ĐỀ TÀI
Tìm hiểu nguyên nhân và diễn biến
của cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ ở Châu Á năm 1997 Giáo viên hướng dẫn : Trần Bá Trí
Sinh viên thực hiện : Chuyên đế nhóm Tìm hiểu cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997
GVHD: Trần Bá Trí Trang 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Mục tiêu nghiên cứu
1.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu nguyên nhân và diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở
Châu Á năm 1997.
1.2 Mục tiêu cụ thể
(thực chất là thả nổi đồng Ringgit).
Ngày 14.8.1997, Indonesia tuyên bố thả nổi đồng Rupiah.
Năm 1996, tỷ giá bình quân đồng Won của Hàn Quốc là 884,2 Won/USD thì:
ngày 30.9.1997 là 914,8 Won/USD, ngày 14.12.1997 đồng Won được thả nổi.
Có thể nói sự mất giá nhanh với quy mô chưa từng có của những đồng tiền Thái
Lan, Phillippines, Malaysia, Indonesia và Hàn Quốc là biểu hiện dễ nhận thấy của sự
bùng nổ khủng hoảng kinh tế-tài chính ở các nước này.
Bảng 1.1 Tỷ giá hối đoái bình quân năm 1996 và 1997
Nước/ Tỷ giá bình quân 1996 1997
Thái Lan 25,61
47,25
Phillippines 26,29
39,50
Malaysia 2,52
3,88
Indonesia 2,308
5,400
Hàn Quốc 844,20
695,8
hàng bị
sát nhập
Số ngân
hàng bị
bán cho
công ty
nước
ngoài
Tổng số
ngân hàng
có vấn đề
Thái Lan 108
56
4
64 (59%)
Malaysia
4141 (68%)
Malaysia Năm 1996
Năm 1997
489 doanh nghiệp phá sản
6.583 doanh nghiệp phá sản (bằng 13 lần so
với 1996)
Indonesia Năm 1998 Khoảng 80% doanh nghiệp ngừng hoạt
động
Hàn Quốc Năm 1997
Năm 1998
14.000 doanh nghiệp phá sản
53.000 doanh nghiệp phá sản (gấp 3,8 lần
năm 1997)
Nguồn: Đình Thơm(1998). “Khủng hoảng tài chính-tiền tệ khu vực, nguyên nhân và
giải phát”, NXB thông tin KHXH, Hà Nội và Nguyễn Thiện Nhân (2002). “Khủng
hoảng kinh tế- tài chính ở châu Á 1997-1999”, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM.
Sự phá sản của hàng loạt ngân hàng, doanh nghiệp sẽ dẫn đến hai hậu quả trực
tiếp là số người thất nghiệp tăng mạnh, và tăng trưởng kinh tế bị giảm sút,(Bảng 1.4).
Chuyên đế nhóm Tìm hiểu cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997
GVHD: Trần Bá Trí Trang 4
Bảng 1.4 Tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp khi khủng hoảng kinh tế - tài chính
5,8
5,2
-0,5
9,5
10,4
3,3
Hàn Quốc 7,1
5,5
-5,8
2,3
2,5
8,0
Nguồn: ASEAN University Network(2000), Economic Crisis in Southeast Asia and
Korea, Tradition and Modernity Publisher, Seoul, Korea, tr 21- 25 và Nguyễn Thiện
Nhân (2002). “Khủng hoảng kinh tế- tài chính ở châu Á 1997-1999”, NXB Đại học
Quốc gia TP.HCM.
Năm 1996, tổng thu nhập quốc gia của Hàn Quốc là 528 tỷ USD, năm 1998 giảm
lâu, yếu kém về xuất khẩu, giữ lãi suất cho vay trong nước cao hơn lãi suất các đồng
tiền mạnh ở nước ngoài, thì trước sau nguy cơ mất khả năng thanh toán sẽ ngày càng Chuyên đế nhóm Tìm hiểu cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997
GVHD: Trần Bá Trí Trang 6
lớn, khả năng giữ tỷ giá hối đoái cố định sẽ ngày càng suy yếu và việc phải thả nổi đồng
tiền nội địa-tức tăng tỷ giá hối đoái chỉ là vấn đề thời gian.
Khi một số nhà đầu tư nước ngoài tiên đoán chính phủ nước sở tại sắp hết dự trữ
ngoại tệ để duy trì tỷ giá hối đoái cố định thì họ sẽ bán tài sản họ đã đầu tư, đổi lấy
ngoại tệ mang ra nước ngoài. Lúc đầu, chính phủ các nước thường bán dự trữ ngoại tệ
để duy trì tỷ giá cũ, song đến một lúc nào đó, không còn khả năng bán nữa thì sẽ thả nổi
tỷ giá hối đoái. Lúc này các nhà đầu tư nước ngoài chưa bán tài sản (sổ phiếu, trái
phiếu, tín phiếu) thì sẽ tìm cách bán thật nhan và đổi sang ngoại tệ để tối thiểu hóa thiệt
hại cho mình. Áp lực này càng làm cho tỷ giá hối đoái tăng vọt. Đó là vòng xoáy khủng
hoảng thứ 1, tác động rất nhanh tới tỷ giá hối đoái (Sơ đồ 1.1).
Và việc chỉ vài ngân hàng phá sản, sẽ gây tâm trạng lo âu cho người dân gửi tiền
tiết kiệm ở các ngân hàng khác, họ sẽ lại chạy đi rút tiền tiết kiệm khỏi ngân hàng, dẫn
đến việc cả các ngân hàng làm ăn hiệu quả cũng lâm vào mất khả năng chi trả, phá sản.
Đó là vòng xoáy khủng hoảng thứ 3, tác động nhanh (Sơ đồ 1.1).
Khi tỷ giá hỗi đoái tăng mạnh dư nợ ngoại tệ của các doanh nghiệp tính bằng
tiền nội tệ sẽ tăng vọt, cùng với việc các ngân hàng, công ty tài chính phá sản sẽ không
có khả năng cung ứng tín dụng cho các doanh nghiệp hoạt động nữa. Các doanh nghiệp
nào hoạt động vốn đã kém hiệu quả, thì giờ đây sẽ không có đủ vốn để kinh doanh,
càng sớm bị đảy tới thua lỗ và phá sản. Khi doanh nghiệp thua lỗ thì các ngân hàng,
công ty tài chính không đòi được nợ, sẽ càng phá sản nhanh hơn. Đó là vòng xoáy
khủng hoảng thứ 4, tác động chậm hơn các vòng xoáy khủng hoảng trước (Sơ đồ 1.1).
Khi một nước bị khủng hoảng dẫn tới hậu quả là tỷ giá hối đoái của nước đó tăng
mạnh, thì tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu nước đó tăng, làm cho xuất khẩu của các
phát triển rất tích cực: GDP tăng cao liên tục, xuất khẩu phát triển, lạm phát thấp, ngân
sách chính phủ luôn dư thừa và cán cân thanh toán có thể kiểm soát được, đầu tư tăng
vọt và tình trạng thất nghiệp hầu như không có.
Các doanh nghiệp hoạt động ngày càng kém hiệu quả
Tăng trưởng GDP ở mức cao, kéo dài nhiều thập kỷ, cộng với lãi suất tiết kiệm
trong nước cao (bình quân 16,3% năm, trong khi ở Mỹ là 7,6), và tỉ giá hối đoái gần
như cố định đã tạo nên một môi trường kinh doanh rất hấp dẫn các nhà đầu tư nước
ngoài, đặc biệt đầu tư tài chính, cho vay ngắn hạn và tín dụng thương mại. Như vậy,
các doanh nghiệp trong nước nếu vay vốn trực tiếp từ các ngân hàng, công ty nước
ngoài như Mỹ thì chỉ chịu lãi suất bằng ½ lãi suất cho vay trong nước. Nếu các doanh
nghiệp tận dụng khả năng sử dụng vốn bên ngoài không quan tâm đến hiệu quả sử
dụng vốn vay thì hiệu quả kinh tế sẽ giảm, dù tổng sản lượng có thể tăng.
Một điểm đặc biệt ở Thái Lan là trong giai đoạn 1991-1996, đầu tư trực tiếp của
nước ngoài vào Thái Lan chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với đầu tư tài chính gián tiếp và sử
dụng vốn vay ngắn hạn nước ngoài. Tổng đầu tư trực tiếp thwoif kỳ này là 11,701 tỷ
USD, tổng đầu tư trực tiếp của Thái Lan ra nước ngoài là 2,857 tỉ USD, do vậy tổng
đầu tư trực tiếp thuần là 8,822 tỉ USD. Trong khi đó, tổng đầu tư tài chính thuần (cổ
phiếu, trái phiếu) là 16,4 tỉ USD, và tổng vay ngắn hạn thuần là 60,04 tỉ USD. Như
vậy, trong tổng số vốn nước ngoài thuần đã đầu tư vào Thái Lan thời kỳ 1991-1996 là
85,293 tỉ USD thì đầu tư trực tiếp chỉ chiếm 10,36% (8,844 tỉ USD), đầu tư gián tiếp
19,23% (16,404 tỉ USD) và tín dụng, vay ngắn hạn tới 70,4% (60,045 tỉ USD).
Việc sử dụng đến gần 90% nguồn vốn nước ngoài ở dạng đầu tư tài chính và tín
dụng ngắn hạn sẽ tạo áp lực tài chính rất lớn lên các công ty, vì phải trả nợ thường
xuyên và bằng ngoại tệ (với tín dụng ngắn hạn). Hậu quả, là nếu doanh nghiệp kinh
doanh không tốt thì hiệu quả ản xuất kinh doanh của các công ty sẽ thấp . Chuyên đế nhóm Tìm hiểu cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997
GVHD: Trần Bá Trí Trang 9
Trong suốt các năm 1991-1996 , cán cân thương mại của Thái Lan luôn bị thâm
hụt, tổng cộng là 35,26 tỉ USD. Thâm hụt tài khoản vãng lai năm 1996 tới 14,7 tỉ USD.
Một lí do của tình trạng này là do xuất khẩu bị kìm hãm, nhập khẩu được khuyến khích
do tỉ giá hối đoái danh nghĩa gần như cố định (25baht/USD), lạm phát trong nước cao
hơn so với ở Mỹ ( 5% so với 3%), đồng baht bị định giá cao hơn so với đồng USD. Để
bù đắp thâm hụt thương mại và để có vốn đầu tư bình quân 40%GDP mỗi năm, con
Năm 1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
Tăng trưởng (%)
GDP (a)
7,0
7,1
8,2
Lạm phát (%) 5,7
4,1
4,6
5,1
5,8
4,8
5,6
8,1
5,02
Xuất khẩu (tỷ USD)
28,23
32,1
36,4
44,47
55,4
54,4
-4,3
-3,7
-7,7
-9,5
1,5
12,3
-36,26
Cán cân tài khoản
vãng lai (tỉ USD)
-7,59
-6,3
-6,36
-8,08
-13,55
-14,69
-3,02
0,873
1,182
1,405
3,3448,844
Đầu tư tài chính
thuần (cổ phiếu –
trái phiếu, tỉ USD)
9,994
6,584
3,474
8,812
16,644
14,537
-23,5160,04
89,0
97,0
Nợ ngắn hạn (ti
USD)
43,6
45,7
45,6
Dự trữ ngoại tệ (tỉ
USD)
18,4
21,2
25,4
30,3
4,86
4,92
5,94
5,2 Chuyên đế nhóm Tìm hiểu cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997
GVHD: Trần Bá Trí Trang 11
đường không tránh khỏi là vay tiền nước ngoài (từ các ngân hàng, các doanh nghiệp,
nhà đầu tư tài chính, chính phủ các nước). Vì vậy nợ nước ngoài của Thái Lan không
ngừng tăng, từ 35,99 tỉ USD năm 1991 lên 89 tỉ USD năm 1996, gấp 2,47 lần trong
vòng 5 năm, và bằng 54% GDP Nợ ngắn hạn chiếm: 67% tổng nợ nước ngoài (1995),
51% tổng nợ nước ngoài (1996). Nợ ngắn hạn năm 1995 và 1996 gấp gần 1,18 lần dự
trữ ngoại tệ của quốc gia. Tức là Thái Lan thực tế đã mất khả năng thanh toán nợ nước
ngoài từ năm 1995. Tức là thực tế TL đã mất khả năng thanh toán nợ nước ngoài từ
năm 1995. Nếu các nhà đầu tư Thái Lan cũng phải thả nổi đồng nội địa Baht, thì chính
họ sẽ bán cổ phiếu, trái phiếu, đòi nợ ngắn hạn, đổi từ tiền Baht ra USD, làm tăng cầu
ngoại tệ đột ngột. Kết quả là tỉ giá hối đoái sẽ tăng, dự trữ ngoại tệ cạn kiệt, nguy cơ
mất khả năng thanh toán của quốc gia sẽ ngày càng cao. Đến tháng 6.1997 nợ nước
ngoài của Thái Lan đã bằng 1,5 lần dự trữ ngoại tệ của Thái Lan.
Tóm lại, cuối 1996 đầu 1997, Thái Lan đã tích lũy cả 4 nguy cơ khủng hoảng ở mức
cao .
như Thái Lan, Indonesia khởi đầu khủng hoảng cũng từ việc mất giá của đồng Rupiah,
tốc độ của nó chẳng khác nào 1 chiếc xe công thức 1, có thời điểm nó mất giá trên
625% (tỷ giá đồng Rupiah/USA tương ứng vào các ngày 2.7.1997; 31.12.1997 và
15.7.1998 là 2430, 4375, 15200). Trong khi đó nợ nước ngoài của Indonesia lên tới
133,67 tỷ USD ( trong đó vay ngắn hạn 29,2 tỷ USD) khiến Indonesia lâm vào tình
trạng khủng hoảng trầm trọng, tỷ lệ thất nghiệp tăng 4 lần và 16 ngân hàng và trên 80%
daonh nghiệp trên đất nước bị phá sản. Mức lạm phát tính đến tháng 5.1998 là 49,7% 1
tháng sau là 56,7%. Khiến hàng loạt Nhà đầu tư (chủ yếu người Hoa) rút vốn gửi sang
Singapore. Cuộc khủng hoảng chính thức bắt đầu tại Indonesia.
Sau đó cuộc khủng hoảng bắt đàu lan rộng hơn với các nước Đông Nam Á khác
như Malaixia, philipin và cả Singapore cũng bị ảnh hưởng khiến các đồng nội tệ tại các
quốc gia này giảm nhanh chống như đồng Pêsô (Philipin), Riggit (Malaixia) giảm
khoảng 25%. Và đồng đô la Singapore cũng giảm mức 6% so với trước thời kỳ khủng
hoảng.
2.3 Hàn Quốc – Sự sụp đổ của các tập đoàn kinh tế (CHAEBOL)
Vào tháng 10.1997 cuộc khủng hoảng bắt đầu tại Hàn Quốc quốc gia có nền kinh
tế phát triển vượt bậc và đứng thứ 11 thế giới. Lĩnh vực tài chính ngân hàng của Hàn
Quốc bị ảnh hưởng trầm trọng nhất. Trong những năm 1995 tốc dộ tăng trưởng kinh tế
Hàn Quốc là 8.9%/năm một con số kỳ diệu những đến năm 1998 mức tăng trưởng ở
mức -0.8% .
Dưới sự giúp sức của chính phủ Hàn Quốc các chaebol được hưởng rất nhiều ưu
đãi, nhiều khoảng vay được chính phủ tài trợ rất lớn mức vay của chaebol dao động từ
200 đến 1000% số vốn tự có của họ để kinh doanh. Khiến nền kinh tế phụ thuộc rất
nhiều vào các tập đoàn này, với việc ảnh hưởng giá đồng Won giảm nghiêm trọng trong
cuối năm 1996 giảm 36.6% và mức 19.5% vào tháng 10.1997 các tập đoàn này không Chuyên đế nhóm Tìm hiểu cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997
GVHD: Trần Bá Trí Trang 13
vực; sự giảm sút các luồng vốn nước ngoài đỗ vào mỗi nước và toàn khu vực; là sự hoạt
động đầu tư do mức lãi suất cao và yếu tố lòng tin. Tất cả làm suy giảm nhanh chóng
tốc độ tăng trưởng kinh té các nước này và toàn khu vực, tình trạng thất nghiệp ngày
càng gia tăng (chẳng hạn, tại Thái Lan, Hàn quốc và Inđônêxia tình trạng thất nghiệp
tăng gấp đôi so với mức trước khủng hoảng), các khoản nợ ngoại tệ nước ngoài gia
tăng. Giá trị đồng tiền bản tệ suy giảm trầm trọng ước tính đã có hơn 20 đồng tiền khác
nhau bị giảm giá. Theo đó mà ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu là không thể tránh
khỏi trong đó nền kinh tế đứng đầu thế giới giảm 0.5 – 1% trong năm 1998 và hoạt
động thương mại toàn cầu suy giảm từ 2 – 3% so với năm 1997.
Khủng hoảng đã gây thiệt hại cho các nước châu Á ít nhất 300 tỷ USD khoảng
20% GDP của các nước bị khủng hoảng và thiệt hại chung của nền kinh tế toàn cầu lên
đến 500 tỷ USD. Niềm tin của các nhà đầu tư từ khu vực này giảm mạnh, các dòng vốn
cũng sụt giảm theo. Ngoài ra, căng thẳng tình trạng bất ổn định về chính trị theo đó gia
tăng.
3.2 Tác động tích cực
Bất cứ vấn đề nào cũng tồn tại 2 mặt của nó cuộc khủng hoảng này cũng không
nằm ngoại lệ:
Cuộc khủng hoảng là điểm dừng để mở đầu một giai đoạn phát triển mới đầy
triển vọng trong đó nộ tại của cuộc khủng hoảng đã có những thay đổi mới
- Với chính sách tỷ giá linh hoạt của các nước sẽ làm giảm thiểu được lượng
ngoại tệ can thiệp để giữ giá bản tệ, giúp tăng dự trữ quốc gia về lâu dài
- Nhờ vào quá trình trợ giúp của IMF, ADC và một số quốc gia khác giúp gia
tăng lượng tín dụng, tăng mối quan hệ giúp định hướng và cải thiện cơ cấu đầu tư, lành
mạnh hóa hơn nền kinh tế quốc gia.
- Quá tình tự do hóa và toàn cầu hóa được đẩy mạnh.
3.3 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đến một số lĩnh vực kinh tế của Việt Nam Chuyên đế nhóm Tìm hiểu cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997
các lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước. Minh chứng cho nhận định này như sau:
Trước hết, có hai điểm khác biệt chủ chốt ảnh hưởng đến mức độ và phương
thức tác động của khủng hoảng đối với VN Chuyên đế nhóm Tìm hiểu cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997
GVHD: Trần Bá Trí Trang 16
Thứ nhất, các thị trường tài chính VN vừa chưa phát triển vừa kém hoà nhập với
các thị trường khu vực và quốc tế
Thứ hai, cơ cấu các luồng vốn chảy vào VN có độ an toàn cao gơn do chủ yếu là
FDI và ODA.
Đồng thời, theo quan điểm của IMF nhận thấy có một số điểm tương đồng khá
rõ nét giữa VN với các nền kinh tế đang chịu khủng hoảng trong khu vực:
Thứ nhất, VN đang có thâm hụt cán cân vãng lai cao
Thứ hai, có sự duy trì ổn định kéo dài tỷ giá VND
Thứ ba, có các tín hiệu rõ ràng gia tăng sự căng thẳng trong hệ thống ngân hàng
VN
Thứ tư, có tín hiệu về sự suy giảm tình trạng tài chính của nhiều doanh nghiệp,
trong đó có sự vay nợ đáng kể bằng USD. Ngoài ra, còn có một số điểm dễ nhận
thấy khác nữa như độ trì trệ của thị trường bất động sản, sự lúng túng trong
chuyển dịch và cải thiện cơ cấu xuất khẩu, tình trạng thất nghiệp khá cao, tình
trạng hiệu quả đầu tư xã hội thấp và tình năng động của thị trường chưa cao, các
thiết chế thị trường chưa phát triển đầy đủ, tiêu dùng xa xỉ và dự trữ ngoại tệ
mỏng.
Đây chính là những “ tiếp điểm” nhạy cảm truyền dẫn và cộng hưởng các tác động
tiêu cực của khủng hoảng khu vực đến nền kinh tế VN.
Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế, nền kinh tế các nước trong xu
thế mở cửa, hướng ngoại thì khủng hoảng kinh tế tại một nước, hay một khu vực sẽ có
những ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế thế giới nói chung, cũng như từng nền kinh
chi gây sức ép lớn đến nhu cầu vốn ngoại tệ từ bên ngoài và lượng dự trữ quốc gia còn
eo hẹp.
Chế độ tỷ giá ổn định kéo dài nhằm mục đích tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn
định, thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Luồn vốn nước ngoài đổ vào nhiều đã tạo nên sự
ổn định tỷ giá và tăng dự trữ ngoại tệ, tuy nhiên lại làm tăng tỷ giá thực của đồng VN
và ảnh hưởng xấu tới cán cân thanh toán quốc tế.
Mức nợ nước ngoài tăng nhanh là do bình thường hoá quan hệ với các tổ chức
quốc tế và tái hoà nhập với cộng đồng tài chính quốc tế. Tuy mức nợ này góp phần dáp
ứng nhu cầu vốn đầu tư cho nền kinh tế, nhưng về lâu dài gánh nặng nợ này sẽ ảnh
hưởng không nhỏ đến cán cân thanh toán và nhuc ầu ngoại tệ để trả nợ đến hạn, nhất là
khi các khoản vay nước ngoài sử dụng không hiệu quả, thất thoát hay doanh nghiệp mất
khả năng trả nợ.
Cơ cấu vốn đầu tư có những dấu hiệu chưa hợp lý. Đầu tư tăng nhanh nhưng tập
trung vào một số lĩnh vực nhất định nên đã gây ra những hiện tượng dư thừa như một số
lĩnh vực sản xuất sát thép, xi măng, đường.
Hệ thống tài chính ngân hàng chưa phát triển phù hợp, còn non yếu trong quản lý
dặc biệt trong lĩnh vực thanh tra kiểm soát. Các ngân hàng còn lỏng lẻo trong quản lý Chuyên đế nhóm Tìm hiểu cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997
GVHD: Trần Bá Trí Trang 18
vốn, chất lượng tín dụng kém, thất thoát, nợ đọng, nợ quá hạn, nợ khó đòi lớn.Ngoài ra
trong hệ thống ngân hàng thương mại đã có nhiều hoạt đong tín dụng cho vay thế chấp
bất động sản. Hệ quả là khi thị trường bất động sản suy giảm (năm 1996) nhiều doanh
nghiêp làm ăn thua lổ mất khả năng thanh toán đã đẩy nhiều ngân hàng rơi vào tình
trạng thiếu vốn và tăng gánh nặng thanh toán ngoại tệ đối với các hợp đồng bảo lãnh.
Những điểm khác nhau:
Thị trường tài chính tiền tệ của Việt Nam mới ở giai đoạn sơ khai, chưa phát
triển đầy đủ để có thể hoà nhập vào thị trường tài chính khu vực.
2.1997 là 10% và tháng 8.1998 là 7%). Những giải pháp này đã kịp thời góp phần giảm
bớt sức ép đối với tỷ giá hối đoái đồng Việt Nam.Trong khi đó, nhiều nước bị khủng
hoảng đã giữ tỷ giá cố định quá lâu, nên đã mất nhiêu dự trữ để can thiệp bảo vệ cho
mức tỷ giá đó trước khi phải thả nổi hoàn toàn. Ví dụ: Thái Lan giữ cố định mức tỷ giá
25 Baht ăn 1 USD trong suốt 13 năm và vừa qua bỏ ra hơn 6 tỷ USD để can thiệp.
Chính phủ Việt Nam đã sớm có những chỉ đạo kịp thời để ngăn chặn các nguy
cơ khủng hoảng có thể xảy ra xuất phát từ những nguyên nhân nội sinh của nền kinh tế,
đặc biệt là xử lý các vấn đề chính sách. Giải pháp xử lý nợ quá hạn (1994) và ngăn chặn
kịp thời tình trạng mở L/C thanh toán tràn lan (1996) thông qua khống chế mức mở L/C
ngắn hạn tối đa đã hạn chế được ảnh hưởng từ lĩnh vực này (tính đến cuối năm 1997 số
dư nợ L/C ngắn hạn chỉ còn gần 700 triệu USD so với 1,4 tỷ USD vào tháng 6.1996).
Đồng thời chính phủ có các biện pháp xử lý các tài sản thế chấp, giải toả nguồn vốn cho
hệ thông ngân hàng. Ngoài ra xúc tiến xây dựng các quy chế, quy định đồng bộ đối với
ngân hàng góp phần hoàn thiện hệ thống ngân hàng, đặc biệt 2 Luật ngân hàng và luật
các tổ chức tín dụng.
Từ phân tích những đặc điểm giống nhau cũng như khác nhau giữa nền kinh tế
Việt Nam và một số nước Đông Nam Á , ta có thề thấy những ảnh hưởng cơ bản sau
đây của cuộc khủng hoảng nói trên đối với một số lĩnh vực cụ thể của Việt Nam.
3.3.2 Đối với lĩnh vực tài chính ngân hàng
3.3.2.1 Sức ép giảm gíá đồng Việt Nam trên thị trường hối đoái
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á ngay lập tức đã gây ra sức ép giảm
giá đồng Việt Nam do :
- Thị trường dự đoán về khả năng khủng hoảng của đồng Việt Nam, dẫn tới tình
trạng găm giữ, đầu cơ ngoại tệ. Tâm lý đầu cơ thị trường đã đẩy tỷ giá trên thị trường tự
do tăng mạnh ( có thời điểm USD/ VND=14600)
- Bên cạnh đó, tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại cũng luôn ở mức
trên giao dich cho phép.
3.3.2.2 Ảnh hưởng đến cơ cấu tiền tệ gửi tại ngân hàng
Cuộc khủng hoảng đã gián tiếp tác động tới cơ cấu tiền gởi giữa dồng Việt Nam
và ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng.Tiền gởi bằng đồng Việt Nam có xu hướng tăng
xuất khẩu của Việt Nam vào ASEAN và kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN, và kim
ngạch nhập khẩu từ ASEAN. Như vậy luồng hàng xuất nhập khẩu giữa Việt Nam-
ASEAN, chính xác hơn là giữa Việt Nam-Singapore sẽ ít chịu tác động tiêu cực của
khủng hoảng do kinh tế Singapore đang vững vàng nhất trong khối ASEAN.Tuy nhiên
cùng với thời gian và sự lan rộng của khủng hoảng, xuất khẩu của Việt Nam sang
ASEAN và Châu Á nói riêng, ra thị trường thế giới nói chung sẽ chịu tổn thất về sự sụt
giảm khối lượng lẫn giá cả hàng xuất khẩu. Đó là vì sự thu hẹp sức mua của thị trường
xuất khẩu và vì sức ép tạo nên bởi sự phá giá của các đồng tiền khu vực với tốc độ cao Chuyên đế nhóm Tìm hiểu cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997
GVHD: Trần Bá Trí Trang 21
hơn VND, nên hàng xuất khẩu của ta bị đắt lên tương đối so với hàng của các nước
cạnh tranh. Mặt khác, tác động tiêu cực còn ở chỗ, trong cơ cấu kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam tỷ trọng của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tới trên
10% và có tốc độ tăng trưởng hàng năm cao hơn mức tăng chung, sự đóng góp của các
doanh nghiệp này ở Việt Nam đã giảm ở các nhà đầu tư lớn cũng đang gặp khó khăn ở
chính quốc. Chứng minh rõ nét nhất cho nhận định này là xu hướng giảm sút liên tục
xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN từ 2.252 tr USD năm 1996 xuống còn 1.787 tr
USD năm 1997.
Về mặt nhập khẩu, tác động của khủng hoảng đã làm giảm hàng xuất từ
ASEAN,điều đó vừa có lợi vừa có hại cho nước ta. Một mặt hàng nguyên liệu,vật
tư,máy móc phục vụ sản xuất nhất là để xuất khẩu được nhập từ ASEAN đã rẻ hơn 10-
40%,giúp giảm chi phí đầu vào do đó giảm giá thành nâng cao sức cạnh tranh cho hàng
Việt Nam (tuy nhiên do điều chỉnh tỷ giá VND 1997 một số doanh nghiệp Việt Nam
kinh doanh hàng nhập khẩu như xăng dầu, thép, xi măng, phân bón ….đã bị thua
lỗ).Cơn lốc hàng rẻ sẽ tìm mọi cách tràn vào nước ta, kể cả qua con đường nhập
lậu,khiến các doanh nghiệp trong nước bị giảm thị phần,giảm sản xuất. Một khi lịch
trình cắt giảm thuế theo kế hoạch của AFTA được xúc tiến sẽ tạo ra tác động cùng
ý định thực hiện các cam kết dầu tư của họ đã ký kết. Thực tiễn gần đây đang chứng tỏ
xu hướng này, nhất là ở khu vực phía Nam.
- Thứ tư, cuộc khủng một mặt thúc đẩy các nước ASEAN tìm đến nhau, tăng
cường các nổ lực hợp tác để cùng tìm lối thoát vượt qua khủng hoảng. Do đó, nhu cầu
tăng về trao đổi thương mại và đầu tư lẫn nhau, tăng sức hấp dẫn chung của khu vực đối
với đầu tư nước ngoài trở thành tự nhiên và được khuyến khích như một lợi ích chung,
lợi ích khu vực. Mặt khác, cuộc khủng hoảng ít nhiều, trực tiếp hay gián tiếp, lại đẩy
các nước này ra xa nhau với do những khó khăn tài chính giống nhau và sự cạnh tranh
trong vấn đề tăng xuất khẩu, tăng thu hút vốn đầu tư nước ngoài, sự e ngại về tự do hóa
quá nhanh sẽ làm lan truyền nhanh hơn những tác động tiêu cực của khủng
hoảng…Lịch sử cũng cho thấy, lợi ích kinh tế từng kéo các đối tác lại với nhau, gắn kết
họ lại,song lợi ích kinh tế cũng có thể đẩy họ ra xa nhau hơn mức có thể. Thành thử vấn
đề đặt ra cho các nước ASEAN trong cuộc khủng hoảng này là xử lý các lợi ích “hướng
tâm” và các lợi ích “ly tâm” như thế nào cho thỏa đáng nhất đế không làm tổn hại sau
bao năm xây đắp. Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của thực tiễn đó.
- Thứ năm, sự giảm giá bản tệ do khủng hoảng một mặt làm giảm giá trị các
khoản vay hay viện trợ bằng chính đồng bản tệ đó cho Việt Nam (chẳng hạn bằng đồng
yên đối với các khoản ODA mà Nhật Bản dành cho Việt Nam); mặt khác lại làm tăng
chi phí dịch vụ nợ nếu đồng tiền phải thanh toán là ngoại tệ đang lên giá so với đồng
bản tệ ấy (chẳng hạn làm tăng chi phí dịch vụ nợ bằng USD nếu tính theo giá VND đã
bị giảm giá 15% so với năm trước). Chuyên đế nhóm Tìm hiểu cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997
GVHD: Trần Bá Trí Trang 23
- Cuối cùng, thứ sáu, do khủng hoảng, giá trị tài sản, nhất là cổ phiếu và bất động
sản ở khu vực đang có xu hướng sụt giảm, làm tăng sự hấp dẫn “mời gọi” các nhà đầu
tư mạo hiểm có tính đầu cơ nước ngoài đổ tiền vào mua vét, “tích trữ” chờ giá lên.
Chính vì vậy, ở mức độ nhất định sẽ có sự gia tăng dòng đầu tư nước ngoài nhằm tham
Trên cơ sở phân tích khủng hoảng kinh tế-tài chính ở bốn nước Thái Lan,
Indonesia, Malaysia và Hàn Quốc, chúng ta có thể rút ra 3 bài học đối với Việt Nam.
Bài học 1: Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế quốc
gia là cơ sở quan trọng nhất bảo đảm cho phát triển bền vững và phải trở thành một mục
tiêu và chỉ tiêu của quản lý kinh tế đất nước, quản lý ngành và mỗi doanh nghiệp.
Để khắc phục sự thiếu ý chú ý đúng mức đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và
phát triển, cần đưa vào hệ thống chỉ tiêu kinh tế phải báo hằng năm của mỗi địa
phương, mỗi ngành và cả nước các chỉ tiêu như tỉ suất lợi nhuận và tỉ suất giá trị gia
tăng trên vốn riêng của doanh nghiệp theo các ngành, theo thành phần kinh tế và theo
các địa phương trên cả nước, đồng thời theo dõi chặt chẽ sự biến động của chỉ số ICOR
với mỗi địa phương và cả nước.
Bài học 2: Để các doanh nghiệp và nền kinh tế phát triển bền vững thì lãi suất
vốn vay để đầu tư phải tương đương với hoặc nhỏ hơn khả năng sinh lời của doanh
nghiệp.
Như vậy, để phát triển bền vững lãi suất tín dụng phải chủ yếu hình thành trên cơ
sở quan hệ cung cầu, chứ không phải dựa vào ý chí nhà nước. Nếu lãi suất tín dụng nhỏ
hơn khả năng sinh lời của doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp có tính cạnh
tranh cao, thì doanh nghiệp có thể sẽ càng phát triển nhanh và hiệu quả kinh doanh cao,
nếu càng vay được nhiều vốn.
So sánh tốc độ tăng trưởng GDP và lãi suất tiền gửi ở một số nước cho ta ví dụ
minh họa sau.