Bài tiểu luận GVHD : Trần Việt Trang
MỤC LỤC
trang
Lời mở đầu ………………………………………………………………… 2
Chương I: Lí luận ……………………………………………………………4
I . Khái niệm khủng hoảng và dấu hiệu………………………………… 4
II.Đặc điểm của cuộc khủng hoảng ………………………………………. 4
III.Diễn biến và nguyên nhân của khủng hoảng……………………………4
IV.Các biện pháp khắc phục khủng hoảng của các nước ………………….7
Chương II: Thực trạng……………………………………………………….10
I . Tác động của khủng hoảng đối với nền kinh tế Việt Nam…………… 10
1.Đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế………………………………………10
2.Đối với hoạt động xuất khẩu…………………………………………….11
3.Đối với hệ thống ngân hàng…………………………………………… 12
4.Đối với đầu tư nước ngoài …………………………………………… 12
5.Hoạt động trên thị trường chứng khoán ……………………………… 13
6.Đối với thị trường bất động sản………………………………………….13
7.Đối với thị trường hàng hóa- dịch vụ ……………………………………14
II.Sự phục hồi của nền kinh tế Việt Nam sau khủng hoảng……………… 14
III.Nhìn lại tổng quan sau khủng hoảng tài chính ở Việt Nam…………… 15
Chương III.Một số giải pháp với nền kinh tế nước ta……………………… 16
I.Giải pháp đối với nền kinh tế Việt Nam………………………………… 16
1.Đối với hoạt động ngân hàng…………………………………………….16
2.Đối với chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa……………………… 17
3.Đối với hoạt động chứng khoán và đầu tư nước ngoài………………… 18
4.Khuyến khích đầu tư xuất khẩu………………………………………….18
5.Đảm bảo an sinh xã hội ………………………………………………….19
II.Cơ hội và thách thức của Việt Nam trong cuộc khủng hoảng……………20
1.Thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam do tác động khủng hoảng…….20
2.Cơ hội cho nền kinh tế ………………………………………………… 21
III. Kiến nghị một số biện pháp của bản thân…….…………………………21
+ Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Việt Nam đạt mức 8-9.5%
trong suốt hơn mười năm cho đến năm 1997 . Mặc dù vậy , do ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á , tốc độ tăng trưởng của Việt Nam
giảm xuống còn 5.8% năm 1998 , 4.7% năm 1999 nhưng sau đó phục hồi và
đạt mức 6.7% năm 2000 , 7% năm 2002 ,7.7% năm 2004 , 8% năm 2006 và
8.5% năm 2007 .
+ Tăng trưởng công nghiệp đạt trung bình từ 12% đến 14% trong suốt
hơn một thập kỉ vừa qua .
Có thể nói ,với một nền kinh tế non trẻ sau chiến tranh ,những con số trên
là những tín hiệu đáng mừng . Trong môi trường tự do đầu tư hiện nay ,
những nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới đang thể hiện rõ sự quan tâm
2
Bài tiểu luận GVHD : Trần Việt Trang
chưa từng có đối với Việt Nam thông qua một loạt các dự án đầu tư trên
nhiều lĩnh vực . Tuy nhiên ,cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ năm 2008
cũng gây ra những ảnh hưởng lớn đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh
tế của Việt Nam . Trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới , Việt
Nam đang xây dựng cho mình nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường
có sự điều tiết của nhà nước , đã và đang hội nhập sâu hơn với nền kinh tế
toàn cầu . Do đó , cuộc khủng hoảng kinh tế đã tác động đến Việt Nam một
cách nhất định. Bên cạnh đó , những khó khăn nội tại của nền kinh tế Việt
Nam về tỷ giá , lạm phát , thâm hụt cán cân thương mại … cũng là bài toán
khó đối với các nhà hoạch định chính sách trong việc đảm bảo mục tiêu tăng
trưởng , ổn định kinh tế vĩ mô,thúc đẩy nền kinh tế phát triển . Vì vậy , việc
nghiên cứu về cuộc khủng hoảng kinh tế để tìm ra nguyên nhân , biện pháp
để bình ổn nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng
có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hoạch định đường lối để ổn định và
phát triển kinh tế .Xuất phát từ những ảnh hưởng lớn của cuộc khủng hoảng
kinh tế năm 2008 đến nền kinh tế các nước và với Việt Nam nói riêng , vậy
cuộc khủng hoảng này đã tác động đến kinh tế Việt Nam ra sao ? hậu quả và
thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng
+ Chính phủ từ bỏ chế độ tỉ giá hối đoái cố định
II . Đặc điểm của cuộc khủng hoảng tài chính
- Thứ nhất : cuộc khủng hoảng này xuất phát từ các nước phát triển
- Thứ hai : Cuộc khủng hoảng này nổ ra khi kinh tế thị trường tư bản
chủ nghĩa đã chuyển từ giai đoạn kinh tế công nghiệp lên giai đoạn kinh tế
tri thức được gần 3 thập kỉ
- Thứ ba : Cuộc khủng hoảng tài chính này diễn ra trong bối cảnh
toàn cầu hóa và khu vực hóa mạnh mẽ
- Thứ tư : Cuộc khủng hoảng này không phải là cuộc khủng hoảng
theo chu kì kinh doanh thông thường mà nó biểu hiện sự yếu kém về cấu
trúc bên trong của mô hình kinh tế thị trường tự do và những khiếm khuyết
trong hệ thống luật pháp quản lí hệ thống tài chính quốc tế
III. Diễn biến và nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính
- Như chúng ta đã biết , Mỹ là một nước mạnh trên nhiều lĩnh vực . Đặc
biệt nền kinh tế Mỹ chi phối nền kinh tế của tất cả các quốc gia trên thế
giới . Sự kiện nước Mỹ bị khủng bố vào ngày 11/9/2001 và việc Mỹ tập
trung tấn công Afghanistan , Iraq cũng gây ra những tác động đối với nền
kinh tế Mỹ và từ đó ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu . Khi đó để giúp nền
kinh tế thoát khỏi sự trì trệ kéo dài , Thống đốc Hệ thống Dự trữ Liên bang
Mỹ Fed liên tục điều chỉnh hạ thấp lãi suất từ 6% xuống còn 1% vào ngày
25/6/2003 . Từ đó dẫn đến các ngân hàng thương mại cũng hạ lãi suất cho
4
Bài tiểu luận GVHD : Trần Việt Trang
vay từ 9% - 10%/ năm xuống còn 4% - 5% / năm . Khi đó , chính sách tiền
tệ của ngân hàng trung ương được nới lỏng , do đó dư nợ tín dụng của các
ngân hàng thương mại cũng được mở rộng theo . Nhiều khoản vay mua nhà
dưới chuẩn được thực hiện dưới sự tiếp sức của các môi giới tín dụng và môi
giới bất động sản .
+ Theo ước tính của các chuyên gia thì dư nợ cho vay dưới chuẩn tăng từ
bán cho các ngân hàng khác . Công ty bảo hiểm AIG của Mỹ , các ngân
hàng Northern Rocks , Bradford&bingley của Anh , ngân hàng Fortis ,
Dexia của Bỉ ….bị quốc hữu hóa hoặc nhận các khoản hỗ trợ tài chính từ
chính phủ các nước
5
Bài tiểu luận GVHD : Trần Việt Trang
=> Có thể nói , cuộc khủng hoảng đã gây lên những tổn thất to lớn cho
tài chính của nhiều quốc gia . Cũng chính từ những diễn biến phức tạp của
cuộc khủng tài chính này , giới chuyên gia đã chỉ ra nhiều nguyên nhân dẫn
đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007-2008 :
+ Do FED thực hiện chính sách tiền tệ “ nới lỏng “ trong nhiều năm
trước đây , lãi suất cho vay thấp đã thúc đẩy mở rộng cho vay bất động sản
đối với cả khách hàng không đủ điều kiện vay vốn .
+ Do thị trường tài chính tín dụng ở Mỹ và Châu Âu phát triển theo
hướng tự do hóa nhưng thiếu lành mạnh ,cho phép các hoạt động đầu tư
mang tính đầu cơ , gây lên những bất lợi cho thị trường tài chính
+ Do lòng tin của các nhà đầu tư bị suy giảm đối với khả năng thanh
toán của các ngân hàng . Cùng với đó là sự suy giảm mạnh của kinh tế Mỹ ,
Châu Âu và thế giới đã kéo theo tình trạng bán tháo chứng khoán , hạn chế
cho vay trên thị trường .
- Trong quá trình tìm hiểu nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính
trước hết phải kể đến sự phát triển trên cơ sở nhu cầu ảo của thị trường hàng
hóa , thị trường tài chính , thị trường địa ốc , trên cơ sở nhu cầu được quyết
định bởi các nhà đầu cơ .
+ Về thị trường hàng hóa – dịch vụ ngày nay đều được phát triển chủ
yếu thông qua các hợp đồng tương lai , các hợp đồng quyền chọn , các hợp
đồng kì hạn . Thông qua việc kí kết các hợp đồng này , các nhà đầu cơ đã vẽ
nên một thị trường tiêu thụ hàng hóa dịch vụ khổng lồ , và theo đó các nhà
sản xuất – kinh doanh đã dầu tư cho nó để đáp ứng yêu cầu của các hợp
đồng này . Để có nguồn lực tài chính đầu tư cho sự bành trướng của chính
- Thị trường địa ốc cũng có những hiện tượng tương tự như vậy . Các
nhà đầu cơ lớn thi nhau làm giá để kích thích thị trường và kiếm lời đã kích
thích các nhà đầu tư xây dựng lao vào lập các dự án lớn và thu hút vốn từ
những nhà đầu tư nhỏ - những người muốn đầu cơ vào địa ốc để tìm kiếm cơ
hội đổi đời . Từ đó , các hiện tượng cầm cố bất động sản để vay mượn phát
triển nhanh chóng . Cho đến khi bong bóng địa ốc tan vỡ thì thảm trạm mất
khả năng chi trả xảy ra , các ngân hàng cho vay mua bán bất động sản lâm
vào tình trạng rủi ro không thể chống đỡ được .
- Như vậy , khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế hiện nay bản
chất là do sự đổ vỡ mất cân bằng ở tất cả các thị trường hiện hữu , từ thị
trường tài chính đến thị trường sản xuất kinh doanh , đến thị trường lao động
. Như Các – Mác đã khẳng định : “nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là một nền
kinh tế vô chính phủ , sự cân bằng trong sản xuất và tiêu dùng , sự cân bằng
giữa cung và cầu chỉ là nhất thời” . Do đó , khủng hoảng tài chính cũng bắt
nguồn từ các nước lớn – những nước vay nợ nước ngoài lớn để nhập khẩu
hàng hóa – dịch vụ và khi các nước lớn không còn muốn nhập khẩu nữa thì
đến lượt các nước xuất khẩu chịu ảnh hưởng .Khi đó , các nước sẽ phải đưa
ra các biện pháp nhằm khắc phục cuộc khủng hoảng tài chính này .
IV. Các biện pháp khắc phục khủng hoảng của các nước
1 . Các biện pháp can thiệp thị trường , giải cứu ngân hàng của chính phủ
, ngân hàng trung ương các nước và các tổ chức tài chính quốc tế nhằm
khắc phục những hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính .
- Cuộc khủng hoảng tài chính đã làm giảm sút nghiêm trọng lòng tin của
các nhà đầu tư , đẩy nền kinh tế thế giới sớm rơi vào suy thoái :
+ Đến tháng 12/2008 , có 25 nước rơi vào suy thoái , trong đó phải kể đến
những nước có nền kinh tế rất phát triển là Mỹ , Nhật Bản , khu vực đông
EURO , các nước Đông Âu. Suy thoái kinh tế ở nhiều nước tiếp tục diễn ra
trong những tháng đầu của năm 2009 . IMF đã dự báo năm 2009 , kinh tế thế
7
Bài tiểu luận GVHD : Trần Việt Trang
nước đang phát triển cũng tuyên bố sẽ cung ứng tiền không có giới hạn ,
phối hợp điều chỉnh giảm lãi suất chủ đạo đẻ tác động trực tiếp làm giảm lãi
suất thị trường nhằm tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế : FED giảm từ
2%/năm xuống còn 1.5%/năm , ECB giảm từ 4.25%/năm xuống còn
3.75%/năm , BOE giảm từ 5%/năm xuống còn 4.5%/năm . Đồng thời thực
hiện các biện pháp sau để tăng khả năng thanh khoản và mở rộng tín dụng ,
hỗ trợ tài chính cho các ngân hàng và công ty tài chính :
+ Thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng bằng biện pháp giảm mạnh lãi suất
chủ đạo , bơm tiền ra lưu thông
+ Trả lãi đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc và vượt dự trữ bắt buộc
8
Bài tiểu luận GVHD : Trần Việt Trang
+ Bảo lãnh cho các ngân hàng vay trên thị trường liên ngân hàng
+ Phối hợp thực hiện hoán đổi tiền tệ để cung ứng USD cho thị trường
ngoài nước Mỹ ( FED đã hoán đổi ngoại tệ với 13 ngân hàng trung ương )
+ Cho phép một số ngân hàng đầu tư được huy động vốn như ngân hàng
thương mại
+ Cho các ngân hàng gặp khó khăn về tài chính vay dài hạn để mua cổ
phiếu của chính các ngân hàng đó
+ Phối hợp với bộ tài chính cơ cấu lại vốn cho các ngân hàng
- Liên minh Châu Âu tổ chức rất nhiều các cuộc họp cấp Bộ trưởng và
Thượng đỉnh để tìm giải pháp cứu nguy cho các nền kinh tế đang bị đe dọa .
Ngày 12/12/2008 bước đầu thực hiện kế hoạch thúc đẩy kinh tế trị giá 264.3
tỉ USD , tương đương 1.5% GDP nhằm khôi phục nhanh chóng nền kinh tế ,
tăng trưởng và tạo việc làm
- Chính phủ các nước đã thực hiện rất nhiều biện pháp nhằm ổn định thị
trường tài chính và kích thích kinh tế :
+ Mua lại cổ phiếu , nợ xấu của các ngân hàng mất khả năng thanh toán .
+ Đưa ra tuyên bố đảm bảo thanh toán các khoản tiền gửi tại hệ thống
ngân hàng , tăng số tiền được bảo hiểm tiền gửi
nhịp so với các quốc gia khác nhưng cũng gây ra những tác động không nhỏ
đối với nhiều lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội . Tác động đến tăng trưởng
kinh tế , tác động lên xã hội , gây ra lạm phát ở mức cao , kim ngạch xuất
nhập khẩu biến động , thâm hụt thương mại và tác động đến tăng trưởng bền
vững . Dù chính phủ đã áp dụng một số biện pháp kích cầu có hiệu quả
nhưng hậu quả của cuộc suy thoái kinh tế gây ra là không nhỏ , nhưng đây
cũng là một cơ hội góp phần làm thay đổi vị thế Việt Nam trên trường quốc
tế .
1. Đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế .
Tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm
cho tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nước ta chậm lại . Kế hoạch đầu năm 2008 ,
tăng trưởng GDP dự kiến từ 8.5 – 9% . Đến tháng 5/2008 Quốc hội đã điều
chỉnh tỉ lệ tăng trưởng GDP xuống 7% . Nhưng đến tháng 10/2008 , tỉ lệ
tăng trưởng GDP thực tế là 6.52% .Cuộc khủng hoảng đã tác động đến mọi
tầng lớp dân cư của Việt Nam , trong đó tầng lớp công nhân lao động chịu
ảnh hưởng trực tiếp . Sản xuất bị thu hẹp , số người thất nghiệp gia tăng , thu
nhập bị giảm sút .
2. Đối với hoạt động xuất khẩu
- Nếu như sức tàn phá của cuộc khủng hoảng ở hầu hết các nước thể hiện
đầu tiên và rõ nét nhất ở hệ thống tài chính , ngân hàng thì ở Việt Nam lại
thể hiện trước hết ở lĩnh vực xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài .
Hiện nay , Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam , chiếm khoảng 20-
21% kim ngạch xuất khẩu . Khủng hoảng tài chính đã tác động đến tốc độ
10
Bài tiểu luận GVHD : Trần Việt Trang
tăng trưởng xuất khẩu , làm cho xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ giảm mạnh
do :
+ Hàng xuất khẩu của Việt Nam phần lớn vẫn là các loại hàng thô , trong
khi giá các nguyên liệu thô trên thị trường thế giới đang giảm .Giá dầu mỏ
và các mặt hàng xuất khẩu giảm , kéo theo thâm hụt ngân sách tăng lên .
hóa trên thị trường thế giới leo thang , gây áp lực tăng chi phí nhập khẩu và
đẩy nhập siêu lên cao . Từ cuối tháng 7/2008 , giá hàng trên thị trường thế
giới bắt đầu bước vào một đợt thoái trào mạnh ,đặc biệt từ tháng
9/2008.Theo đó , xuất khẩu chịu ảnh hưởng nặng . Những biến động của giá
cả đã đánh đổ hầu hết các dự báo và tính toán của các doanh nghiệp , cũng
11
Bài tiểu luận GVHD : Trần Việt Trang
như hoạch định , dự kiến của các nhà điều hành chính sách .Điều này càng
gây thêm nhiều khó khăn cho xuất khẩu Việt Nam .
3 . Đối với hệ thống tài chính ngân hàng .
- Nhìn nhận trên thực tế thì thị trường tài chính và mức độ liên kết của các
ngân hàng trong nước với hệ thống tài chính quốc tế còn hạn chế ,chính vì
thế mà thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng trong nước chịu ít tác động
trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính hoặc có tác động gián tiếp ở mức
độ không lớn . Nhìn chung , thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng trong
nước diễn biến theo chiều hướng ổn định ,bảo đảm an toàn thanh toán . Các
ngân hàng hoạt động tại Việt Nam cũng khá linh hoạt trước cú sốc tài chính
thế giới . Thanh khoản trong hệ thống ở mức cao , thậm chí còn dư thừa tới
40.000 tỉ đồng . Trong 9 tháng đầu năm 2008 , tốc độ tăng trưởng huy động
vốn của các ngân hàng thương mại đạt 11.01% . Trong đó , đáng chú ý là sự
gia tăng nguồn vốn huy động từ dân cư , vốn nội tệ tăng 28.5% và ngoại tệ
tăng gần 35% . Tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng đạt mức
19.15% . Trong đó , dư nợ cho vay với bất động sản đạt 115.000 tỉ đồng ,
chiếm 9.15% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế .Tất nhiên , những khó khăn từ
cuộc khủng hoảng cũng khiến các ngân hàng dè chừng hơn trong việc hoạch
định đường lối phát triển nhưng thực tế cho thấy không ít ngân hàng đã có
những kết quả hết sức khả quan :
+ Vượt 2000 tỉ đồng như : Vietcombank , Vietinbank , ACB ,
Techcombank
+ Trên 1000 tỉ đồng gồm :Sacombank , Eximbank , Ngân hàng quân đội
giới có thể khiến dòng đầu tư nước ngoài cả trực tiếp và gián tiếp vào Việt
Nam suy giảm vì những lo ngại về bất ổn kinh tế và suy thoái kinh tế toàn
cầu .
- Khả năng huy động vốn gián tiếp vào thị trường cổ phiếu Việt Nam
cũng có những ảnh hưởng nhất định do các nhà đầu tư sẽ hướng tới các kênh
đầu tư an toàn . Việc phát hành chứng khoán huy động vốn trên thị trường
quốc tế cũng sẽ gặp khó khăn và chi phí tăng cao . Chính phủ Việt Nam có
kế hoạch phát hành 1 tỉ USD và Vinashin có kế hoạch huy động 400 triệu
USD trên thị trương quốc tế vào năm 2009 . Tuy nhiên , trong bối cảnh của
cuộc khủng hoảng , khó khăn trong việc thực hiện kế hoạch trên là điều
không thể tránh khỏi . Tuy đầu tư nước ngoài đã gặp nhiều khó khăn , nhưng
Việt Nam cũng có những cơ hội nhất định qua cuộc khủng hoảng tài chính
này . Bởi lẽ , dòng vốn trên thế giới sẽ tập trung vào những nơi có môi
trường chính trị và kinh doanh ổn định mà Việt Nam lại đang là nước có
những lợi thế này . Hơn nữa , các nhà đầu tư luôn tin tưởng vào tương lai và
triển vọng đi lên của nước ta , đó là một điểm thuận lợi để nước ta có thể thu
hút được những nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế đất nước .
5 . Hoạt động trên thị trường chứng khoán
- Khủng hoảng tài chính gây ra những ảnh hưởng rộng trên thị trường tài
chính thế giới.Theo đó , các nhà đầu tư và các quỹ đầu tư nước ngoài sẽ gặp
khó khăn hơn trong việc huy động vốn hoặc họ sẽ có xu hướng thận trọng
hơn trong quyết định đầu tư khi các thị trường lớn của họ đang gặp khó khăn
, và việc họ cơ cấu lại chứng khoán Việt nam là điều có thể xảy ra .
- Do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính , các doanh nghiệp niêm
yết trên thị trường tài chính sẽ không tránh khỏi tác động xấu , đặc biệt là
các doanh nghiệp xuất khẩu . Do đó , giá cổ phiếu cũng có những dấu hiệu
sụt giảm .
- Khủng hoảng tài chính tác động mạnh mẽ đến tâm lí các nhà đầu tư
chứng khoán Việt Nam . Khi đó , thị trường chứng khoán lập tức bị tác động
13
1 và 2 điểm phần trăm với mức dự trữ bắt buộc bằng VND và ngoại tệ , nới
rộng biên độ tỉ giá giữa USD và VND vào tháng 3/2009 ,hỗ trợ lãi suất 4%
cho các khoản tín dụng hợp lệ đến hết ngày 31/12/2009 , áp dụng gia hạn và
giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp , tạm thời hoàn 90% thuế giá trị gia
tăng cho một số sản phẩm xuất khẩu theo quy định . Đồng thời với chính
sách tài chính và tiền tệ ,chính sách xã hội đã tiến xa hơn một bước bằng sự
ra đời của “bảo hiểm thất nghiệp” tính từ ngày 1/1/2009 . Rộng hơn nữa ,
chính phủ chủ trương hỗ trợ những khoản vay không tính lãi dành cho các
doanh nghiệp để trả lương , đóng bảo hiểm xã hội và trợ cấp thất nghiệp cho
người lao động . Với những chính sách hỗ trợ của chính phủ , nền kinh tế
14
Bài tiểu luận GVHD : Trần Việt Trang
Việt Nam đã có những bước phục hồi đáng kể , dần vượt qua giai đoạn khó
khăn .
- So với năm 2008 , tăng trưởng GDP từ 3.1% trong quý I/2009 ( mức
thấp nhất trong vòng một thập kỉ ) đã vượt lên 4.5% trong quý II/2009 . Và
đến năm 2010 , tăng trưởng GDP đã được đẩy nhanh lên đến 6.8% nhờ sự
phục hồi của xuất khẩu và những điều tiết phù hợp về chính sách .
- Sản xuất công nghiệp bắt đầu có dấu hiệu khởi sắc kể từ năm 2009.
Tăng trưởng tháng 8 đạt 10.6% so với cùng kì năm 2008 và gấp hai lần so
với mức tăng đầu năm 2009 . Doanh thu bán lẻ thực tế gồm cả mua sắm gia
đình và cho doanh nghiệp tiếp tục tăng mạnh . Điều đó chứng tỏ hoạt động
thương mại nội địa đã được cải thiện đáng kể .
- Tỷ lệ lạm phát giảm từ mức đỉnh từ 27.9% vào tháng 9/2008 xuống
còn 2% vào tháng 8/2009 . Tuy nhiên áp lực về giá leo thang và đó chính là
mối quan tâm lo ngại cho tình hình lạm phát của đất nước trong thời gian
tiếp theo . Và đến năm 2010,lạm phát của Việt Nam đã tăng cao lên mức hai
con số (11.8%) vào cuối năm 2010 và tiền đồng Việt Nam bị trượt giá .
- Kim ngạch xuất khẩu vẫn duy trì ở mức tăng trưởng thấp .Bên cạnh
đó , các mặt hàng như gạo , đồ dệt may và linh kiện điện tử vẫn giữ được tỷ
I . Giải pháp đối với nền kinh tế của Việt Nam
Trước những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu , ngay từ
quý 4/2008 chính phủ Việt Nam đã đưa ra một loạt các biện pháp để ngăn
chặn , phòng ngừa những hậu quả khôn lường của “cơn bão tài chính” . Các
biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô đã phát huy tác dụng : lạm phát giảm , tính
thanh khoản giữa các ngân hàng được tăng cường , thanh khoản của thị
trường được đảm bảo ,thu hẹp cán cân thương mại , tăng cường ngân sách
nhà nước , thắt chặt chi tiêu công , tăng dự trữ ngoại tệ . Sự chao đảo của thị
trường thế giới khiến giá nguyên liệu giảm dẫn đến làm giảm gánh nặng trợ
cấp giá nguyên liệu của ngân sách nhà nước . Các ngân hàng thương mại
cũng được hỗ trợ bằng nhiều biện pháp của ngân hàng nhà nước . Nền kinh
tế được phục hồi bằng các biện pháp phù hợp
1 . Đối với hoạt động ngân hàng
- Ngân hàng nhà nước Việt Nam , bộ tài chính chỉ đạo và yêu cầu các
ngân hàng thương mại ,các tập đoàn kinh tế rà soát ngay các khoản tiền gửi
và đầu tư tại các ngân hàng thương mại , tổ chức tài chính nước ngoài cũng
như các khoản vay của các tổ chức này .Từ đó thực hiện các biện pháp cần
thiết thích hợp để giảm thiểu nguy cơ mất vốn hoặc tăng chi phí . Đồng thời
rà soát hoạt động đầu tư , kinh doanh của các ngân hàng đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam .Các tổ chức tín dụng ở nước ta , đặc biệt là các ngân hàng
thương mại có vai trò to lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế , thực
hiện tốt sự chỉ đạo của ngân hàng nhà nước về tín dụng , lãi suất , ngoại hối
… đã cung ứng cho nền kinh tế một khối lượng vốn rất lớn . Các ngân hàng
thương mại nhà nước đã chủ động điều hành một cách linh hoạt cơ chế lãi
suất và cho vay , góp phần kiềm chế lạm phát .
- Phải áp dụng và kết hợp một cách chặt chẽ về tiền tệ - tài chính để thúc
đẩy sản xuát và xuất khẩu , kích cầu tiêu dùng để thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế và tiếp tục kiềm chế lạm phát . Chính phủ , ngân hàng nhà nước đã và
đang chủ động thực hiện các biện pháp vừa góp phần ổn định hệ thống , tiếp
tục chống lạm phát , vừa góp phần kích cầu nền kinh tế theo nghị quyết số
- Năm 2009 cần áp dụng chính sách tiền tệ nới lỏng có kiểm soát , kích
thích đầu tư . Để góp phần tháo gỡ những khó khăn cho các doanh nghiệp
,đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa ,các ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp
như khoanh nợ , giãn nợ , giảm lãi suất cho vay . Cùng với đó , chính sách
tài khóa cũng được xem xét miễn giảm thuế cho doanh nghiệp sản xuất và
xuất khẩu
- Quản lí chặt chẽ thị trường giao dịch ngoại tệ tự do để tránh hiện tượng
đầu cơ dẫn đến xu hướng nhà đầu tư trong nước rút tiền chuyển thành ngoại
tệ , gây sức ép lên vấn đề tỉ giá và dự trữ ngoại tệ
- Thường xuyên rà soát đánh giá lại các khoản vay nợ ngắn hạn nước
ngoài của chính phủ , ngân hàng , doanh nghiệp và danh mục đầu tư gián
tiếp nước ngoài
- Nâng cao khả năng tài chính cho các ngân hàng để giữ chân luồng vốn
nước ngoài
- Chính phủ cần nghiên cứu xem xét về cấp hạn ngạch cho việc mua trái
phiếu của nhà đầu tư nước ngoài để đảm bảo tỉ lệ kiểm soát , phòng khi nhà
đầu tư nước ngoài ồ ạt rút vốn bằng bán trái phiếu
18
Bài tiểu luận GVHD : Trần Việt Trang
- Tiếp tục thắt chặt chi tiêu công , nhất là những dự án kém hiệu quả và
chưa thật cần thiết
3 . Đối với hoạt động chứng khoán , hoạt động đầu tư nước ngoài
- Bộ tài chính chỉ đạo ủy ban chứng khoán nhà nước theo dõi , giám sát
chặt chẽ luồng vốn ra – vào của nhà đầu tư nước ngoài . Đồng thời , xử lí
những vướng mắc về thủ tục hành chính trong hoạt động chứng khoán để
đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư từ thị trường này và phát triển thị trường bền
vững . Thực hiện rà soát các hoạt động của các tổ chức tài chính , các quỹ
đầu tư tài chính để đánh giá và xác định tình trạng tài chính của từng quỹ và
toàn bộ hệ thống , sửa đổi , bổ sung , xây dựng các tiêu chí , điều kiện về cấp
phép thành lập và hoạt động đối với các công ty chứng khoán , công ty bảo
Bài tiểu luận GVHD : Trần Việt Trang
các mặt hàng của Việt Nam sang các thị trường khác có lợi thế (Đông Nam
Á , Châu Phi , Châu Mỹ La tinh)
- Chọn lọc nhập khẩu : Đây cũng là cơ hội để Việt Nam tranh thủ nhập
khẩu các mặt hàng , công nghệ hiện đại mà các nước phát triển phải bán đi
do kinh tế của họ khó khăn
=> Trước những giải pháp nhằm phục hồi kinh tế Việt Nam ,bên cạnh
những mặt tích cực mà những giải pháp này mang lại , để khắc phục những
hạn chế yếu kém về kinh tế vĩ mô , tháng 2/2011 chính phủ Việt Nam đã có
nghị quyết 11 tập trung “ ưu tiên kiềm chế lạm phát , ổn định kinh tế vĩ mô ,
đảm bảo an sinh xã hội” với 6 gói các biện pháp chính sách bao gồm “ thắt
chặt chính sách tiền tệ, thắt chặt chính sách tài chính , kìm hãm thâm hụt
thương mại , tăng giá điện . Đồng thời kết hợp với việc hỗ trợ người nghèo
và sử dụng một cơ chế mang tính thị trường hơn đối với việc định giá xăng
dầu , tăng cường an sinh xã hội , nâng cao hiệu quả việc phổ biến thông tin
chính sách” . Đồng thời để thực hiện hóa các mục tiêu trên , ngân hàng nhà
nước đã yêu cầu các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác phải kìm hãm
tăng trưởng tín dụng ở mức dưới 20% trong năm . Các tổ chức tín dụng hạn
chế cấp tín dụng cho các hoạt động không mang tính sản xuất như bất động
sản và chứng khoán xuống dưới 22% trong tổng số tiền cho vay tính đến
cuối tháng 6/2011 và 16% tính đến cuối năm 2011 .
- Mặt khác , ngân hàng nhà nước cũng tìm cách hạn chế cho vay bằng
ngoại tệ đối với việc nhập khẩu hàng hóa không thiết yếu , giới hạn việc
nhập khẩu vàng và cấm kinh doanh vàng miếng trên thị trường . Đó là
những động thái có tính quyết liệt của ngân hàng nhà nước nhằm giảm thiểu
những giao dịch đầu cơ tích trữ ngoại tệ và vàng để đảm bảo ổn định đồng
tiền VND
- Bên cạnh đó , bộ tài chính đã sửa đổi mục tiêu thâm hụt ngân sách năm
2011 xuống dưới mức 5.0% GDP (thấp hơn so với mức ban đầu là 5.3%) .
Các bộ ngành khác được yêu cầu phải cắt giảm 10% các chi phí hoạt động
(FDI) giảm đến 32% trong quý 1/2009 , vốn FDI đăng kí giảm trên 40%
- Thứ 3 : Do hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ được , hàng tồn kho
tăng mạnh trên 67% so với cùng kì cho thấy cho thấy hiệu quả sản xuất kinh
doanh thấp và nhiều doanh nghiệp có nguy cơ phá sản do không bán được
hàng và sản xuất bị ngưng trệ
- Thứ 4 : Cùng với co giảm về sản xuất , doanh nghiệp phá sản ,một tỉ lệ
không nhỏ (15%) lao động đang làm việc bị cắt giảm , góp phần tăng tỉ lệ
lao động thất nghiệp ở thành thị và tăng tỉ lệ thiếu việc làm ở nông thôn
- Thứ 5 : Khi lao động thất nghiệp và thiếu việc làm gia tăng , đời sống
của một bộ phận dân cư , người làm công ăn lương giảm .Đời sống giảm sẽ
tác động vào tiêu dùng giảm là một nhân tố làm cho tốc độ tăng trưởng giảm
. Đồng thời sẽ làm gia tăng tệ nạn xã hội như buôn lậu , cướp giật , lừa đảo ,
trôm cắp….
- Thứ 6 : Khi gia tăng lao động thất nghiệp sẽ làm tăng số người từ các
tỉnh nhỏ đổ về các đô thị lớn như Hà Nội , Thành phố Hồ Chí Minh để tìm
kiếm việc làm sẽ làm gia tăng nạn kẹt xe , ô nhiễm môi trường , tai nạn giao
thông…
2. Các cơ hội cho kinh tế Việt Nam
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã gây ra cho nền kinh tế Việt Nam không
ít thách thức.Tuy nhiên bên cạnh những thách thức đó chúng ta có thể tìm
thấy những cơ hội cho sự phát triển của Việt Nam .
21
Bài tiểu luận GVHD : Trần Việt Trang
- Thứ nhất : Bên cạnh việc giảm mạnh từ các nguồn đầu tư nước ngoài
, nền kinh tế Việt Nam cũng có những tia sáng từ đầu tư nội địa gia tăng
.Một số ngành dịch vụ nội địa gia tăng gồm bưu chính viễn thông , vận tải
hành khách . Như vậy , việc phát huy nguồn nội lực đầu tư trong nước khi
mà tiềm năng nguồn vốn trong dân chưa khai thác hết chính là một cơ hội
cho sự phát triển kinh tế đất nước . Đầu tư trong nước sẽ hướng vào những
lĩnh vực đang có cơ hội phát triển như :các ngành dịch vụ , xây dựng , sản
từng thời kì kinh tế , đảm bảo việc phát triển phù hợp và đi đến bền vững
22
Bài tiểu luận GVHD : Trần Việt Trang
- Tăng cường các hoạt động đầu tư vào xây dựng và phát triển kết cấu
hạ tầng để thu hút nguồn đầu tư từ các nước trong khu vực và trên thế giới ,
tạo cơ hội phát triển kinh tế quốc gia .
- Cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng hiệu quả , bao gồm cả điều chỉnh ,
quy hoạch và phát triển
- Cần có những biện pháp phát triển bền vững , tăng trưởng phải gắn
liền với bảo vệ môi trường và công bằng xã hội .Thực tế cho thấy , chất
lượng cuộc sống của người dân ngày càng thấp do ảnh hưởng của môi
trường , không khí , môi trường sống ngày càng đi xuống . Sự phát triển của
các ngành công nghiệp gắn liền với các vấn đề ô nhiễm môi trường, ảnh
hưởng nặng nề đến sức khỏe con người . Nếu thu hút một dự án đầu tư để có
tăng trưởng thêm một phần nhưng thiệt hại về môi trường ảnh hưởng đến
sức khỏe nhiều hơn so với những gì có được thì liệu có cần một dự án đầu tư
như vậy ?
- Thực hiện biện pháp đầu tư cho giáo dục , khoa học , nâng cao chất
lượng của hệ thống giáo dục , đào tạo , đáp ứng nhu cầu xã hội , nhu cầu
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
- Cần có biện pháp nhằm thu hút người dân vào những dự án đầu tư
nôi địa .Cần phải tăng cường các biện pháp bảo hiểm rủi ro tiền gửi , tiền
đầu tư của người dân để họ có lòng tin vào nguồn đầu tư
- Cần phải có những biện pháp đa dạng hóa thị trường cho hàng hóa
Việt Nam để thu hút sự chú ý của khách hàng trong ngoài nước trong bối
cảnh thắt chặt chi tiêu do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng. Từ đó tăng
nguồn thu lợi nhuận từ lĩnh vực này
- Cuối cùng là biện pháp rất quan trọng đối với những người điều
hành nền kinh tế đất nước . Cần đẩy mạnh cải cách hành chính , tăng tính
minh bạch và tính chuyên nghiệp trong quản lí nhà nước để sẵn sang đối phó
trong năm 2007 (12.63%) , bùng phát trong năm 2008 đã tăng tới 19.89%
( tính bình quân năm đã tăng tới 22.97%) . Giá USD nếu năm 2007 giảm nhẹ
thì năm 2008 tăng 6.31% và năm 2009 đã tăng 10.7% . Nhập siêu năm 2007
lên trên 14.2 tỉ USD , năm 2008 đã lên đến trên 18 tỉ USD , và năm 2009
cũng gần 12.9 tỉ USD . Những con số đã cho thấy những tác động mạnh mẽ
từ cuộc khủng hoảng đến nền kinh tế Việt Nam . Tuy nhiên , nhờ việc thực
thi các giải pháp phù hợp mà nền kinh tế Việt Nam đã nhanh chóng thoát
khỏi khủng hoảng .
Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ năm 2008 vừa mang đến những
thách thức cũng vừa là cơ hội trong công cuộc khôi phục và tăng trưởng
kinh tế của các nước nói chung và Việt Nam nói riêng . Thách thức càng
nhiều nỗ lực càng phải lớn hơn để không chỉ tồn tại mà còn để phát triển .
Những bài học từ tài chính Mỹ có lẽ là bài học đắt giá cho ngành ngân hàng
Việt Nam . Lợi nhuận cao luôn đi kèm với rủi ro cao là bài học muôn thuở ,
24
Bài tiểu luận GVHD : Trần Việt Trang
luôn được các ngân hàng nói đến nhưng các ngân hàng cũng rất khó bỏ qua
những “khoản lợi nhuận cao” này . Vì thế thận trọng luôn là cần thiết ,
không nên lấy ngắn nuôi dài , không nên lấy tiền thực để nuôi các tài sản
ảo , không nên cho vay dựa trên các quan hệ thân hữu , không nên mù quáng
theo đuổi lợi nhuận , nhất là trong bối cảnh kinh tế hiện nay. 25