biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của hiệu trưởng trường trung học phổ thông tỉnh bình định - Pdf 22

- 1 -
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Mục lục. 1
Danh mục chữ viết tắt dùng trong luận văn. 2
Danh mục các bảng, sơ, biểu đồ trong luận văn. 3
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về quản lý HĐGDNGLL. 10
1.1. Tổng quan. 10
1.2. Cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường. 14
1.3. Cơ sở lý luận về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. 18
1.4. Công tác quản lý của Hiệu trưởng trường THPT trong HĐGDNGLL. 26
CHƯƠNG 2: Thực trạng công tác quản lý các HĐGDNGLL của Hiệu
trưởng các trường THPT tỉnh Bình Định. 28
2.1. Tổng quan về tình hình phát triển KT - XH và GD - ĐT tỉnh Bình Định. 28
2.2. Thực trạng về giáo dục THPT có liên quan đến HĐGDNGLL tỉnh Bình
Định. 29
2.3. Phân tích thực trạng về nhận thức hoạt HĐGDNGLL của các trường
THPT tỉnh Bình Định. 33
2.4. Phân tích thực trạng tổ chức, chỉ đạo quản lý HĐGDNGLL của các
trường THPT tỉnh Bình Định. 42
2.5. Nhận xét đánh giá chung thực trạng công tác quản lý HĐGDNGLL của
Hiệu trưởng các trường THPT tỉnh Bình Định. 47
2.6. Kết luận chương 2. 51
CHƯƠNG 3: Các biện pháp quản lý HĐGDNGLL của Hiệu trưởng các
trường THPT tỉnh Bình Định. 53
3.1. Những căn cứ có tính chất định hướng cho việc xây dựng các biện pháp 53
3.2. Đề xuất 8 biện pháp cụ thể. 55
3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi hiệu quả các biện pháp đề xuất. 67
3.4. Kết luận chương 3. 69

Bảng 2.2 Xếp loại Học lực và Hạnh kiểm HS THPT 30
Bảng 2.3 Tỷ lệ tốt nghiệp THPT và lưu ban bỏ học 30
Bảng 2.4 Tình hình đội ngũ GV và CBQL bậc THPT 31
Bảng 2.5 Cơ sở vật chất - thiết bị dạy học THPT 32
Bảng 2.6 Ngân sách GD địa phương 32
Bảng 2.7 Nhận thức về vị trí HĐGDNGLL của CBQL 35
Bảng 2.8 Nhận thức về mục tiêu HĐGDNGLL của GV 35
Bảng 2.9 Nhận thức của CBQL về các loại hình thực hiện HĐGDNGLL 36
Bảng 2.10 Nhận thức của GV đánh giá về các hình thức HĐGDNGLL 36
Bảng 2.11
Nhận thức của CBQL về tác dụng của HĐGDNGLL đến việc hình thành
nhân cách HS
37
Bảng 2.12
Nhận thức của GV về tác dụng của HĐGDNGLL đến việc hình thành nhân
cách HS
37
Bảng 2.13
Nhận thức của GV đánh giá mức độ yêu thích của HS về các loại hình
HĐGDNGLL cụ thể
38
Bảng 2.14 Nhận thức về những khó khăn gặp phải khi tổ chức HĐGDNGLL của CBQL 39
Bảng 2.15
Nhận thức về những tác động xấu của yếu tố môi trường ngoài khi tổ chức
HĐGDNGLL trong GV
40
Bảng 2.16 Nhận thức của HS về loại hình và nội dung HĐGDNGLL 41
Bảng 2.17
Về các tác dụng, ảnh hưởng của HĐGDNGLL đối với việc hình thành nhân
cách HS

là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe,
thẩm mỹ và nghề nghiệp,…; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng
lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2001- 2010) của nước ta, nêu rõ; “ Bồi
dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước,…, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh
thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn. Đào tạo lớp người
lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết
thực, nhạy cảm với cái mới, ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ.”
Đó là những giá trị đạo đức cơ bản và năng lực nghề nghiệp cần có ở con
người lao động của thời kỳ Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá(CNH - HĐH) đất nước
những thập niên đầu thế kỷ XXI. Những giá trị đạo đức và năng lực nghề nghiệp của
người lao động, rõ ràng được hình thành cơ bản không chỉ bằng giờ học trên lớp mà
phải được rèn luyện, củng cố và phát triển thông qua các hoạt động GD phong phú,
đa dạng, đặc biệt hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở nhà trường phổ thông
đóng vai trò quan trọng.
1.2. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) là một khâu, một bộ
phận của toàn bộ quá trình GD, nhằm phát triển toàn diện và hài hòa nhân cách HS
trường trung học phổ thông (THPT). Hoạt động này sẽ góp phần củng cố, mở rộng
tri thức, rèn luyện kỹ năng sống, phát triển xúc cảm, tình cảm đạo đức của HS bằng
sự gián tiếp trong tập thể, giữa các tập thể và với xã hội. Từ đó hình thành ở HS kỹ
năng tự quản và tự tổ chức hoạt động; đặc biệt hình thành ở các em tính năng động
sáng tạo và tích cực. Mặt khác, xét về phương diện tâm lý thì: “Trong mọi con
người tồn tại hai bản năng rất mạnh và chúng có thể được sử dụng trong lĩnh vực
giáo dục. Bản năng thứ nhất là con người cần một cuộc sống cộng đồng. Bản năng
- 5 -
thứ hai là con người thích được vui chơi thoải mái”.[17,tr 36]. Chính HĐGDNGLL
là một phương thức GD phù hợp với cả hai bản năng trên, đồng thời đáp ứng được
nhu cầu hoạt động lành mạnh của tuổi trẻ.
HĐGDNGLL với nội dung, hình thức đa dạng và phong phú sẽ là phương
thức để thực hiện nguyên lý GD của Đảng: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp

ít thay đổi, hình thức hoạt động thiếu đa dạng, dễ gây sự nhàm chán trong hoạt động
của HS, không hấp dẫn thu hút được sự tham gia của đông đảo HS, không tạo được
sân chơi lành mạnh, sinh động, dẫn đến hiệu quả GD thấp.
Xuất phát từ những lý do chủ yếu nêu trên, là cán bộ quản lý(CBQL) nhà
trường, chúng tôi rất trăn trở trước thực trạng tổ chức HĐGDNGLL hiện nay ở các
trường THPT trong tỉnh, đã thúc đẩy tôi chọn và nghiên cứu đề tài : « Các biện pháp
quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng các trường Trung
học Phổ thông tỉnh Bình Định ».
2. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở, phân tích, đánh giá đúng thực trạng quản lý HĐGDNGLL của
Hiệu trưởng(HT) các trường THPT tỉnh Bình Định, đối chiếu với lý luận QLGD, kết
hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội(KT - XH) ở từng khu vực của nhà trường Đề
xuất các biện pháp quản lý HĐGDNGLL phù hợp, khả thi, góp phần làm tốt hơn các
HĐGDNGLL ở trường THPT .
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu:
3.1. Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý của HT trường THPT tỉnh
Bình Định.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý các HĐGDNGLL của HT các
trường THPT tỉnh Bình Định.
4. Giả thuyết khoa học:
HĐGDNGLL các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bình Định chưa thực sự
được chú trọng và hiệu quả còn thấp; việc quản lý của HT vẫn còn nhiều hạn chế, bất
cập do đó, nếu phân tích, đánh giá đúng thực trạng HĐGDNGLL và công tác quản
lý của HT các trường THPT tỉnh Bình Định, thì sẽ xác lập được một hệ thống các
- 7 -
biện pháp quản lý phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi bền vững, có thể nâng cao
hiệu quả HĐGDNGLL, góp phần thúc đẩy chất lượng dạy học - GD ở trường THPT.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt mục đích trên, đề tài tập trung thực hiện các
nhiệm vụ sau:
5.1. Nghiên cứu lý luận về quản lý HĐGDNGLL ở trường THPT.

tài liệu khoa học và các văn bản pháp qui của nhà nước, của ngành, của địa phương
có liên quan Nhằm tìm hiểu, xây dựng cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn
cho vấn đề nghiên cứu.
6.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Gồm phương pháp đàm thoại, quan sát, phỏng vấn, trưng cầu ý kiến, tổng kết
kinh nghiệm QLGD, khảo nghiệm
6.2.2.1. Phương pháp đàm thoại: Để tìm hiểu thực trạng
quản lý HĐGDNGLL của HT các trường THPT tỉnh Bình Định, chúng tôi tổ chức
trò chuyện, trao đổi trực tiếp với CBQL, GV và HS ở các trường khảo sát, nhằm
tìm hiểu về chất lượng quản lý HĐGDNGLL.
6.2.2.2. Phương pháp điều tra bằng hệ thống Ankét:
Chúng tôi tìm hiểu thực trạng quản lý HĐGDNGL thông qua hệ thống các câu hỏi,
các phiếu khảo sát xin ý kiến các CBQL, GV và HS, nhằm thu thập ý kiến chủ quan
của các thành viên. Từ đó có bức tranh về thực trạng quản lý HĐGDNGLL của HT
các trường THPT tỉnh Bình Định.
6.2.2.3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm QLGD: Là sự
kết hợp giữa lý luận quản lý HĐGDNGLL với thực tiễn, là quá trình đem lý luận
quản lý phân tích những kinh nghiệm thực tiễn về quản lý HĐGDNGLL, nhằm từ
thực tiễn mà rút ra lý luận đúng cho vấn đề nghiên cứu
6.2.3. Nhóm phương pháp bổ trợ khác:
- 9 -
6.2.3.1. Phương pháp thống kê toán học trong khoa học GD:
Nhằm xử lý kết quả nghiên cứu, xác định các thông số cần thiết như xác xuất, tỷ lệ
%, giá trị trung bình, bài toán ước lượng, kiểm định…
6.2.3.2. Phương pháp khảo nghiệm: Nhằm xem xét tính đúng
đắn, cần thiết và khả thi hiệu quả của những biện pháp đề xuất về quản lý
HĐGDNGLL trong thực tiễn.
7. Phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài nghiên cứu thực trạng chung quản lý HĐGDNGLL của HT 9 trường
THPT đại diện cho mặt bằng địa bàn tỉnh gồm: 5 trường THPT Huyện đồng bằng

dục, đạo đức, thể chất và thẩm mỹ và đã có sáng kiến tổ chức các hình thức giáo dục
như ngoài việc học ở lớp và ở nhà, còn có các buổi tham quan các xưởng thợ, các
cữa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghệ sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy
và trò về sống ở nông thôn một ngày”.[26,tr 39-40].
Đến thế kỷ XX, A.S. Macarenkô(1888-1939) - nhà sư phạm nổi tiếng của Nga
vào thập niên 20, 30 đã nói về tầm quan trọng của công tác giáo dục ngoài giờ lên
lớp:
Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể
hạn chế trong các vấn đề giảng dạy, lại càng không thể để cho quá trình giáo
dục chỉ thực hiện trên lớp học, mà đáng ra phải trên mỗi mét vuông của đất
nước chúng ta Nghĩa là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được quan
niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trên lớp. Công tác giáo dục
chỉ đạo toàn bộ cuộc sống của trẻ [1,tr 63].
Trong thực tiễn công tác của mình, A.S. Macarenkô đã tổ chức các hoạt động
ngoại khóa, câu lạc bộ HS ở trại M. Gorki và công xã F.E. Dzerjinski như : “ Tổ
đồng ca, tổ văn học Nga, tổ khiêu vũ, xưởng tự do, tổ thử nghiệm khoa học tự nhiên,
tổ vật lý - hoá học, thể thao Việc phân phối các em vào các tổ ngoại khóa, câu lạc
bộ được tổ chức trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các em có thể xin ra khỏi tổ bất cứ
lúc nào, nhưng các tổ phải có kỷ luật trong quá trình hoạt động” [2,tr 173-174].
- 11 -
Vào những năm 60 - 70, đất nước Liên Xô (cũ) đang trên con đường xây dựng
Chủ nghĩa xã hội, việc GD con người phát triển toàn diện được Đảng Cộng sản và
Nhà nước Xô viết quan tâm. Các nghiên cứu về lý luận GD nói chung và
HĐGDNGLL nói riêng được đẩy mạnh. Trong sách “ Giáo dục học” tập 3, tác giả
T.A.Ilina đã đề cập tới khái niệm, nội dung và các hình thức cơ bản của
HĐGDNGLL. Quyển “Tổ chức và lãnh đạo công tác giáo dục ở trường phổ thông”,
tác giả I.X. Marienco đã trình bày sự thống nhất của công tác GD trong và ngoài giờ
học, nội dung và các hình thức tổ chức HĐGDNGLL, vị trí của người HT trong việc
lãnh đạo hoạt động GD và các tổ chức Đội thiếu niên và Đoàn thanh niên.
Đặc biệt, trong cuốn sách “Effective Eduacational Management” (Quản lý

theo chương trình và kế hoạch thống nhất.
Như vậy, hoạt động tập thể được xác định là một trong những hoạt động GD
cơ bản thực hiện trong trường phổ thông, nhằm hình thành và phát triển toàn diện
nhân cách thế hệ trẻ.
* Điều lệ trường phổ thông tháng 4/1979, nội dung điều 10 được khái quát:
- Công tác giáo dục ở trường……, được thực hiện thông qua các hoạt động
giáo dục: học tập văn hóa, lao động sản xuất, thực nghiệm khoa học và các hoạt động
xã hội;
- Các hoạt động xã hội do nhà trường tổ chức cho học sinh tham gia với mức
độ thích hợp, là nhằm củng cố những tri thức đã học được, bồi dưỡng tình cảm đối
với nhân dân lao động, xây dựng thái độ tích cực tham gia công tác xã hội,… Ngoài
các hoạt động giáo dục trên đây, cần tổ chức thêm những hoạt động ngoại khóa khác
như thể dục thể thao, văn nghệ để công tác giáo dục được thêm phong phú.
Như vậy so với điều lệ năm 1976, thì điều lệ năm 1979 có nội dung thiên về
GD tình cảm, tư tưởng chính trị đạo đức cách mạng và ý thức tinh thần làm chủ tập
thể, có phần xem nhẹ các hoạt động ngoại khóa.
1.1.2.2. Từ cuộc cải cách GD lần thứ 3 tới nay, vấn đề
HĐGDNGLL được đề cập, nghiên cứu cụ thể hơn:
Nghị quyết số 14 - NQ/TW ngày 11/ 01/ 1979 của Bộ Chính trị Ban chấp
hành TW Đảng(Khóa IV) về cải cách GD đã khẳng định: “Nội dung giáo dục ở
trường phổ thông trung học mang tính chất toàn diện…, nhưng có chú ý hơn đến
- 13 -
việc phát huy sở trường và năng khiếu cá nhân , cần coi trọng giáo dục thẩm mỹ,
giáo dục và rèn luyện thể chất, hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao và
rèn luyện quân sự” [11, tr 4-5].
Điều 26, trong Điều lệ trường Trung học Cơ sở(THCS), trường THPT và
trường phổ thông có nhiều cấp học, ban hành theo Quyết định số 07/2007/QĐ-
BGDĐT, ra ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, xác định: “ Nhà
trường phối hợp với các tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục ngoài nhà trường thực
hiện các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. …., phù hợp với đặc điểm sinh lý lứa

Văn An - Hà Nội; Trần Văn Thế, Phó HT trường THPT Giao Thủy - Nam Định;
Nguyễn Hoài Nam, trường Phổ thông vùng cao Việt Bắc
Qua hệ thống nghiên cứu nói trên, cho thấy các tác giả đi sâu vào nghiên
cứu cơ bản về HĐGDNGLL ở trường phổ thông, nghiên cứu thực nghiệm, tổng kết
kinh nghiệm thực tiễn nhằm xây dựng qui trình tổ chức và đổi mới nội dung phương
pháp HĐGDNGLL. Còn các nghiên cứu về quản lý HĐGDNGLL nói chung ở
trường phổ thông và quản lý HĐGDNGLL ở trường THPT nói riêng hầu như ít được
thực hiện nghiên cứu. Qua tìm hiểu chưa có công trình, đề tài nào nghiên cứu chuyên
sâu về quản lý và các biện pháp quản lý HĐGDNGLL của HT các trường THPT.
Chính vì vậy, trong điều kiện công tác của bản thân, tôi thấy cần có sự nghiên cứu cơ
bản về thực trạng quản lý HĐGDNGLL ở các trường THPT tỉnh Bình Định. Từ đó
đề xuất một số biện pháp quản lý HĐGDNGLL của người HT trường THPT, đáp
ứng yêu cầu đổi mới chương trình GD phổ thông trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Cơ sở lý luận về quản lý, QLGD và quản lý nhà trường.
1.2.1. Khái niệm về quản lý:
Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của
lao động.
Sự cần thiết của quản lý được C. Mac viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay
lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến
một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân…. Một người độc tấu vĩ cầm
riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc
trưởng.”(C. Mac và Anghen, Toàn tập, tập 23 trang 34, NXB Chính trị Quốc gia, Hà
Nội.)
- 15 -
Như vậy, C. Mac đã chỉ ra bản chất quản lý là một hoạt động lao động để điều
khiển lao động, một hoạt động tất yếu quan trọng trong quá trình phát triển của xã
hội loài người. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh
vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người.
Đó là một loại hoạt động bắt nguồn từ tính chất cộng đồng, dựa trên sự phân
công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung.

chức, phương pháp, cán bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính, ) nhằm bảo đảm sự
vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống GD, bảo đảm sự tiếp tục phát
triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như về mặt chất lượng”.[28,tr
34].
- Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm QLGD là khái niệm đa cấp
(bao hàm cả quản lý hệ GD quốc gia, quản lý các phân hệ của nó đặc biệt là quản lý
trường học):
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp
qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và
nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục
thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.
[28,tr 35]
- Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động
dạy học. Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của
nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là
cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực,…”.
[32,tr 9].
QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý,
nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống GD, đạt tới kết quả mong muốn một cách
hiệu quả nhất.
QLGD có tính xã hội cao. Bởi vậy, cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề: xã
hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng phục vụ công tác GD.
- 17 -
Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của QLGD. Dạy học và GD
trong sự thống nhất là hoạt động trung tâm của nhà trường. Mọi hoạt động đa dạng
và phức tạp khác của nhà trường đều hướng vào tiêu điểm này. Vì vậy, quản lý nhà
trường thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm của thầy, hoạt động học - tự
GD của trò diễn ra trong quá trình dạy học - GD.
1.2.3. Các chức năng QLGD:

điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục tiêu
và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mơí.[28,tr 43].
Theo tác giả Phạm Viết Vượng : “Quản lý trường học là lao động của các cơ
quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực
lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao
chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”.[44,tr 205].
Bản chất của hoạt động quản lý trong nhà trường là quản lý hoạt động dạy học
- GD, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần
tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo.
Tóm lại: Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối GD của Đảng trong phạm
vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí GD để tiến
tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và với từng HS.
1.3. Cơ sở lý luận về HĐGDNGLL:
1.3.1. Hoạt động:
“Cuộc sống con người là một chuỗi những hoạt động giao lưu kế tiếp nhau,
đan xen vào nhau. Con người muốn sống, muốn tồn tại phải hoạt động.”[42,tr35].
Vậy xét về phương diện Triết học và Tâm lý học, hoạt động là gì?
- Theo Từ điển Triết học: “Hoạt động là một phương thức đặc thù của con
người quan hệ với thế giới, một quá trình qua đó con người tái sản xuất và cải tạo
một cách sáng tạo thế giới tự nhiên, do đó làm cho bản thân mình trở thành chủ thể
hoạt động và làm cho những hiện tượng của tự nhiên mà con người nắm được trở
thành khách thể của hoạt động của mình”.[25,tr 256 ].
- 19 -
- Khi hoạt động là đối trượng của tâm lý học, A.N. Leonchiev đã định nghĩa
như sau:
Hoạt động là một quá trình thực hiện sự chuyển hoá lẫn nhau giữa hai cực
chủ thể - khách thể. Theo nghĩa rộng nó là đơn vị phân tử chứ không phải là
đơn vị cộng thành của đời sống chủ thể. Đời sống của con người là một quan
hệ thống nhất các hoạt động thay thế nhau. Hoạt động, theo nghĩa hẹp hơn
tức là ở cấp độ tâm lý học, là đơn vị của đời sống mà khâu trung gian là

GD đạt được hiệu quả cao.
- Trong quá trình GD, ngoài việc hình thành cho HS thái độ đúng đắn, các
hành vi và các thói quen tốt, các kỹ năng hoạt động và ứng xử trong các mối quan hệ
về xã hội, chính trị, đạo đức, pháp luật , còn phải tạo cơ sở để các em có thể bổ sung
và hoàn thiện kiến thức đã học trong quá trình dạy học. Vậy HĐGDNGLL là gì?
Có nhiều tác giả đưa ra khái niệm về HĐGDNGLL và nhìn chung các khái
niệm có nhiều điểm tương đồng nhau:
- Theo T.A.Ilina:
Công tác giáo dục học sinh ngoài giờ học thường được coi là công tác giáo
dục ngoại khóa. Công tác này, bổ sung và làm sâu thêm công tác giáo dục
nội khóa, trước tiên là phương tiện để phát hiện đầy đủ tài năng và năng
lực của trẻ em, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hướng của học sinh đối với
một hoạt động nào đó; đó là một hình thức tổ chức giải trí của học sinh và
là cơ sở để tổ chức việc thực tập về hành vi đạo đức, để xây dựng kinh
nghiệm của hành vi này.[33,tr 61-62]
- Tác giả Đặng Vũ Hoạt quan niệm: “Hoạt động GDNGLL là việc tổ chức
giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học-kỹ thuật, lao động
công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mỹ, thể dục
thể thao, vui chơi giải trí , để giúp các em hình thành và phát triển nhân
cách.”[20,tr 7].
Từ các định nghĩa trên, có thể thấy rằng: HĐGDNGLL là hoạt động GD
được tổ chức ngoài thời gian học trên lớp. Đây là một trong hai hoạt động cơ bản,
được thực hiện một cách có tổ chức, có mục đích theo kế hoạch của nhà trường; hoạt
động tiếp nối và thống nhất hữu cơ với hoạt động học tập trên lớp, nhằm góp phần
- 21 -
hình thành và phát triển nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo, đáp ứng những yêu cầu
đa dạng của xã hội đối với thế hệ trẻ .
HĐGDNGLL do nhà trường tổ chức và quản lý với sự tham gia của các lực
lượng xã hội. Nó được tiến hành tiếp nối hoặc xen kẽ hoạt động dạy - học trong
phạm vi nhà trường hoặc trong cộng đồng. Hoạt động này diễn ra trong cả năm học

HĐGDNGLL là điều kiện tốt nhất để HS phát huy vai trò chủ thể, tính tích
cực, chủ động của các em trong quá trình học tập, rèn luyện toàn diện. HĐGDNGLL
vừa củng cố, mở rộng kiến thức đã học, vừa phát triển các kỹ năng sống cơ bản của
HS theo mục tiêu GD ở THPT. Mặt khác, HĐGDNGLL thu hút và phát huy tiềm
năng của các lực lượng GD, nhằm nâng cao hiệu quả GD toàn diện của nhà trường.
“ Hoạt động GDNGLL ở THPT đặt HS (lứa tuổi đầu thanh niên) trước những
vấn đề của thời đại, của xã hội mà họ phải đối mặt trong tương lai không xa. Vì vậy,
ở THPT các em phải được chuẩn bị hành trang để gánh vác trách nhiệm chủ nhân
của đất nước trong tương lai”. [7,tr 42].
“Với vị trí, vai trò, ý nghĩa quan trọng như vậy, hoạt HĐGDNGLL thực sự là
một bộ phận hữu cơ của hệ thống hoạt động GD ở trường THPT. HĐGDNGLL cùng
với hoạt động dạy học trên lớp là một quá trình sư phạm gắn bó, thống nhất nhằm
thực hiện mục tiêu đào tạo của cấp học”[9,tr 61]. Tổ chức có hiệu quả HĐGDNGLL
ở trường THPT sẽ gắn liền nhà trường với đời sống xã hội, góp phần phát huy vai trò
của GD trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.
Vì vậy, việc nhà trường tổ chức các HĐGDNGLL với những hình thức đa
dạng do HS tự quản lý và điều khiển có vị trí rất quan trọng đối với HS lứa tuổi này.
Đây là những hoạt động không thể thiếu, có tác dụng thiết thực đối với việc hình
thành và phát triển nhân cách các em.
Dưới góc độ chỉ đạo chung, vị trí của HĐGDNGLL được khẳng định tại điều
26 điều lệ trường THPT, ban hành theo Quyết định số: 07/ 2007/ QĐ - BGD-ĐT,
ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ GD - ĐT: “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
bao gồm các hoạt động ngoại khoá về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể
HĐ DẠY VÀ HỌC TRÊN LỚP
- 23 -
thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục
pháp luật nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; ….phù hợp với đặc
điểm sinh lý lứa tuổi học sinh” [8, tr 15].
Là một trong hai hoạt động GD trong nhà trường: hoạt động dạy - học trên lớp
và HĐGDNGLL; từ đó có sơ đồ kế hoạch HĐGDNGLL (gồm phần bắt buộc theo

Chương
trình Sân
chơi mới
Nguyện
vọngHS
HS
Các yếu tố
khác
Hình 1.2: Sơ đồ kế hoạch HĐGDNGLL ở trường THPT
- 24 -
* Nguyên tắc tính đến các đặc điểm lứa tuổi và cá biệt
của HS: Nguyên tắc này đòi hỏi nội dung và hình thức HĐGDNGLL phải được thay
đổi, tùy thuộc vào sự chuyển từ giai đoạn lứa tuổi này sang lứa tuổi khác ở HS. Nhà
trường, GV phải xác định các loại hình hoạt động và các hình thức công việc sao cho
chúng phù hợp với khả năng của lứa tuổi và hứng thú cá nhân HS.
* Nguyên tắc kết hợp sự lãnh đạo sư phạm với tính
độc lập, tự quản của HS: HS THPT có tính tích cực hoạt động xã hội và có tính tự
quản, tuy nhiên các em chưa có đủ kinh nghiệm sống, vì vậy cần có sự lãnh đạo sư
phạm của thầy cô trong việc tổ chức các HĐGDNGLL.
Nguyên tắc này đòi hỏi phát triển tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS.
HĐGDNGLL phải là hoạt động của HS, do HS tự tổ chức và quản lý. Vai trò của
người thầy là xác định phương hướng hoạt động, giúp đỡ HS tổ chức công việc, là
người cố vấn cho HS trong các hoạt động của họ.
* Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả: Khi tiến hành bất
cứ hoạt động nào cũng phải tính đến hiệu quả, nhưng hiệu quả GD luôn được coi là
vị trí hàng đầu, chủ yếu của HĐGDNGLL. Nếu tổ chức HĐGDNGLL có sự kết hợp
hiệu quả GD với các hiệu quả khác như: kinh tế, chính trị, xã hội, thì phải lấy hiệu
quả GD để điều chỉnh hiệu quả khác.
1.3.4. Nội dung HĐGDNGLL ở trường THPT hiện nay:
HĐGDNGLL ở trường THPT rất phong phú về nội dung và đa dạng về hình

thú khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật,’’. [7, tr 43].
1.3.4.3. Phân chia nội dung hoạt động theo tiến độ thời gian:
* Hoạt động hàng ngày. * Hoạt động hàng tuần. * Hoạt động hàng tháng.
(xem hình 1.3). [38,tr 8].

Hướng về
20.11
2 chủ điểm
15.10
20.11
Giữa KH1
Hướng về
22.12
2 chủ điểm
22.12
9.1
Sơ kết KH1
Hướng về
Đảng, Đoàn
3 chủ điểm
3. 2
8. 3
26.3
Giữa KHII
Hướng về
Bác Hồ
2 chủ điểm
30.4
19.5
TK năm học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status