ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH sử
ĐÀM VĂN ĐẢNG
S ự ỨNG PHÓ CỦA TRUNG Q uốc TRƯỚC Ị
CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIEN t ệ
CHÂU Á (1997-1998)- NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐEN
ASEAN VÀ BÀI HỌC Đ ố i VỚI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬTHẾ g i ớ i
MÃ SỐ: 5 08 01
LUẬN VĂN THẠC SỶ KHOA HỌC LỊCH s ử
Người hướng dãn khoa học: TS. Phùng Thị Huệ
Đ A I H O C Q U Ố C G IA HẢ N Ó I
TRƯNG TÂM TH Ò N G TIN THU' VIỆN
ỵ - ư / Ỉ 0 6
Hà Nội, 2005
M ồ i eảnt ờềL
* * *
eó b á n ItKĨii o á n h o à n ch ình tr ĩu ta ụ h õ m IIIIIJ, b in ca n h nliừiiỊỊ
nõ lức (‘11(1 b ù n th a n , lá c ỊỊÌÙ h à i o ì i t (tã ti/lậ n ĩturíe ru t n h iên HÍ tịiú p iTõ'
/ỊIIỰ tjili củ a t/iẫ ụ cô (Mí lu m b ỉ. ĩJrỉn /r a m / ĩtầ tt tiên c ù a h à n /tiâ ii w in
H tttj, tru'o'e tiê n , e/in p lu 'p em (jửì lò’! cú m fit! iTỉíi
Ỡcĩ. C7/í/
'lùn ĩ
((Viên QKijJiiitt cửu &rmnj. Qfiồe) ~ Itytiở i (Tã true, /iêịt th eo d õ i, ItttótuỊ (lân
o à th in h í th i từn y. b ư ổ e ĩt ì tin t lu ậ n OŨII.
(5(11
cũ nạ. .tin h à ụ tó lờ! cú m (ft I
sâ n i tie tớ i tâ f i t h i (jìúo lùêii DChtxt J lieh sử , ĩT n iò iiụ <T)ai h o e 3C h oa h oa
35«
hô ! où QU tiìn II/ĨII (ỉ'tìni h o e Qỉtòe y ì a 1Ciù Q (ô i), các 1/niỊ/ eô ụ ìá o
1. Tiếng Việt
• Cộng hoà Nhân díìn
• Đảng Cộng sản
• Đồng Việt Nam
• Ngân hàng Trung ương
• Nhan clíín lộ
• Nhà xuất bản
• Xã hội chủ nghĩa
2. Tiếng Anh
• Ascan Free Trade Area
• Asia Pacific Economic Co-operation
• Association of Southeast Asian
Nations
• European Union
• Foreign Direct Investment
• Gloss Domestic Products
• Gross National Products
• International Monetary Fund
• Official Development Aid
• United State Dollar
• World Trade Organization
: CHND
: DCS
: VNĐ
: NHTW
: NDT (Đơn vị liổn lổ của Trung Quốc)
: NXB
: XHCN
: AFTA (Khu vực mâu dịch tự do
ASEAN)
trước thời điểm khủng hoảng
1.3.2. Trung Quốc với những tác động tiêu cực của cuộc khủng
hoảng
Chương 2: CHÍNH SÁCH Ú>JG PHÓ VỚI c u ộ c KHỦNG HOẢNG CỦA
TRUNG QUỐC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI NEN k in h t ế ASEAN
2.1. Trung Quốc ứng phó với cuộc khủng hoảng
2.1.1. Chính sách kinh tế đối nội
2.1.2. Chính sách kinh tế đối ngoại
2.1.3. Đánh giá về những đối sách ứng phó với khủng hoảng của
Trung Quốc
2.2. Tác động từ các biện pháp ứng phó với khủng hoảng của
Trung Quốc đến nền kinh tế các nước ASEAN
2.2.1. Khái quát mối quan hộ kinh tố, ihương mại Trung Quốc -
ASEAN trước khủng hoảng
2.2.2. Đông Nam Á với tác động trở lại êm dịu từ những chính sách
đối phó khủng hoảng của Trung Quốc
2.2.3. Thách thức đối với nền kinh tế các nước ASEAN trong mối
quan hệ với Trung Quốc sau khủng hoảng
Chương 3: NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM Đ ối VỚI VIỆT NAM
3.1. Những vấn để của nền kinh tế Việt Nam trước khủng
hoảng
3.2. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu Ả
tới Việt Nam
3.3. Những đối sách Việt Nam đã thực hiện để chống lại tác
động tiêu cực của cuộc khủng hoảng
3.4. Việt Nain vói những bài học rút ra sau cuộc khủng hoảng
3.4.1. Kinh nghiệm kiện toàn hệ thống ngân hàng, định hướng nguồn
vốn
3.4.2. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, điều tiết tỷ giá hối đoái
xuống mức hợp lý
việc Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng Baht, cả Trung Quốc và Việt Nam đcu ít
nhiều phải chịu những ảnh hưởng tiêu cực. Việt Nam có một số cải cách để
ngăn ngừa khả năng bị cuốn vào khủng hoảng. Trung Quốc cũng cấp bách đưa
ra các biện pháp đối phó. Thực tế đã cho ihấy, các chính sách ứng phó với
khủng hoảng của Trung Quốc rất hiệu quả và có tính tham khảo cao. Những
chính sách này có tác dụng không chỉ với nền kinh tế Trung Quốc giai đoạn
1997-1998 mà nó còn có ảnh hưởng không nhỏ đến Việt Nam nói riêng và nền
kinh tế thế giới nói chung, đặc biệt là tới các nước Đông Nam Á đang bị khủng
hoảng nặng thời điểm đó. Sự tác động này, trong một khía cạnh nào đó, đã nói
lên rằng: mỗi động thái từ một Trung Quốc đang lớn mạnh ngày nay sẽ có ảnh
hưởng ngày càng lớn đối với kinh tế khu vực và thế giới.
/ị
Với vị trí địa lý gần kề và mối licn hệ ngày càng chặt chẽ, mỗi chính sách
của Trung Quốc đang tác động ngày càng nhanh, mạnh đến ASEAN cũng như
Việt Nam. Phân tích sự tác động đến ASEAN của các chính sách ứng phó
khủng hoảng của Trung Quốc (giai đoạn 1997-1998) sẽ làm rõ được vai trò của
Trung Quốc đối với sự ổn định và phát triển của khu vực Đông Nam Á nói
chung và Việt Nam nói riêng, tại thời điểm khủng hoảng cũng như trong tương
lai. Và qua các chính sách cải cách chống lại khủng hoảng, một nền kinh tế đã
được cơ cấu lại của Trung Quốc sẽ hiện lên rõ net với những thiết chế, chính
sách mà Trung Quốc đã chuẩn bị cho tình huống khó khăn nhưng cũng là cơ sở
để họ phát huy thế mạnh sau đó.
Hiện đang có quan điểm cho rằng sự phát triển của Trung Quốc là mối đe
doạ. Cũng có quan điểm cho rằng đây là cơ hội. Song dù thế nào cũng không
thể né tránh được thực tế: Trung Quốc hiện là đối tác lớn nhưng cũng là đối thủ
cạnh tranh rất mạnh của ASEAN. Đối với Việt Nam, trong xu hướng toàn cầu
hoá, khu vực hoá kinh tế hiện nay, tìm ra mối licn hộ giữa các chủ thổ kinh tố
liên quan, từ đó nghiên cứu, học hỏi đối thủ cạnh tranh gần gũi, có sức mạnh sẽ
giúp chúng ta rút ra những bài học quý giá. Nhất là khi mối quan hệ kinh tế
giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng khăng khít thì việc hiểu rõ cơ cấu
như tìm nguyên nhân, những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng đến
nhiều nước và nhiéu vùng hôn thế giới. Trong các công trình ấy, cư bủn phải
nói đến: Đông Nam Á chặng đường dài phía trước của tác giả Lim Chong Yah;
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đớ/;ẹ Nam Á, diễn biến, tác động và giải
pháp - chuyôn đồ nghiôn cứu của Viện Kinh tế thế giới; Khủng hoảng tài
chính tiền tệ Châu Á - nguyên nhân và bải học của Trung tâm tư vấn và Đầu tư
kinh tế (Bộ Thương mại); Khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á và những
vấn đề đặt ra hiện nay - chuyên đề nghicn cứu của Viện Thông tin Khoa học
xã hội, hay bài tham luận của Anne o . Krueger, Phó giám đốc điều hành quỹ
tiền tệ quốc tế IMF tại hội thảo khoa học của Học viện Doanh nghiệp (Mỹ):
China and the Global Economic Recovery
Ngoài những công trình nghiên cứu mang tính tổng thể về cuộc khủng
hoảng, có nhiều nhà khoa học đã di sau vào lĩnh vực liền tộ, tài chính ngan
hàng nhằm làm rõ vai trò của hệ thống này trong cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ Châu Á. Điển hình là chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu của Viện
nghiên cứu Tài chính: Chính sách tiền tệ của Trung Quốc nhâm đối phó với
tình hình tài chính hiện nay; hay Điều hành chính sách tỷ giá hối đoái của
3
Trung Quốc trong quá trình chuyển đổi nền kinh t ế — một sô kinh nghiệm cho
Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Thư
Bên cạnh đó, có những công trình nghiên cứu khắc hoạ một cách toàn
diện, có tính khái quát cao về quá trình cải cách mở cửa, các chính sách phát
triển kinh tế của Trung Quốc. Những tài liệu này đã giúp tác giả bài luận văn
hiểu biết một cách tổng quát hơn về đặc điểm và cơ cấu nền kinh tế Trung
Quốc, làm cơ sở cho những kiến giải vổ chính sách ứng phó với khủng hoảng
của nước này giai đoạn 1997-1998. Trong đó, cơ bản phải kể đến những cuốn
sách: Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 55 năm xây dựng và phát triển của Viện
Nghicn cứu Trung Quốc; Trung Quốc cải cách và mở cửa của tác giả Nguyễn
Thế Tăng; Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa- chặng đường lịch sử nửa thế
kỷ của tác giả Nguyễn Huy Quý; T hể chế kinh tế thị trường XhlCN đặc sắc
2.3. Plurưng pháp Iigliiỏn cứu
Là một luận văn sử học nên phương pháp nghiên cứu lịch sử mặc nhiên
được sử dụng như dòng mạch chính trong luận văn nhằm nêu bật tiến trình xây
dựng chính sách ứng phó với khủng hoảng lài chính tiền tộ Châu Á của Trung
Quốc. Trong quá trình thể hiện những ý tưởng và nội dung của đề tài, bài luận
văn còn sử dụng phương pháp so sánh để làm rõ những khó khăn cũng như ưu
thế của nền kinh tế Trung Quốc khi khủng hoảng ập tới, những điểm tương
đổng của nền kinh tế Việt Nam - Trung Quốc
Bên cạnh đó, luận văn cũng chú trọng đến phương pháp thống kê nhầm
nêu bật hiệu quả, những tác động đến ASEAN từ chính sách ứng phó khủng
hoảng của Trung Quốc cũng như mấy vấn đề tồn tại trong nền kinh lế Việt
Nam.
3. PHẠM VI ĐỂ CẬP, Dự KIÊN ĐÓNG GÓP VÀ B ố cục CỦA
LUẬN VÃN
3.1. Phạm vi đề cập của đề tài
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á có nguyên nhân và tác động
sâu sắc đòi hỏi Trung Quốc cũng như các nước Châu Á phải đưa ra những biện
pháp ứng phó phức tạp. Những tác động của các chính sách đó cũng rất nhiều
chiều và đa diện.
5
Trong khuôn khổ một luận văn thạc sỹ, tác giả không kỳ vọng khắc hoạ
đầy đủ mô hình phát triển kinh tế, hàng loạt chính sách chiến lược và tất cả
hoạt động đối nội, đối ngoại nhằm ứng phó với khủng hoảng của Trung Quốc.
Bài luận văn cũng không thể hệ thống mọi tác động từ các đối sách đó đến nền
kinh tế ASEAN; nêu tất cả những bài học, những điều có thể rút ra cho Việt
Nam từ các biện pháp ứng phó với khủng hoảng của Trưng Quốc. Mà với
khuôn khổ cho phép, tác giả sẽ hệ thống lại những chính sách lớn mà Trung
Quốc áp dụng nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ. Từ những
phân tích khách quan sẽ đưa ra những đánh giá chung và cách tiếp cận riêng
biọt vồ những tác dộng đến nõn kinh tố ASEAN lừ các đối sách ứng phó khủng
hại (nếu có một cuộc khủng hoảng khu vực nữa xuất hiện) là phần đóng góp
Ihứ hai của bài luíln văn.
3.3. Bô cục luận vãn
Trong quá trình thực hiện mục tiêu mô tả, đánh giá những đối sách của
Trung Quốc trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á, nêu và phân tích
sự tác động đến các nước ASEAN cũng như rút ra bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam, ngoài lời nói đầu, kcì luận và phụ lục; phần nội dung chính của bài
luận văn được kết cấu như sau:
Chương 1: Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á và những tác động
đến nền kinh tế ASEAN, Trung Quốc
Chương 2: Chính sách ứng phó với khủng hoảng của Trung Quốc và ảnh
hưởng của nó tới nền kinh tế ASEAN
Chương 3: Những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
CHƯƠNG 1: CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
TIỂN TỆ CHÂU Á VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN NỂN
KINH TÊ ASEAN, TRUNG QUỐC
1.1. CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN t ệ
CHÂU Á (1997-1998): NGUYÊN NHÂN VÀ DIẼN b iê n
1.1.1. NGUYÊN NHÂN CỦA cu ộ c KHỦNG HOẢNG
Từ những góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã
đưa ra nhiều lý giải về nguyên nhân xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
Châu Á (1997-1998) mà khu vực Đông Nam Á là ngòi nổ và tâm điểm. Tuy
nhiên, về cơ bản, nguyên nhân cuộc khủng hoảng có thể tựu chung ở những
điểm chính sau:
Trước hết, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á xảy ra năm 1997-
1998 là sự dồn nén và bộc phát của những mâu thuẫn trước đó trong nền kinh
tế các nước ASEAN sau một thời gian tăng trưởng nóng. Đó là sự phát triển
mất cân đối, đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở phụ thuộc nặng nề vào nguồn vốn
vay nước ngoài. Trong khi ấy, những thiết chế quản lý cần thiết cho nền kinh tế
chưa được kiện toàn hoặc hoạt động kém hiệu quả. Đặc biệt, hoạt động của hệ
Xét về chính sách quản lý tỷ giá, việc nco giá quá cao so với thực tế giữa
các đồng tiền khu vực với đồng USD chính là một trong những nguyên nhân
sau xa dãn đến khủng hoảng tiền tộ. Điều này có thể thấy rất rõ ở các nền kinh
tế bị khủng hoảng, đặc biệt là trường hợp Thái Lan. Sau ba lần hạ tỷ giá hối
đoái nhằm kích thích xuất khđu (lán đẩu vào tháng 5/1981; lẩn hai vào tháng
7/1981 và lần ba vào 11/1984), kể từ ngày 02/11/1984, đồng Baht của Thái Lan
chính thức được xác định giá trị dựa vào đồng tiền một số bạn hàng chủ chốt,
trong đó đồng USD của Mỹ đóng vai trò định hướng mạnh nhất, v ề thực chất,
đồng Baht đã được cố định một cách cứng nhắc so với USD từ đó. Khi nền kinh
tế còn thịnh vượng, không mấy ai để ý đến nguy cơ này. Vì đồng tiền có giá
9
cao rat tnunn tm cno cae nna irung gian tài chính trong nước. Họ có thể vay từ
thị trường quốc tế nguồn vốn lớn, lãi suất không cao lắm mà ít gặp rủi ro. Các
cơ quan cần nhập khẩu cũng thấy dỗ chịu vì đồng nội tệ giá cao giúp nhập được
hàng hoá rẻ. Người dân cũng dễ dàng hơn khi mua đồ xa xỉ của nước ngoài mà
không cảm thấy quá đắt. Nhưng khi nền kinh tế gặp khó khăn thì tinh hình
thay đổi.
Tỷ giá hối đoái bị dồn nén một cách khicn cưỡng, đồng tiền đứng ở mức
giá quá cao so với giá trị thực, đến khi lợi thế cạnh Iranh của khu vực giảm do
chi phí tiền lương cao, nền kinh tế tăng trưởng chậm lại; sản xuất, xuất khẩu
khó khăn cộng với thâm hụt thương mại, thâm hụt tài khoản vãng lai lớn đã
làm cán cân thanh toán mất cân đối dẫn đến mất giá rồi phá giá đồng tiền rất
nhanh. Cùng chung đặc điểm Irên nên khi đồng Baht bị mất giá, hàng loạt đồng
tiền trong khu vực như: Ringgit, Rupiah, Peso cũng không thể cưỡng lại trước
cơn lốc khủng hoảng tiền tệ.
Một nguyên nhan quan trọng nữa khiến các nước Đông Nam Á bị thiệt
hại nặng nề là do các quốc gia này chưa thiết lập được thiết chế của một nền
kinh tế thị trường hoàn hảo. Sự sút giảm thị trường xuất khẩu cộng với những
chính sách kinh tế áp dụng theo lối mòn cũ rất khó dịch chuyển (điển hình là
chế độ tỷ giá cố định) đã dần chuyển kinh tế các nước ASEAN sang cơ cấu bất
đòn mạnh mẽ và đồng loạt ngay khi thời cơ đến. Đơn cử một ví dụ về mức độ
tai hại của hoạt động đầu cơ tại Thái Lan: Khi có dấu hiệu của khủng hoảng,
việc mua vét đồng USD đã gây áp lực giảm giá đồng Baht; đúng như các tổ
chức tín dụng dự đoán, NHTW Thái Lan theo lệ đã tung dự trữ USD ra can
thiệp vào thị trường ngoại hối ở Singapore nhằm can bằng mức cung - cầu giữa
đồng Baht và Dollar Mỹ. Mục tiêu là để giảm sức cp lên thị trường trong nước.
Kết quả ban đầu khả quan, chênh lệch tỷ giá Baht/USD giữa thị trường chứng
khoán Singapore và BangKok là 3 điểm. Tuy nhiên, trước khi thị trường tiền tệ
của Thái Lan kịp nhận được những tín hiệu tích cực thì giới đầu cơ lợi dụng
chênh lệch tỷ giá đã liên tục quay vòng đồng Baht, đồng USD từ Singapore
sang Thái Lan rồi ngược lại để kiếm lời. Sự tìm kiếm giá chênh lệch trên đã
làm tiêu tan hàng tỷ USD của NHTW Thái Lan. Đồng Baht không những
không mạnh lên mà còn bị chấn động mạnh mẽ hơn. Các nhà đầu tư nước
ngoài trước tình hình nhạy cảm và khả năng lợi nhuận của mình sẽ giảm theo
sự mất giá của đồng Baht đã bán hầu hết cổ phiếu Thái Lan đang sở hữu để
mua USD chuyển ra nước ngoài nhằm bảo toàn vốn. Nhu cđu đổng USD ở Thái
Lan vì thế đột ngột tăng mạnh.
Trong khi đó, các nhà đầu cơ tiếp tục vay tiền Baht (các ngân hàng nước
ngoài đều được vay bằng đồng baht) mua USD nên càng tăng thêm áp lực lên
tỷ giá. Đến khi NHTW Thái Lan cạn nguồn dự trữ ngoại tệ buộc phải phá giá
đồng Baht thì hoạt động đáu cơ đã hoàn thành nốt được quá trình săn lùng
nguồn lợi nhuận ãn theo chcnh lộch tỷ giá hối đoái. Chính phủ Thái của Thủ
tướng Chalavit sụp đổ, đất nước này chính thức bước vào khủng hoảng với thiệt
hại lên tới hàng chục tỷ dollar Mỹ.
Trôn đíly là những nguycn nhíln cơ bản dẫn đến cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ tại các nước Đông Nam Á. Nhìn chung, đây là mội quá trình nhan
quả luỹ tích tuần hoàn (trong phạm vi khu vực). Từ khủng hoảng tỷ giá hối
đoái, khủng hoảng thị trường chứng khoán, khủng hoảng thị trường bất động
sản, khủng hoảng nợ, khủng hoảng hệ thống ngân hàng dẫn tới một cuộc
khủng hoảng kinh tế toàn diện. Và sở dĩ cuộc khủng hoảng có tính chất lan
có tính ổn định cao vì nền kinh tế nước này phát triển lành mạnh hơn nhưng
cũng không tránh khỏi vòng ảnh hưởng.
Xuất kháu khó khăn, số nợ ngoại lộ đến hạn quá cao, thị Irường bất động
sản mất giá khiến hàng loạt công ty thua lỗ, nhiều ngân hàng phá sản, vốn đầu
lư nước ngoài rút ra ổ ạt đã khiến lất cả các đổng tiền bị tuycn bố thả nổi đều
dần mất giá mạnh sau đó. Chỉ có một vài nền kinh tế trong ASEAN có vẻ
không bị cơn lốc khủng hoảng càn quét (biểu hiện bằng phá giá đồng tiền và
những tổn hại nặng nề cho nền kinh tế). Lý do là các nước này chưa hội nhập
sâu vào đời sống kinh tế thế giới và có một vài đặc điểm khác biệt trong nền
kinh tế quốc nội.
Cơn lốc biến động tiền tệ ở khu vực Đông Nam Á - nơi được đánh giá có
nền kinh tế năng động, phát triển nhanh bậc nhất thế giới trong những năm
giữa thập kỷ 1980, đầu thập kỷ 1990 đã tác động sâu sác không chỉ đối với thị
trường tài chính, tiền tệ mà còn đẩy cả nền kinh tế, xã hội các quốc gia này vào
vòng xáo trộn nặng nề. Sau đó, các nước ASEAN đã nhanh chóng lôi kéo thêm
nhiều nước Châu Á khác "vào trận" như Nhật Bản, Hàn Qươc Nền kinh tế
toàn thế giới cũng không tránh khỏi ảnh hưởng.
Ngày 23-10-1997, Ihị trường chứng khoán HongKong sụt giá hơn 10%,
mở đầu cho đợt biến động theo hướng giảm giá của thị trường chúng khoán
toàn cẩu. Đến 27-10, líìn đáu tiên kể từ 1987, thị trường chứng khoán Mỹ phải
đóng cửa nửa giờ sau khi giá cổ phiếu giảm tới 350 điểm. Hôm sau, thị trường
13
chứng khoán Toronto '[Canada) cũng phải ngừng giao dịch trong 30 phút vì chỉ
số chứng khoán sụt tới 5%.
1.1.2.2. Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ tại một sô nền kinh tế
IỚI1 của CliAu Ả: NliẠt Bản, Ilàn Quốc, IIoiigKong và Đài Loan
Đến thời điểm cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á diễn ra, đất
nước mặt trời mọc vẫn còn lưu giữ được những dư âm huy hoàng của giai đoạn
thíìn kỳ kinh tố. NliẠl Bản vAn lìl quốc gia có nồn kinh lố lớn thứ 2 lliố giới, chí
sau Mỹ và đứng đầu Châu Á. Nhưng vì có nhiều khoản đầu tư, cho vay ở Đông
xuống còn 1926 won/lUSD vào ngày 23-12-1997 (mất giá gần 2 lẩn). Phải
thay đổi chính phủ, Hàn Quốc đã trải qua những biến động xã hội lớn.
Trong khi đó, HongKong và Đài Loan là hai nền kinh tế đóng vai trò đầu
mối quan trọng trong các hoạt động đfìu tư vào Đông Nam Á với lượng vốn
lớn. Củ hai vùng lãnh thổ này đổu có cơ cấu nền sản xuất, dịch vụ hướng về
xuất khẩu nên cũng gặp nhiều khó khăn do sức tiêu thụ của thị trường ASEAN
và Nhật Bản chững lại. Thêm vào đó, do tính chất lan truyền của cuộc khủng
hoảng quá mạnh, với nén kinh tế tự do, mở cửa ở mức độ cao ncn cả Đài Loan
và HongKong đều phải chịu những biến động tiêu cực. Ngay khi đồng Yên
Nhật giảm giá, đầu tháng 11-1997, đồng dollar của Hồng Kông và dollar của
Đài Loan cũng bị trượt giá sau một thời gian được Chính phủ cố gắng cầm giữ,
tuy mức độ nhẹ hơn. Đến ngày 13-6-1998, thị trường chứng khoán HongKong
lần thứ 2 xuất hiện những biến động tiêu cực với các chỉ số phản ánh mức độ
chênh lệch khá cao giữa tình hình nền kinh tế trước và giữa khủng hoảng.
HongKong và Đài Loan đều có số nợ khó đòi cao ở các nước ASEAN. Cùng
với tổng lượng xuất khẩu giảm, tốc độ tăng trưởng của hai vùng lãnh Ihổ này
đã bị chậm lại lại rõ rệt, gây nhiều lo lắng cho các nhà đầu tư thế giới.
Mặc dù không bị kéo vào vòng xoáy và chịu ảnh hưởng nặng nề của
cuộc khủng hoảng nhưng có thể khẳng định rằng trong hai nãm 1997-1998,
nền kinh tế của Đài Loan và HongKong đã gặp phải những khó khăn và chịu
thiệt hại lớn chưa từng có kể từ sau năm 1973.
1.2. TÁC ĐỘNG CỦA c u ộ c KHỦNG HOẢNG ĐEN
NỀN KINH TẾ CÁC NƯỚC ASEAN
Tác động của cuộc khủng khoảng tài chính tiền tệ Châu Á tới các nước
ASEAN là tương đối toàn diện và nặng nề. Những tác động tiêu cực đó vừa có
điểm tương đồng, vừa rất đa dạng ở từng nước.
15
1.2.1. NHỮNG BIẾN ĐỘNG KHỐC LIỆT TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI
CHÍNH TIỀN TỆ
Nếu như những diễn biến của cuộc khủng hoảng lài chính liền tệ diễn ra
887,03
[ .693,65 1-1998 -47%
Ringgit Malaysia 2,5157 4,1941 1-1998 -42%
Peso Philippine
26,355
43,657 9-1998 -40%
Yen Nhật
114,32
144,59 8-1998 -21%
Đô-la Đài Loan (mới) 27,882 34,699 8-1998 -20%
Đô-la Singapore 1,4264 1,7566
8-1998 -19%
Nguồn: [72; 386]
Đồng tiền mất giá nghicm trọng tại các nước Đông Nam Á ngay lập tức
ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán các nước này. Các nhà đầu tư do tâm lý
16
lo ngại tình hình sẽ xấu thêm đã ào ạt rút vốn về, bán tháo cổ phiếu. Rất nhiều
nhà đầu tư bị phá sản do cố giữ cổ phiếu. Tháng 9-1998 là thời điểm tồi tệ nhất
của thị trường chứng khoán ở các nước Đông Nam Á. Tại các trung tâm giao
dịch lớn như BangKok, Jakarta, Manila, Kuala Lumpur, tỷ lệ mất giá chứng
khoán lôn đến mức kỷ lục: lại thị trường Jakarta là -65%, Bangkok là -76% và
nghiêm trọng nhất là sự sụp đổ ở Kuala Lumpur. Các cổ phiếu so với thời điổm
giá cao nhất trước khủng hoảng ở thị trường này chỉ còn 21% giá trị (mất giá
tới 79%) [72; 388],
Cùng với sự sụp đổ của các thị trường chứng khoán, thị trường bất động
sản của các nước Đông Nam Á cũng lâm vào tình trạng đổ vỡ hàng loạt do nhu
cáu mua nhà của người dAn giảm và nhu cầu ihuc văn phòng tiến về con sổ
không (nhiều doanh nghiệp trong nước đã cắt giảm chi phí bằng việc đóng cửa
các văn phòng tại các cao ốc đắt tiền). Tình hình kinh tế khó khăn tạo ra một
môi trường sản xuất kinh doanh khắc nghiệt. Tại Thái Lan, chỉ trong tháng 9-
“hoảng loạn ngân hàng” thực sự. Lòng tin đối với các thể chế kinh tế sụp đổ,
tam lý bất an, lo sợ càng nặng nề hơn.
1.2.2. GÁNH NẶNG NỢ, KHỦNG HOẢNG VỐN
Việc đồng nội tệ mất giá, lãi suất buộc phải tăng cao, kinh tế khủng
hoảng khiến các nước chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
Châu Á chìm vào núi nợ khổng lồ. Do việc thanh toán nợ đã được cố định theo
hợp đồng, đến hạn, các công ty Đông Nam Á buộc phải mua USD để trả trong
khi đồng USD bỗng đắt hơn, khiến các khoản nợ danh nghĩa cũng tăng lên 20-
50% (theo mức độ mất giá của đồng nội tệ). Vì vậy, nợ nước ngoài ở Đông
Nam Á tãng vọt. Riêng các khoản nợ do tư nhân vay nước ngoài ở Indonesia
tính đến năm 1997 đã là 67,7 tỷ USD. Cùng thời điểm, các doanh nghiệp Thái
Lan cũng đang nợ nước ngoài số tiền lên tới 90 tỷ USD. Sự sụt giảm bất ngờ về
mức giá cũng làm giảm giá trị tài sản của các doanh nghiệp. Vì thế, ngay cả
các công ty không bị ảnh hưởng lớn đến sản xuất nhưng do đồng tiền cứ mất
giá từng ngày, không ít doanh nghiệp sau một thời gian chống chọi, cuối cùng
cũng buộc phải tuyên bố phá sản. Tại Hàn Quốc - một nền kinh tế lớn ở Châu
Á với nhiều doanh nghiệp mạnh, tính cạnh tranh cao nhưng trong khủng hoảng,
mỗi ngày trung bình cũng có tới hơn 100 công ly vừa và nhỏ giải thổ. Số nợ
trong nước bị đội lên tới một triệu tỷ Won (khoảng 727,8 tỷ USD) [64; 4],
18
^Jhi&TngftiTMng phá sản, cưn lốc phá giá đổng liổn lác dộng mạnh đến
tâm lý khiến làn sóng rút tiền bản tệ mua USD của người dân ngày càng lên
cao nên việc huy động vốn trở nên cực kỳ khó khăn. Hệ quả tất yếu là các ngân
hàng phải tìm cách tự bảo vệ mình bằng cách thắt chặt hầu bao, ngừng hoặc
đưa ra các điều kiện cho vay nghiêm ngặt. Mà các công ty đang chịu tác động
của khủng hoảng lại rốt khó đáp ứng nliững điổu kiộn đó. Như vậy, trong lúc
nền kinh tế đang cần một lượng tiền lớn để tái đđu tư khắc phục khó khăn và
phát triển sản xuất thì lại gặp phải trở ngại thiếu vốn. Điều này đẩy nhiều công
ty đáng lẽ có thể cứu vãn được nhưng cuối cùng không còn cách nào khác là sa
thải công nhân, tạm dừng hoạt động hoặc phá sản. Đời sống người dân vì thế