Thực trạng hoạt động xuất khẩu thiếc của công ty cổ phần tập đoàn khoáng sản và thương mại VQB sang thị trường Châu Âu - Pdf 26

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
CHƯƠNG 1: 3
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI NHÁNH CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN KHOÁNG SẢN VÀ THƯƠNG MẠI
VQB 3
1. Tổng quan về công ty cổ phần tập đoàn khoáng sản và thương mại VQB 3
1.1. Một số thông tin cơ bản 3
1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh công ty Cổ phần tập đoàn Khoáng sản
và Thương mại VQB tại Hưng Yên 3
1.2.1. Cơ cấu tổ chức của công ty 4
1.2.2. Nhiệm vụ của các phòng ban trong chi nhánh công ty cổ phần tập đoàn khoáng sản
và thương mại VQB 4
2. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh 5
2.1. Đặc điểm sản phẩm 5
2.2. Đặc điểm lĩnh vực hoạt động 7
2.2.1. Đặc điểm chung của ngành khai thác và chế biến khoáng sản 7
2.2.2. Sự tác động của luật pháp đến đặc điểm lĩnh vự hoạt động khai thác khoáng sản 8
2.2.3. Đặc điểm riêng của lĩnh vực khai thác chế biến kim loại màu 9
3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh từ năm 2008 đến quý I/2012 của chi nhánh công ty
cổ phẩn tập đoàn khoáng sản và thương mại VQB tại Hưng Yên 12
4. Định hướng phát triển của chi nhánh công ty cổ phần tập đoàn khoáng sản và thương mại
VQB tại Hưng Yên giai đoạn 2012-2015 13
4.1. Nhìn nhận đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hướng phát triển của công ty 13
4.1.1. Các yếu tố rủi ro 13
4.2. Triển vọng phát triển của ngành khai thác khoáng sản trong những năm tới 17
4.2.1. Sự phát triển của nền kinh tế thế giới và trong nước 17
4.2.2. Sự phát triển bùng nổ của Trung Quốc và nhu cầu bạn hàng 17
4.2.3. Trữ lượng, xu hướng tăng giá và sự ủng hộ của nhà nước trong việc chế biến sâu 18
4.3. Định hướng phát triển cuẩ chi nhánh công ty cổ phần tập đoàn khoáng sản và thươgn
mại VQB tại Hưng Yên 19
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THIẾC SANG THỊ TRƯỜNG CHÂU ÂU CỦA CHI

KẾT LUẬN 49
BẢNG BIỂU SỬ DỤNG 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
LỜI NÓI ĐẦU
Như chúng ta đã thấy trong quá trình CNH,HĐH đã và đang diễn ra như vũ
bão thì tài nguyên khoáng sản là 1 yếu tố không thể thiếu.Thế giới càng phát triển
bao nhiêu thì tầm quan trọng của tài nguyên khoáng sản càng quan trọng bấy
nhiêu,vì thiếu nó mọi quá trình sản xuất đều không thể được thực hiện .Tầm quan
trọng của khoáng sản với nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế nước ta nói riêng
đã rất rõ.Nhưng chúng ta cần phải thấy một điều là tài nguyên thì có hạn,và với việc
khai thác và sử dụng bừa bãi trong những năm qua tài nguyên khoáng sản đang dần
cạn kiệt.Vì những lý do trên mà cả thế giới đang hướng tới khai thác,chế biến sản
xuất tài nguyên khoáng sản một cách hợp lý nhất.Và nước ta cũng vậy, với việc
năm 2007 Việt Nam đã chính thức tham gia vào sân chơi quốc tế chúng ta đã là
thành viên chính thức của tổ chức thương mại WTO. Điều đó đã mang lại nhiều cơ
hội cũng như nhiều thách thức cho các công ty Việt Nam nói chung và các công ty
hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh khoáng sản nói riêng.
Để thấy rõ hơn điều đó,em xin đưa ra một vài ý kiến sau khi đã tìm hiểu về
Chi nhánh Công ty cổ phần Tập đoàn khoáng sản và thương mại VBQ tại Hưng
Yên-Công ty chuyên hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh thiếc ra nước
ngoài.Vì điều kiện còn hạn hẹp cả về kiến thức chuyên môn lẫn thời gian nên em
xin được giới hạn phạm vi tìm hiểu trong hoạt động kinh doanh và sản xuất thiếc
của Chi nhánh sang thị trường Châu Âu để có thể tìm ra những thiếu sót,những
điểm mạnh,điểm yếu trong hoạt động kinh doanh một cách cụ thể nhất,từ đó đưa ra
những biện pháp để cải thiện,thúc đẩy việc xuất khẩu thiếc sang thị trường Châu
Âu.
Qua một thời gian nghiên cứu học hỏi thực tế kết hợp với kiến thức đã được
học ở trường em đã hoàn thành đề cương chi tiết. Em xin trân thành cảm ơn sự
hướng dẫn nhiệt tình của cô Lương Thu Hà,cảm ơn các anh,chị trong Chi nhánh
Công ty cổ phần tập đoàn khoáng sản và thương mại VQB đã giúp đỡ em.

Được thành lập ngày 27/03/2007 chi nhánh công ty đã dần đi vào ổn định và
hoạt động ổn định từ năm 2009. Ngành nghề kinh doanh chính của chi nhánh Hưng
Yên: chuyên gia công sản xuất luyện kim, thiếc kim loại để xuất khẩu ra nước ngoài
được đem về từ 2 cơ sở sản xuất của công ty tại Khăm Muộn – Lào, và Đồng Văn –
Hà Giang
Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các phòng ban chức năng
3
1.2.1. Cơ cấu tổ chức của công ty
Sơ đồ1 : Cơ cấu tổ chức của chi nhánh công ty cổ phần tập đoàn khoáng
sản và thương mại VQB
(Nguồn : Tổ chức công ty)
1.2.2. Nhiệm vụ của các phòng ban trong chi nhánh công ty cổ phần tập
đoàn khoáng sản và thương mại VQB
• Giám đốc Chi nhánh: Là người đứng đầu bộ máy quản lý, đại diện pháp
nhân của chi nhánh, chịu trách nhiệm trước cơ quan Nhà nước về mọi hoạt động sản
xuất kinh doanh của Chi nhánh, bao quát chung toàn bộ mọi hoạt động của Chi
nhánh như: công tác tổ chức cán bộ, công tác tài chính kế toán, công tác đối
ngoại… Đồng thời là người tham mưu,đưa ra những ý kiến đóng góp về mặt hoạch
định các mục tiêu chính sách cho Tổng giám đốc đối với chính chi nhánh.
• Phó giám đốc Chi nhánh: Phối hợp với phòng kế toán giúp việc trực tiếp cho
Giám đốc trong công tác quản lý, tài chính. Đó là người nắm vững các kiến thức về
chuyên ngành, tư vấn cho Giám đốc về kỹ thuật, phụ trách khâu kỹ thuật và tìm
kiếm thị trường sao cho đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
• Quản đốc phân xưởng: Là người quản lý công nhân, phụ trách bộ phận sản
xuất, giúp Giám đốc quản lý, điều phối toàn bộ công nhân trong đơn vị sao cho đạt
Giám đốc chi nhánh
Phó giám đốc chi nhánh
Quản
đốc phân
xưởng

Thiết kế , chế tạo thiết bị công nghiệp và thiết bị phụ trợ
Dịch vụ tư vấn đầu tư trong nước và nước ngoài
Kinh doanh bất động sản , nhà ở , văn phòng khách sạn, nhà hàng , nhà trẻ ,
trường học.
Lữ hành nội địa , lữ hành quốc tế và các dịch vụ phục vụ du lịch khác
Xuất khẩu hàng hóa , vật liệu , vật tư máy móc , trong lĩnh vực công nghiệp
5
Vận tải hàng hóa, vận chuyển hành khách , cho thuê các phương tiện vận tải
Nhưng nhìn chung sản phẩm chính của công ty là khai thác chế biến , tinh chế
kim loại màu cụ thể là Thiếc hàm lượng cao . Do đặc thù của ngành khai khoáng
cũng như sự khác biệt của sản phẩm là sản phẩm khai khoáng cần qua quá trình tinh
chế tuân thủ nghiêm ngặt các quy định tiêu chuẩn , bên cạnh đó do yêu cầu thị
trường mà sản phẩm có độ nguyên chất khác nhau. Với những sản phẩm nhu quặng
tinh chế ở mức 99.75% và 99.95% hướng tới những đối tượng khách hàng khác
nhau tạo lên sự khác biệt giữa sản phẩm khai khoáng và những loại sản phẩm khác.
Sản phẩm phải đạt nhưng quy cách quy chuẩn cụ thể. dưới đây là yêu cầu kỹ thuật
với sản phẩm Thiếc thỏi hàm lượng 99,95% của công ty.
Yêu cầu kỹ thuật:
Thiếc thỏi có các thành phần tương ứng trong bảng:
Bảng 1 : yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm thiếc 99.95%
Mác Thiếc % Sn ≥
Hàm lượng tạp chất không lớn hơn (%)
Fe As Cu Pb Bi Sb S
Sn.01 99,95 0,005 0,007 0,005 0,005 0,02 0,005 0,003

Thiếc được sản xuất theo dạng thỏi, khối lượng mỗi thỏi là 24 ± 1kg. Bề mặt
nhẵn, sạch, không bị ô xy hóa, không có ba via, không phân lớp và không rộp, rỗ.
Bên cạnh đó quy trình sản xuất , công nghệ sử dụng cũng tạo nên sự khác
biệt của sản phẩm. Sản phẩm phải thỏa mãn nhiều tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe , do
đó các loại máy móc thiết bị phục vụ trong khai thác , chế biến , tinh chế sản phẩm

Tuy nhiên, hiện nay hiệu quả đầu tư của ngành đang suy giảm tương đối so với các
lĩnh vực khác, do
đầu tư mới chú trọng đến việc mở rộng mà chưa đầu tư theo chiều sâu, chủ
yếu dừng ở việc xuất khẩu quặng và tinh quặng với giá trị thấp hơn nhiều giá kim
loại phải nhập khẩu về. Do vậy, trong thời gian tới, ngành cần phát triển theo hướng
tăng cường chế biến sâu, bên cạnh việc thăm dò, mở rộng mỏ mới.
•Trong năm 2011, áp lực gia tăng chi phí nguyên nhiên liệu đầu vào là một
thách thức lớn đối với hầu hết các doanh nghiệp khoáng sản. Riêng đối với các
7
doanh nghiệp khai thác VLXD có thể còn gặp khó khăn về đầu ra do chính sách cắt
giảm đầu tư công của chính phủ để kiềm chế lạm phát và sự đóng băng của thị
trường bất động sản khiến nhiều công tŕnh xây dựng phải hoăn khởi công hoặc giăn
tiến độ thi công.
•Ngoài ra, chính sách pháp luật của Việt Nam còn đang trong quá trình hoàn
thiện, có thể tác động đến hoạt động của ngành: Luật khoáng sản 2011 sẽ thay đổi
cơ chế cấp phép thăm dò khai thác mỏ theo cơ chế đấu giá; ngoài ra biểu thuế của
nhiều loại khoáng sản được điều chỉnh theo hướng tăng lên làm gia tăng chi phí cho
doanh nghiệp.
•Nhìn chung, các doanh nghiệp khoáng sản đang niêm yết hiện nay có quy mô
nhỏ, mức độ tài trợ bằng nợ ít hơn thị trường nhưng biên lợi nhuận gộp lại cao hơn.
Trong khi nhóm doanh nghiệp khai thác quặng kim loại có mức độ đầu
tư lớn hơn cho tài sản cố định, nhóm doanh nghiệp khai thác VLXD lại có
mức sinh lời cao hơn, chất lượng dòng tiền và chất lượng lợi nhuận tốt hơn.
2.2.2. Sự tác động của luật pháp đến đặc điểm lĩnh vự hoạt động khai thác
khoáng sản.
Từ 1/7/2010, thuế tài nguyên của phần lớn các loại quặng kim loại và khoáng
sản phi kim đã được điều chỉnh tăng lên. Mục đích của việc tăng thuế đối với các
loại quặng này một phần là để bảo vệ nguồn tài nguyên không tái tạo của quốc gia,
mặt khác Chính phủ muốn khuyến khích các doanh nghiệp khoáng sản đầu tư vào
các dự án chế biến sau khai thác để nâng cao hiệu quả sử dụng tránh lãng phí tài

danh mục đầu tư.
2.2.3. Đặc điểm riêng của lĩnh vực khai thác chế biến kim loại màu
Đầu ra của ngành khoáng sản cụ thể trong lĩnh vực khai thác chế biến kim loại
màu là những nguyên vật liệu đầu vào thiết yếu cho các ngành công nghiệp sản
xuất, chế tạo. Do vậy, chu kì phát triển của ngành gắn liền với chu kì phát triển
chung của nền kinh tế.
Độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành khoáng sản không chỉ biến động cùng
chiều với chu kì tăng trưởng của nền kinh tế thế giới- thể hiện bằng chỉ tiêu tăng
9
trưởng tổng sản phẩm kinh tế thế giới GWP- mà còn biến động với mức độ lớn.
Trong những thời kì kinh tế thế giới tăng trưởng, ngành khoáng sản Việt Nam có sự
phát triển mạnh mẽ và ngược lại, ngành cũng suy giảm rất sâu trong những thời kì
kinh tế toàn cầu suy thoái. Tuy nhiên,mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng của
ngành khoáng sản so với chu kì phát triển của nền kinh tế Việt Nam lại không được
thể hiện rõ, nhất là trong giai đoạn trước 2007. Từ sau khi gia nhập WTO năm
2007, tăng trưởng kinh tế Việt Nam bắt nhịp với kinh tế thế giới và ngành khoáng
sản cũng bắt đầu biến động cùng chiều với kinh tế trong nước.Điều này phản ánh
một đặc điểm quan trọng của ngành khoáng sản nước ta là phụ thuộc rất nhiều vào
nền kinh tế thế giới. Nhu cầu và giá cả nhiều sản phẩm đầu ra của ngành do thị
trường thế giới quyết định.
2.2.4. Đặc điểm kinh doanh của chi nhánh công ty cổ phần tâp đoàn
khoáng sản VQB tại Hưng Yên
•Nguồn gốc từ một công ty xây dựng tư nhân, từ năm 2007, VQB chuyển đổi
sang mô hình công ty cổ phần, từ đó thu hút được nguồn vốn công ty đã mở rộng
quy mô trong lĩnh vực khai khoáng và mở rộng quy mô các lĩnh vực hoạt động.
•Tuy mở rộng quy mô– lĩnh vực sản xuất, nhưng hiệu quả hoạt động của VQB
chưa được thể hiện khi mà công ty vẫn chưa xác định đúng hướng đi cho mình ,
điều này được thể hiện ở doanh thu năm 2008 và năm 2009 là một sự sụt giảm
nghiêm trọng.
•VQB hiện có tỉ lệ nợ phải trả/tổng tài sản là 45%, tuy không lớn so với các

điểm của xuất khẩu hàng hóa như :
Thời gian lưu chuyển hàng hoá trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu bao
giờ cũng dài hơn so với thời gian lưu chuyển hàng hoá trong hoạt động kinh doanh
nội địa do khoảng cách địa lý cũng như các thủ tục phức tạp để xuất khẩu hàng hoá.
Do đó, để xác định kết quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu, người ta chỉ xác định
khi hàng hoá đã luân chuyển được một vòng hay khi đã thực hiện xong một thương
vụ ngoại thương.
Thời điểm giao, nhận hàng và thời điểm thanh toán: Thời điểm xuất khẩu
11
hàng hoá và thời điểm thanh toán tiền hàng không trùng nhau mà có khoảng cách
dài.
3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh từ năm 2008 đến quý I/2012
của chi nhánh công ty cổ phẩn tập đoàn khoáng sản và thương mại VQB tại
Hưng Yên.
Bảng 2 : Kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2008 đến quý I/2012
ĐVT :Triệu đồng
STT Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011 I/2012
1
Doanh thu thuần về bán
hàng và cung cấp dịch vụ
120.400 15.218 19.061 22.894 3.458
2
Doanh thu hoạt động
tài chính
600 3.258 5.324 5.486 598,5
3 Tổng lợi nhuận trước thuế 4.434 901 1.598 2.090 110
4
Lợi nhuận sau thuế thu
nhập doanh nghiệp
3.326 720 1.278 1.672 88

Chi phí đầu tư thăm dò ban đầu khá lớn mà rủi ro lại cao (rủi ro về trữ lượng
mỏ, về điều kiện khai thác…) là những rào cản gia nhập ngành. Trước đây, việc
cấp phép khai thác mỏ được thực hiện theo cơ chế “xin-cho” nên khá dễ dàng, nhất
là các mỏ của địa phương được phân quyền cho UBND tỉnh cấp. Tuy nhiên từ
1/7/2011, theo Luật Khoáng sản mới, muốn được cấp phép thăm dò và khai thác
đều phải thực hiện đấu thầu, do vậy chi phí thăm dò sẽ tăng lên cũng làm tăng rào
cản gia nhập ngành.
Rào cản về thị trường cũng là một thách thức không nhỏ. Hiện tại trên thị
trường đã có những ông trong lĩnh vực khai khoáng như ; CÔNG TY CỔ PHẦN
KHOÁNG SẢN VÀ XÂY DỰNG BÌNH DƯƠNG , CÔNG TY CƠ KHÍ
KHOÁNG SẢN HÀ GIANG , CÔNG TY KHOÁNG SẢN TÂY BẮC , CÔNG TY
CỔ PHẦN KHOÁNG SẢN NA RÌ HAMICO , CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN
KHOÁNG SẢN HAMICO đều là những công ty hoạt động trong lĩnh vực khai
13
khoáng lâu năm , họ có kinh nghiệm , vốn , thị trường , công nghệ. Do đó đặt ra rào
cản gia nhập thị trường là rất lớn.
4.1.1.2. Áp lực từ yếu tố nguồn nguyên liệu.
Đầu vào chủ yếu của ngành khai thác khoáng sản là quyền khai thác mỏ. Áp
lực đầu vào lớn đối với các doanh nghiệp chỉ được cấp phép bởi UBND tỉnh đây là
những mỏ quy mô nhỏ, thời hạn cấp phép không dài. Trong khi đó, những doanh
nghiệp có giấy phép của Bộ sẽ có ưu thế do đây là mỏ nằm trong quy hoạch của
trung ương, quy mô lớn, thời hạn cấp phép dài Ngoài ra, các loại nhiên liệu
như xăng, dầu, điện, than…và một số loại hóa chất, thuốc nổ…cũng là những đầu
vào
rất quan trọng. Đối với doanh nghiệp khai thác quặng: giá xăng dầu chiếm
khoảng 15%, giá điện chiếm 5-10% tổng chi phí sản xuất. Các loại nhiên liệu
thường được phân phối bởi một số ít nhà cung cấp mang tính độc quyền cao, nên
khả năng đàm phán về giá là khó. Trong thời gian tới, áp lực tăng giá đầu vào đối
với ngành là khá lớn. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp khoáng sản, do nhiên liệu
chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất nên rủi ro tăng chi phí đầu vào-

nhiều mặt hàng giống nhau như đá, cát, sỏi…nên mức độ cạnh tranh lớn hơn, đặc
biệt là những công ty có vị trí địa lí gần nhau. Trong khi đó, những công ty chuyên
về một mặt hàng có tính chất độc quyền như HGM sản xuất antimony, MMC khai
thác mangan, SQC khai thác titan…thì áp lực cạnh tranh nội bộ ngành lại nhỏ.
Riêng đối với công ty cổ phần tập đoàn khoáng sản và thương mại VQB mức
độ cạnh tranh lại gay gắt hơn bởi công ty chỉ cung cấp 1 loại khoáng sản là thiếc ,
do đó việc phải đối mặt với các ông lớn là không thể tránh khỏi.
4.1.1.5. Rủi ro từ chính sách pháp luật
Luật khoáng sản mới thay đổi những quy định về việc cấp phép theo hướng
thắt chặt và tốn kém hơn, theo đó việc cấp phép thăm dò và khai thác sẽ theo cơ chế
“đấu giá”, đi kèm với những quy định nâng cao yêu cầu về năng lực tài chính của
chủ đầu tư, yêu cầu về công nghệ khai thác và trách nhiệm với việc bảo vệ môi
trường.
15
Ngoài ra, các loại nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp khai khoáng phải nộp
(thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu, phí bảo vệ môi trường đều có xu hướng tăng lên.
Từ 1/7/2010, thuế xuất khẩu tài nguyên của hầu hết khoáng sản đã tăng trung bình
gần 50%; từ tháng 1/ 2011 phí bảo vệ môi trường với khai thác vàng đã tăng gấp 4
lần, thuế xuất khẩu vàng tăng từ 0 lên 10%, từ tháng 4/2011 thuế xuất khẩu với
quặng sắt tăng từ 30 lên 40%
Điều đáng nói là hệ thống pháp luật của Việt Nam còn đang trong quá trình
hoàn thiện, nên không tránh khỏi hiện tượng chính sách thay đổi liên tục khiến
doanh nghiệp không thích ứng kịp. Các doanh nghiệp sản xuất Titan như SQC,
BMC đã từng phải đóng cửa nhà máy ngừng xuất khẩu khi thuế suất xuất khẩu xỉ
titan lên 18% vào giữa năm 2010, rồi sau đó khi mức thuế giảm xuống 15% và cuối
cùng là 10% vào đầu năm 2011, họ mới có thể tiêu thụ số hàng tồn kho và mở cửa
nhà máy trở lại.
Hay công ty Canada Olympus Pacific Minerals đã tính đến việc rút vốn 100
triệu USD đầu tư khỏi Việt Nam sau khi thuế xuất khẩu vàng tăng từ 0 lên 10%.
Những rủi ro chính sách như trên có thể ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ hoạt động

Đứng đầu trong chuỗi giá trị sản xuất, ngành khoáng sản cung cấp đầu vào cho
rất nhiều ngành công nghiệp sản xuất, chế tạo và xây dựng. Do đó, sự phát triển của
nền kinh tế thế giới nói chung và của nền kinh tế Việt Nam nói riêng sẽ tạo ra sức
cầu quan trọng, hấp thụ các sản phẩm của ngành. Dự báo của Economywatch đối
với tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới và của Việt Nam cho thấy nhu cầu nguyên
vật liệu cho sản xuất-xây dựng còn lớn, do vậy tiềm năng phát triển của ngành vẫn
còn nhiều. Bộ Công thương cũng đưa ra dự báo, trong giai đoạn từ 2011-2015,
ngành có thể đạt mức tăng trưởng bình quân khoảng 0.55%/năm.
Sự phát triển của thể chế kinh tế tài chính Châu Âu dù đã bước qua giai đoạn
khó khăn nhất xong vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro . Thị trường này chiếm 100% sản
lượng xuất khẩu của công ty do đó nó ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và mở
rộng của công ty.
4.2.2. Sự phát triển bùng nổ của Trung Quốc và nhu cầu bạn hàng
17
Sự tham gia của nền kinh tế Trung Quốc đóng một vai trò quan trọng đối với
triển vọng của ngành khoáng sản Việt Nam, trong những năm gần đây Trung Quốc
đã trỗi dậy như môt công trường của thế giới.
Trung Quốc không chỉ là nhà cung cấp mà còn là nước tiêu thụ khoáng sản
nhiều nhất thế giới. Để có đủ nguồn nguyên vật liệu cung cấp cho “đại công
trường” sản xuất khổng lồ của mình, hằng năm Trung Quốc thu mua một lượng
khoáng sản rất lớn từ nhiều quốc gia trên thế giới, thậm chí còn có chính sách tiếp
cận với các quốc gia châu Phi thông qua chương trình “Đổi hạ tầng lấy khoáng
sản”.
Đối với Việt Nam, Trung Quốc cũng là bạn hàng lớn nhất chiếm tới 65% tổng
giá trị quặng khoáng sản xuất khẩu của Việt Nam năm 2010. Được đánh giá là nền
kinh tế có tiềm năng phát triển lớn nhất hiện nay, nhu cầu nhập khẩu khoáng sản
của Trung Quốc gia tăng mạnh mẽ sẽ thúc đẩy sức cầu đối với sản phẩm của ngành
khoáng sản nước ta.
Đặc biệt, Việt Nam lại có vị trí địa lý ngay gần Trung Quốc nên việc vận
chuyển khoáng sản xuất khẩu bằng đường bộ cũng như đường thủy dễ dàng và

chế biến với giá cao nên hiệu quả kinh tế còn hạn chế. Trong năm 2010, giá trị nhập
khẩu kim loại gấp tới 56 lần giá trị xuất khẩu quặng. Do vậy, để nâng cao hiệu quả
và giá trị sản phẩm, ngành cần phát triển theo hướng tăng cường chế biến sâu, bên
cạnh việc thăm dò khai thác các mỏ mới.
4.3. Định hướng phát triển cuẩ chi nhánh công ty cổ phần tập đoàn
khoáng sản và thươgn mại VQB tại Hưng Yên.
Từ những nhận định ở trên công ty đã vạch ra hướng phát triển cho những
năm tới. Với chiến lược, định hướng là luôn bám sát tình hình kinh tế trong nước và
thế giới , luôn nắm bắt nhu cầu của thị trường , công ty cổ phần tập đoàn khoáng
sản và thương mại VQB định hướng sẽ phát triển theo chiều sâu , tức là sản phẩm
được qua chế biến , tinh luyện với hàm lượng quặng cao đem lại giá trị thặng dư lớn
. Bên cạnh đó trong năm 2012 áp lực tăng chi phí nguyên liệu đầu vào là một thách
thức lớn với công ty nói riêng và các doanh nghiệp trong ngành khai khoáng nói
19
chung khiến cho khả năng cạnh tranh bị giảm sút . Ngoài ra chính sách pháp luật
của Việt Nam còn đang trong quá trình hoàn thiện có thể tác động đến hoạt động
kinh doanh của công ty. Nhận thấy những thách thức như vậy công ty đề ra định
hướng phát triển đa ngành tận dụng những điều kiện hiện có để đa dạng hóa đầu tư
và tập trung phát triển chuyên sâu về tinh luyện kim loại quý , phát triển dây chuyền
tinh luyện theo hướng áp dụng nhiều khoa học kỹ thuật nhằm giảm chi phí. Song
song với việc phát triển dây truyền công nghệ ,đổi mới hình thức khai thác chế
biến , công ty cung chú trọng đến nhu cầu của thị trường.
Do nhiều yếu tố tác động như sự phát triển vượt bậc của Trung Quốc cũng như
nhu cầu khoáng sản của quốc gia này , và nhận định thị trường Châu Âu không còn
là một thị trường hấp dẫn , tiềm ẩn nhiều rủi ro nên Công ty cổ phần tập đoàn
khoáng sản VQB cũng định hướng chuyển thị trường qua đó trong những năm tới
công ty vẫn chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Châu Âu nhưng sẽ tiến hành song
song việc tìm kiếm khách hàng đối tác Trung Quốc.
20
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THIẾC

Bảng 3 : Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Châu Âu
từ năm 2002 đến 2010
Đơn vị : Triệu đô la Mỹ
Thị
trường
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
EU 3162.5 3852.6 4968.4 5517.0 7094.0 9096.4 10895.8 9402.3 11385.5
Nguồn : Tổng cục thống kê
Trong đó kim ngạch xuất khẩu sản phẩm thiếc là:
Bảng 4 : Kim ngạch xuất khẩu thiếc sang Châu Âu
Đơn vị : Triệu đô la Mỹ
Thị
trường
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
EU 1,7 2,0 1,8 2,1 2,5 2,3 2,5 2,7 2,8
Nguồn : Tổng cục thống kê
1.2. Đặc điểm thị trường Châu Âu
1.2.1. Đặc điểm về lãnh thổ , thị hiếu, kênh phân phối.
EU là một thị trường rộng lớn với khoảng 500 triệu dân của 27 nước thành
viên, mỗi nước thành iên lại có đặc điểm tiêu dùng riêng. Do đó , có thể thấy rằng
thị trường EU có nhu cầu rất đa dạng và phong phú về chủng loại hàng hóa, Có
những loại hàng hóa rất được ưa chượng ở thị trường Pháp , Italia hay Bỉ nhưng lại
không được người tiêu dùng Anh , Ailen , Đan Mạch hoặc Đức thích dùng. Tuy có
nhưng khác biệt nhất định về tập quán , thị hiếu tiêu dùng giữa các thị trường của
từng quốc gia trong khối EU , nhưng 15 nước thành viên cũ đều là những quốc gia
nằm trong khu vực Tây Bắc Âu nên có những điểm tương đồng về kinh tế và văn
hóa.
Ngày nay , những tập quán , tâm lý xã hội ,văn hóa đặc thù của dân tộc
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status