mật thiết với nhau.
HĐGD là tập hợp những hành động liên tiếp của giáo viên và của học sinh đư
ợc giáo viên
hướng dẫn. Những hành động này nhằm làm cho học sinh tự giác nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ
năng và kỹ xảo. Trong quá trình đó, học sinh phát triển năng lực nhận thức, nắm được các yếu tố của
văn hóa lao động trí óc và chân tay, hình thành những cơ sở của thế giới quan và nhân sinh quan đúng
đắn.
Thông qua các hoạt động tiếp thu giáo dục và tự giá
o dục, trải qua sự thể nghiệm và rèn luyện
tích cực, mỗi học sinh sẽ tiếp thu được các giá trị xã hội, hình thành các phẩm chất của nhân cách, biến
các yêu cầu của xã hội về chính trị tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ, lao động, thể chất... thành những phẩm
chất cần thiết của nhân cách.
Hoạt động của nhà giáo dục với vai trò chủ đạo và hoạt động tự hoàn thiện nhân cách của học
sinh thống nhất biện chứng với nhau. Vai trò chủ đạo của nhà giáo dục là để giúp cho quá trình tự giáo
dục, tự rèn luyện của học sinh được tốt hơn. Hoạt động tự giáo dục của học sinh là sự hưởng ứng tích
cực sự hướng dẫn, lãnh đạo sư phạm của GV. HĐG
D mang tính toàn vẹn, là quá trình vận động và
phát triển liên tục, được thực hiện trong sự kết hợp tất cả các hoạt động trong nhà trường (hoạt động
dạy học trên lớp và các hoạt động đa dạng, phong phú ngoài giờ lên lớp), trong môi trường giáo dục
thích hợp. Qua đó, học sinh hình thành hành vi và t
hói quen hành vi, hình thành tình cảm và niềm tin
đúng đắn, tăng vốn kinh nghiệm, vốn sống của học sinh.

và tập thể học sinh khi tham gia vào hoạt động học tập, giáo dục trong và ngoài nhà trường. HĐGD
được đặt trong mối quan hệ thuận lợi, hài hòa giữa cá nhân với môi trường tự nhiên và xã hội, giữa cá
nhân và tập thể, giữa giáo viên và học sinh với các lực lượng xã hội khác trong mối quan hệ biện
chứng, giữa quá trình tác động có mục đích của nhà giáo dục với sự hoạt động tự giáo dục của học
sinh.
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ quá trình GD&ĐT ở trường THPT
1.2.1.4. Kết quả của HĐGD
Kết thúc một quá trình sư phạm ta có
kết quả dạy học và giáo dục. Kết quả cao khi những sản
phẩm giáo dục có những phẩm chất và năng lực tiếp cận với mục tiêu giáo dục, với số lượng và chất
lượng cao và với cơ cấu đảm bảo các chỉ tiêu kế hoạch. Đó là chất lượng nhân cách học sinh.
1.2.1.5. Chất lượng của HĐGD
Chất lượng giáo dục tập trung tập ở n
hân cách của người học đáp ứng được những yêu cầu của
mục đích giáo dục đề ra. Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên ngoài và bên trong, đặc
biệt là được thể hiện ở chất lượng nhân cách của người học với những đặc trưng cơ bản về thể chất,
tâm lý và xã hội phù hợp với những tiêu c
huẩn nhất định; hoặc là thể hiện ở năng lực và phẩm chất của
nhân cách người học được hình thành và phát triển trải qua các HĐGD với sự tham gia của nhiều yếu
tố như: xác định mục tiêu, chương trình, phương pháp, hình thức, điều kiện (phương tiện), môi trường
(hoàn cảnh), chất lượng đội ngũ giáo viên, sự nỗ lực của người học và tựu tr

phương pháp và hình thức giáo dục phù hợp với việc hình thành và phát triển nhân cách và có thể điều
khiển, điều chỉnh quá trình hoạt động học tập và rèn luyện của người học theo đúng yêu cầu đề ra.
Mục tiêu giáo dục nếu đư
ợc xác định cụ thể với yêu cầu cao sẽ là cơ sở để định ra những tiêu
chuẩn nhằm đánh giá chất lượng đào tạo.
- Chất lượng tuyển sinh đầu vào là bước mở đầu quan trọng cho quá trình giáo dục. Những
năm gần đây, người ta đã chú ý đến chất lượng tuyển sinh đầu vào. Điều này là một thuận lợi quan
trọng cho quá trình hình thành và phát triển nhâ
n cách cho người học phù hợp hơn.
- Nội dung, chương trình phản ánh mục tiêu giáo dục. Do đó, nội dung giáo dục cần được lựa
chọn với thời lượng phù hợp cho quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Trong nội dung,
chương trình giáo dục, các môn học với thời gian hợp lý và khối lượng kiến thức phản ánh được
những yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế - xã hội và khoa học – công nghệ là rất cần thiết, phản
ánh được các lý thuyết và thực tiễn mới, hiện đại.
- Phương pháp giáo dục và tự gi
áo dục có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao chất lượng.
Người học trong quá trình học tập và rèn luyện nếu tìm được phương pháp tối ưu và có tính chủ động
cao thì có thể hình thành được nhân cách với chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống.
- Điều kiện, phương tiện cũng là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng. Nếu có những phương tiện
dạy học - giáo dục hiện đại, có điều kiện cơ sở vật chất thuận lợi…thì quá trình tổ chức hoạt động dạy
học và giáo dục đư
ợc hỗ trợ nhiều và do đó kết quả sẽ cao hơn.
- Môi trường tạo ra tính tích cực hoạt động. Xây dựng được môi trường sư phạm
và những hoàn
cảnh hoạt động thuận lợi, phù hợp có thể nâng cao chất lượng giáo dục.
- Quá trình tổ chức và quản lý có tính khoa học, phù hợp với đặc điểm tâm lý và điều kiện hoạt
động của thầy và trò, phát huy được tính tự nguyện, tự giác của người học là yếu tố không thể thiếu
được trong HĐGD. Quá trình tổ chức, quản lý của nhà trường cần được phân cấp hợp lý, phân công,

phân nhiệm rõ ràng với sự phối hợp tích cực có thể ảnh hưởng tốt đến quá trình hình thành và phát

mới của cuộc sống hiện nay. Đây là hoạt động không thể thiếu được trong nhà trường. Nếu quá trình
giáo dục học sinh chỉ được thực hiện qua các hoạt động trên lớp thì kết quả rất hạn c
hế, không thể đảm
bảo được chất lượng giáo dục toàn diện.
HĐGDNGLL là những hoạt động giáo dục thực hiện ngoài thời gian học tập nhằm lôi cuốn
đông đảo học sinh tham gia để mở rộng hiểu biết, tạo không khí vui tươi, lành mạnh, tạo cơ hội để học
sinh rèn luyện thói quen sống trong cộng đồng và phát huy tối đa năng lực, sở thích của từng cá nhân.
HĐGDNGLL
là một mặt giáo dục cơ bản được thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ
chức nhằm góp phần hình thành nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo, đáp ứng những nhu cầu đa dạng
của xã hội.
Theo tài liệu bồi dưỡng giáo viên về HĐGDNGLL lớp 10 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm
2006: “HĐGDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học cá
c bộ môn văn hóa.
HĐGDNGLL có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động dạy học tạo điều kiện gắn lý thuyết với thực hành,
thống nhất giữa nhận thức với hành động, góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển các kỹ
năng, tình cảm, niềm tin, tạo cơ sở cho sự phát triển nhân cách toàn diện học sinh trong giai đoạn hiện
nay”.
Các hình thức sinh hoạt ngoài giờ lên lớp là một phương hướng giáo dục phù hơp với đặc điểm
yêu cầu của thanh thiếu niên học sinh. N
hững hoạt động dã ngoại kết hợp với sinh hoạt văn hoá tinh
thần, TDTT, tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử, tự nhiên, xã hội, ... để lại những dấu ấn sâu sắc trong mỗi
học sinh, giúp các em gặt hái được nhiều điều bổ ích về chuyên môn, nhận thức về kinh nghiệm xã hội
cũng như hình thành ở các em những tình cảm đạo đức tốt đẹp như: tình yêu thiên nhiên, yêu quê
hương đất nước, truyền thống yêu nước và cách mạng, quý trọng và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc,
tình yêu đối với người lao động, ... Đó là nguồn lực thúc đẩy mạnh mẽ các em phấn đấu vươn lên trong
học tập và rèn luyện vì tương lai, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.2.3. Vị trí, nhiệm vụ và vai trò của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.2.3.1. Vị trí của HĐGDNGLL
HĐGDNGLL là một bộ phận cấu thành của hoạt động dạy học – giáo dục.

1.2.3.3. Vai trò của HĐGDNGLL
HĐGDNGLL là cầu nối tạo ra mối liên hệ hai chiều giữa nhà trường và xã hội.
HĐGDNGLL là điều kiện và phương tiện để huy động sức mạnh cộng đồng tham gia vào quá
trình đào tạo học sinh, vào sự nghiệp phát triển của nhà trường.
HĐGDNGLL là bộ phận hữu cơ trong quá trình giáo dục ở nhà trường phổ thông, là bộ phận
không thể thiếu được trong kế hoạch giáo dục – đào tạo của nhà trường; tạo sự thống nhất giữa giáo
dục trong nhà trường và giáo dục ngoài nhà trường, giữa thời gian tr
ong năm học và thời gian hè.
1.2.4. Đặc điểm và nguyên tắc tổ chức của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.2.4.1. Đặc điểm của HĐGDNGLL
- HĐGDNGLL có nội dung đa dạng, phong phú; có thể diễn ra ở trong và ngoài nhà trường.
- Thời gian dành cho HĐGDNGLL khá nhiều và linh hoạt, đòi hỏi các lực lượng xã hội phải
cùng nhà trường tổ chức các HĐGD cho học sinh.
- HĐGDNGLL có tính đa dạng về mục tiêu vì không những nhằm mục tiêu giáo dục tư tưởng
đạo đức, phẩm chất, nhân cách của học sinh mà còn nhằm đạt các mục tiêu về đức, trí, thể, mỹ và lao
động.
- Chương trình HĐGDNGLL
rất năng động và đa dạng, phong phú về nội dung và hình thức
hoạt động. Tuy nhiên, việc kiểm tra và đánh giá HĐGDNGLL rất khó khăn và phức tạp.
1.2.4.2. Nguyên tắc tổ chức của HĐGDNGLL
Mỗi hoạt động có nguyên tắc riêng đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả.
Nguyên tắc cơ bản của HĐGDNGLL bao gồm:
- Phải đảm bảo tính mục đích, tính khoa học, tính kế hoạch.
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Tính đến các đặc điểm lứa tuổi và cá biệt của học sinh.
- Sự kết hợp lãnh đạo sư phạm với tính độc lập, tự quản của học sinh.
- Đảm bảo tính tập thể.
- Đảm bảo tính đa dạng, phong phú.
- Đảm bảo tính hiệu quả.
Nhà giáo dục phải chú ý tới cá

khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hóa, giáo dục môi trường; các hoạt
động xã hội, từ thiện phù hợp với đặc điểm sinh lý lứa tuổi học sinh.”
b. Theo thông tư số 32/TT Bộ giáo dục – Trung ương Đoàn TNCS HCM (1998) đề ra 5 nội
dung:
- Hoạt động chính trị - xã hội
- Hoạt động phục vụ học tập tìm hiểu kiến thức khoa học
- Hoạt động lao động công ích xã hội
- Hoạt động văn hoá – văn nghệ
- Hoạt động thể thao – quốc phòng, tham
quan du lịch
c. Theo tài liệu bồi dưỡng giáo viên về HĐGDNGLL lớp 10 của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm
2006, HĐGDNGLL được thực hiện theo quỹ thời gian 3 tiết /tuần, gồm: 1 tiết sinh hoạt dưới cờ đầu
tuần; 1 tiết sinh hoạt lớp cuối tuần và 1 tiết do nhà trường sắp xếp sao cho phù hợp đặc điểm v
à điều
kiện của mình.
HĐGDNGLL rất phong phú về nội dung và đa dạng về hình thức tổ chức. Nội dung
HĐGDNGLL ở trường THPT tập trung vào 6 vấn đề lớn sau:
+ Lẽ sống của thanh niên trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
+ Tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình.
+ Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
+ Truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng, bảo vệ di sản văn hóa
+ Thanh niên với vấn đề lập thân, lập nghiệp.
+ Những vấn đề có tính nhân loại như: bệnh tật, đói nghèo, giáo dục và phát triển, dân số, môi
trường, hòa bình, hợp tác và hữu nghị giữa các dân tộc.
Ngoài ra còn có các vấn đề nóng bỏng mang tính chất thời đại như giáo dục phòng chống các tệ
nạn xã hội, giáo dục pháp luật, giáo dục an toàn giao thông, những hoạt động phục vụ nhiệm vụ chính
trị - xã hội của địa phương, đất nước…
Nội dung HĐGDNGLL ở trường THPT được cụ thể hóa thành 10 chủ đề phù hợp với hoàn

cảnh, điều kiện học tập, rèn luyện của học sinh trong 9 tháng của năm học và 3 tháng hoạt động hè.

- Hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao quốc phòng
- Hoạt động tham quan du lịch, cắm trại
- Hoạt động xã hội - nhân đạo
- Hoạt động xây dựng và bảo vệ môi trường

Hoạt động chính trị – xã hội, đạo đức, pháp luật
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, chúng ta xây dựng học sinh thành người lao động thành thạo một
nghề, năng động đáp ứng nền kinh tế nhiều thành phần, nhất là trong giai đoạn nước ta đang hội nhập
kinh tế quốc tế như hiện nay. “Vì lợi ich mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” nên
việc giáo dục tư tưởng chính trị cho học sinh lúc nào cũng cần thiết.
Trong các giờ dạy, gi
áo viên thông qua bài giảng liên hệ thực tế để giáo dục học sinh. Đối với
HĐGDNGLL, một yêu cầu rất cơ bản là giáo dục tư tưởng chính trị cho học sinh. Chúng ta không thể
tập hợp các em phổ biến chỉ thị, nghị quyết bởi làm như thế sẽ mang lại hiệu quả thấp. Muốn đạt hiệu
quả cao, cần phải thông qua hoạt động văn hoá
, xã hội, qua đoàn thể mà tiến hành. Có như vậy, việc
giáo dục tư tưởng chính trị sẽ đi vào lòng học sinh từ từ mà bền vững. Một số hình thức giáo dục
thường tiến hành ở trường:
- Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động chính trị ở địa phương: tuyên truyền cho bầu cử
Hội đồng nhân dân, đại hội Đảng các cấp; tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn (ngà
y Nhà giáo Việt Nam,
ngày Quốc phòng toàn dân, ngày thành lập Đảng cộng sản, ngày sinh nhật Bác,…). Thông qua các hoạt
động này để giáo dục tư tưởng chính trị cho học sinh.
- Chăm sóc gia đình thương binh, liệt sỹ, giúp đỡ gia đình neo đơn, các bạn học sinh nghèo vượt
khó, trẻ em lang thang, cơ nhỡ.
- Tham gia chương trình từ thiện-việc làm mà toàn xã hội quan tâm. Thông qua các hoạt động từ
thiện để giáo dục lòng nhâ
n ái cho học sinh.
- Xây dựng nếp sống văn hoá, bài trừ mê tín dị đoan; câu lạc bộ nếp sống văn minh, gia đình
văn hoá, phòng chống tệ nạn xã hội.

Hoạt động tham quan du lịch, cắm trại:
Hoạt động này có sức hấp dẫn học sinh rất lớn. Nó vừa nâng cao sự hiểu biết đáp ứng nhu cầu
giao lưu bạn bè, xây dựng tình cảm tập thể, vừa rèn luyện kỹ năng thực hành tốt. Hình thức cắm trại có
thể dài ngày, ngắn ngày với thời gian từ 1-3 ngày vào các ngày nghỉ hoặc các ngày kỷ niệm quan trọng
trong năm. Có thể tổ chức theo
qui mô lớp hoặc trường và lồng ghép nhiều hoạt động khác như: Giáo
dục chính trị tư tưởng, văn nghệ, thể dục thể thao (TDTT) để thu hút học sinh tích cực tham gia. Tổ chức
tham quan du lịch như: tham quan bảo tàng, danh lam thắng cảnh, di tích văn hoá lịch sử.

Hoạt động lao động công ích, xã hội và bảo vệ môi trường:
Hoạt động lao động công ích nhằm giáo dục ý thức góp phần xây dựng quê hương. Lao động
giúp đỡ gia đình để sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội.
- Tham gia trồng cây phủ xanh đất trống, đồi trọc, trồng cây xung quanh trường, trồng cây kỷ
niệm.
- Lao động tu sửa trường lớp.
- Lao động giúp nhân dân địa phương; phòng chống thiên tai.
- Lao động giúp đỡ gia đìn
h.
- Bảo vệ môi trường sinh thái, xây dựng nhà trường xanh, sạch, đẹp.
Những hình thức trên giúp các em nhận thức rõ hơn giá trị lao động từ đó có thái độ đúng đắn
với người lao động, góp phần bảo vệ thành quả lao động, xây dựng quê hương đất nước.

Hoạt động nhân đạo
Hiện nay hoạt động nhân đạo đang được xã hội rất quan tâm. Hoạt động nhân đạo đã và đang
được phát triển sâu rộng trong các tổ chức, nhà trường nhằm phát huy truyền thống nhân ái của dân tộc
ta. Các tổ chức trong trường học như: Hội chữ thập đỏ, đội công tác xã hội, đội thanh niên xung kích,
Đoàn thanh niên có nhiều hoạt động phong phú thu hút được nhiều học sinh tham gia. Điển hình như:
- Chăm sóc các gia đình diện thương binh, liệt sỹ, giúp đỡ bạn nghèo, các bà mẹ Việt Nam anh
hùng.
- Giúp đỡ đồng bào nghèo vùng sâu vùng xa, các trẻ em nghèo vượt khó….

- Năng lực của học sinh và tập thể học sinh, cán bộ lớp, c
án bộ Đoàn.
- Quỹ thời gian thực hiện.
- Sự phối hợp với gia đình, các lực lượng tổ chức trong và ngoài nhà trường để phát huy thế
mạnh của họ.

1.3. Công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của hiệu trưởng

các trường
trung học phổ thông

1.3.1. Khái niệm về quản lý
Quản lý là hoạt động mang tính xã hội, khoa học, nghệ thuật của chủ thể quản lý tác động lên
đối tượng quản lý, khách thể quản lý một cách hợp quy luật, qua các chức năng quản lý (lập kế hoạch,
tổ chức, điều khiển, kiểm tra) trong một hệ thống xác định nhằm làm cho hệ thống vận hành đến mục
tiêu quản lý đã định.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn N
hư Ý chủ biên, NXB Văn hoá thông tin,1999; khái
niệm quản lý được định nghĩa là:
 Tổ chức và điều khiển các hoạt động của một số đơn vị, cơ quan.
 Trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì.
Theo một số tác giả khác định nghĩa về quản lý:
- “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị
quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định.” [
20, tr.130]
- “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt
được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi chủ thể đạt được các mục đích của nhóm với thời
gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.” [11, tr.29]
- “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử
dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (

1.2. Sơ đồ hoạt động quản lý
1.3.4. Khái niệm về quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên nhằm
hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập giáo dục của nhà trường.
Nguyễn Ngọc Quang cho rằng, quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể
quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu
tư, lực lượng xã hội đóng góp và lao động xâ
y dựng vốn tự có. Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động
của nhà trường, mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch
đào tạo đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới.
Theo PGS.TS. Phạm Minh Hạc: “quản lý nhà trường l
à thực hiện đường lối giáo dục của Đảng
trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục
tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”. [12, tr.22]
Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản
lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng. Q
uản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội,
được quy định bởi bản chất hoạt động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học,
giáo dục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể hoạt động của
bản thân mình. Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá

trình học tập, tu dưỡng và rèn luyên theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận.
Quản lý nhà trường phải quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách thế hệ trẻ
một cách hợp lý, hợp quy luật, khoa học và hiệu quả. Hiệu quả giáo dục trong nhà trường phụ thuộc

- Xây dựng đội ngũ giáo viên, công nhân viên và tập thể học sinh dạy tốt, học tốt; tạo bầu tâm l
ý
sư phạm vui vẻ thoải mái, đoàn kết tương thân, tương ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
- Quản lý tốt việc học tập của học sinh theo quy chế của Bộ GD&ĐT. Quản lý cả thời gian và chất
lượng học tập, quản lý học sinh tốt thì chất lượng sẽ cao.
- Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học nhằm p
hục vụ tốt cho việc giảng dạy, học tập, giáo dục
học sinh. Thường xuyên kiểm tra, bổ sung thêm những thiết bị mới theo yêu cầu đổi mới chương trình
giáo dục.
- Quản lý nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng quy tắc tài chính của Nhà nước và
của ngành giáo dục; đồng thời, biết động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng, mua
sắm thêm thiết bị phục vụ các hoạt động dạy học.
- Quản l
ý việc thi đua khen thưởng và việc đề bạt cán bộ kế cận, nâng bậc lương cho giáo viên.
Các hoạt động này phải được công khai minh bạch trước hội đồng sư phạm của trường. Luôn luôn
chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ giáo viên, công nhân viên. Phải tạo một phong trào thi
đua liên tục trong nhà trường “Thầy dạy tốt – trò học tốt”. Thầy – trò cùng hướng đến một chất lượng
giáo dục của trường ngày một nâng cao.
1.3.5. Vị trí, vai trò của Hiệu trưởng các trường trung học phổ thông

Trích đoạn Tham gia do ép buộc vì sợ trừ điểm hành vi đạo đức 
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status