LỜI NÓI ĐẦU
Đối với các nước đang phát triển, cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Đông nam Á năm
1997 và năm 2008 đã cho thấy những ảnh hưởng của hành động đầu cơ tiền tệ của các
công ty tài chính, chứng khoán và những khó khăn trong việc điều hành hệ thống tiền tệ
và việc sử dụng các nguồn vốn.
Khủng hoảng đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, bao gồm mất giá tiền
tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm giá tài sản ở một số nước châu Á. Nhiều doanh
nghiệp bị phá sản, dẫn đến hàng triệu người bị đẩy xuống dưới ngưỡng nghèo.
Đây là vấn đề mang tính thời sự được các nhà kinh tế và công chúng rất quan tâm.
Qua đề tài “Phân biệt các nguyên nhân trực tiếp và sâu xa mang tính cơ bản của
cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ Đông Nam Á năm 1997 và năm 2008.” Để làm
rõ các nguyên nhân trực tiếp và sâu xa dẫn tới khủng hoảng tài chính, tiền tệ, từ đó rút bài
học kinh nghiệm.
1
I Khái quát chung về khủng hoảng tài chính, tiền tệ
1.Các định nghĩa khủng hoảng tài chính, tiền tệ.
Có rất nhiều định nghĩa về khủng hoảng tài chính, tiền tệ. Có sự khác nhau trong các
định nghĩa định nghĩ là do các cách tiếp cân khác nhau. trong đó có một số định nghĩa có thể
được coi là khá toàn diện vì nó hàm chứa được những nguyên nhân và biều hiện cũng như các
hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ và ngân hàng. các định nghĩa này không mâu
thuẫn với quan điểm cho rằng khu vực tài chính là bức tranh phản ánh khu vực sản xuất vật
chất (nhất là các doanh nghiệp) hay khu vực tài chính nhân hàng là hàn thử biểu của nền kinh
tế. Điều quan trọng là các định nghĩa gần đây có thể giải thích được cho những khủng hoảng
tài chính, ngân hàng mới nổ ra gần đây khi nên kinh tế thế giới đã bước sang một giai đoạn
phát triển mới.
Một số nhà nghiên cứu về khủng hoảng cho rằng nếu như các cuộc khủng hoảng cơ
cấu bao trùm khu vực sản xuất vật chất thì các cuộc khủng hoảng chực năng liên quan
đến những đổ vỡ, bất ổn định trong lĩnh vực tiền tệ, tài chính, tín dụng. Các thẻ chế và
định chế tài chính, tiền tệ đã không còn đủ khả năng để thực hiện các chức năng như giữ
vững tỷ giá hối đoái, kiểm chế lạm phát và các khoản nợ nước ngoài trong những năm
70-80, đó là sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ tín dụng thế giới va lạm phát qui mô toàn cầu.
2
Lý thuyết về khủng hoảng tiền tệ
Cách tốt nhất để tông hợp lý thuyết về khung hoảng tiền tệ là tập trung vào mô hình
của ba thế hệ. Mô hình thuộc thế hệ thứ nhất được Krugman (1979) Flood và Garber
(1984) trên cơ sở các nghiên cứu của Salant và Henderson (1978). Trong tâm của các
nghiên cứu này là ở pham vi rộng các chính sách kinh tế vĩ mô với tỷ giá hối đoái cố định
dẫn đến những tình huống không ổn định với hệ quả là sự điều chỉnh về tỷ giá. Nguyên
nhân vĩ mô của khung hoảng kinh tế có thể là tăng trưởng kinh tế quá lớn, yếu kém của
hệ thống ngân sách và kinh tế hoạt đông nghèo nàn. Trong trường hợp xảy ra khung
hoảng dự trữ ngoại hối sẽ sut giảm nhanh chóng khi những thành viên của thị trường có
khả năng dự báo rằng cơ chế tỷ giá hối đoái hiện hành sẽ không còn tồn tại lâu.
Thế hệ thứ nhất của lý thuyết khủng hoảng tiền tệ có thể hiểu theo một cách tổng quan
hơn: khủng hoảng xảy ra khi sự không đồng nhất về tỷ giá hối đoái cố định có thể tạo ra những
yếu kém về mặt cơ cấu. Chẳng hạn năng suất lao động không cải thiện dẫn đến giảm tính cạnh
tranh trong sản xuất hàng hoá làm cho mục tiêu tỷ giá không còn phù hợp. Giá xuất khẩu giảm
do những cạnh tranh mới có thể làm cho các chính sách kinh tế vĩ mô và chính sách tỷ giá trở
nên không đồng nhất. Mô hình khung hoảng thế hệ đầu tiên coi khung hoảng tiền tệ xuất phát
từ vấn đề thuộc nên tảng của nên kinh tế.
Các mô hình thế hệ thứ hai của khủng hoảng tiền tệ bắt đầu bằng các nghiên cứu
của Obsbteld (1986 và 1996). Khủng hoảng trong các mô hình này xảy ra do sự dịch
chuyển từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác như từ tỷ giá hối đoái cố
định sang tỷ giá hối đoái thả nổi hay từ tỷ giá cố định này sang tỷ giá cố định khác với tỷ
giá thấp hơn. Thí dụ như lạm phát và thất nghiệpcó phải đối đầu với đường cong truyền
thống của Phillíp. Chính phủ có thể không quan tâm đến việc duy trì một trạng thái nào
và khả năng của trạng thái cân bằng đa phương sẽ xẩy ra đồng thời với điều chỉnh tiền tệ
bất ngờ. Một thí dụ khác của khung hoảng loại này liên quan đến thâm hụt tài chính của
chính phủ dẫn đến các nhà cho vay thu hồi lại vốn và do đó gây ra sư sụp đổ của tiền tệ.
Tức là một nước có thể tự tạo ra khung hoảng sau một số hành động của các nhà đầu cơ,
trạng thái cân bằng có thể chuyển từ cơ chế hói đoái cố định sang tỷ giá thả nổi hoạc tỷ
giá cố đinh nhưng với tỷ giá thấp hơn.
hỗ trợ tài chính cho các tổ chức và doanh nghiệp này. Các nghiên cứu cho thấy một khuôn
khổ thể chế yếu kém về quản trị doanh nghiệp có thể là nguyên nhân gây ra khủng hoảng
tiền tệ trong điều kiện các công ty bị tấn công chỉ với các cú sốc nhỏ. Quan điểm này cũng
được kiểm chứng bởi các nghiên cứu thực nghiệm và cho thấy mức độ giảm giá của đồng
tiền phụ thuộc vào chất lượng của khuôn khổ thể chế.
Một hình thức khác của mô hình khủng hoảng tiền tệ gần đây nhất liên quan đến
hiện tượng tác động dây chuyền của thị trường bất động sản và thị trường tài
chính.Khủng hoảng cũng có thể xẩy ra do những cú sốc toàn cầu, chẳng hạn như sự gia
tăng của lãi suất và giá dầu thế giới có thể làm tác động đến tất cả các đối tượng của các
nước và vì vậy gây nên khủng hoảng ở phạm vi rộng. Điều này cho một giải thích khác
đối với những khủng hoảng có vẻ như là do tác động lan truyền nhưng thực chất là do
những yếu tố nên tảng. Cũng có những hình thức khác mà khủng hoảng tại một nước hay
một khu vực có thể lan truyền đến một nước hay một khu vực khác của thế giới. Chẳng
hạn, đó có thể là do các mối quan hệ thương mại bị suy giảm bởi cạnh tranh. Đó có thể là
những mối quan hệ về tài chính có liên quan đến những vân đề về đầu tư nước
ngoài (FDI), chẳng hạn như sự kiện tại Thái Lan có thể gây nên khung hoảng ở
Indonéia vì các nhà đầu tư Thái Lan rút vốn ra khỏi Indonesia. Kênh cho vay phỏ thông là
một trong những hình thức cuả loại tác động dây chuyền. Trong khung hoảng tài chính ở
châu á, Nhật Bản được coi là nước truyền những tác động dây chuyền này, trong khi Mỹ
đóng vai trò trong khung hoảng ở châu Mỹ La tinh. Khủng hoảng ở một nước có thể làm cho
các nhà đầu tư hiều một số vấn đề cơ bản của những nước tương tự. Điều đó không nhất thiết
là tác động của dây chuyền mà có thể là sự hiểu thực tế mô hình của rủi ro.
Tuy nhiên, các thị trường tài chính cũng có thể chứa đựng các yếu tố gây nên khủng
hoảng tài chính và thị trường tài chính cũng có thể đóng vai trò độc lập trong khung
hoảng tiền tệ. Điều này có thể do những vấn đề về điều phối trên thị trường tài chính
-từng thị trường có thể hành động theo quan điểm riêng nhưng tổng thể lại gây nên những
phản ứng gây nên khung hoảng như rút vốn ồ ạt khỏi ngân hàng. Mức độ của những hành
động này có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố thể chế. Sự không cân xứng về thông tin
có thể làm vấn đề thêm trầm trọng khi các nhà đầu tư hành động theo các nhà đầu tư nội
gián dường như có thông tin tốt hơn
Giá trị của đồng peso chỉ được phục hồi từ khi Gloria Macapagal-Arroyo lên làm tổng
thống.
Hong Kong
Tháng 10 năm 1997, Dollar Hong Kong bị tấn công đầu cơ. Đồng tiền này vốn được neo
vào Dollar Mỹ với tỷ giá 7,8 HKD/USD. Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát ở Hong Kong lại cao hơn ở
Mỹ. Đây là cơ sở để cho giới đầu cơ tấn công. Nhờ có dự trữ ngoại tệ hùng hậu lên tới 80 tỷ
USD vào thời điểm đó tương đương 700% lượng cung tiền M1 hay 45% lượng cung tiền M3,
nên Cơ quan Tiền tệ Hong Kong đã dám chi hơn 1 tỷ USD để bảo vệ đồng tiền của mình. Các
thị trường chứng khoán ngày càng trở nên dễ đổ vỡ. Từ ngày 20 tháng 10 đến 23 tháng 10, Chỉ
số Hang Seng đã giảm 23%.
Ngày 15 tháng 8 năm 1998, Hong Kong nâng lãi suất cho vay qua đêm từ 8% lên
thành 23% và ngay lập tức nâng vọt lên 500%. Đồng thời, Cơ quan Tiền tệ Hong Kong bắt
đầu mua vào các loại cổ phiếu thành phần của Chỉ số Hang Seng để giảm áp lực giảm giá cổ
phiếu. Cơ quan này và ông Donald Tsang, lúc đó là Bộ trưởng Tài chính và sau này làm
Trưởng Đặc khu hành chính Hong Kong, đã công khai tuyên chiến với giới đầu cơ.
Chính quyền đã mua vào khoảng 120 tỷ Dollar Hong Kong (tương đương 15 tỷ Dollar
Mỹ) các loại chứng khoán. Sau này, vào năm 2001, chính quyền đã bán ra số chứng khoáng
này và thu lời khoảng 30 tỷ Dollar Hong Kong (khoảng 4 tỷ Dollar Mỹ).
Các hoạt động đầu cơ nhằm vào Dollar Hong Kong và thị trường chứng khoán của
nước này đã ngừng lại vào tháng 9 năm 1998 chủ yếu do các nhà đầu cơ bị thiệt hại bởi
chính sách điều tiết dòng vốn nước ngoài của chính phủ Malaysia và bởi sự sụp đổ của
thị trường trái phiếu và tiền tệ ở Nga. Tỷ giá neo giữa Dollar Hong Kong và Dollar Mỹ
vẫn được bảo toàn ở mức 7,8 : 1.
Hàn Quốc
5
Hàn Quốc được xếp hạng thứ 11 trong số những nền kinh tế lớn trên thế giới. Khi
khủng hoảng xảy ra, với tình trạng kém cỏi sẵn có của hệ thống ngân hàng bắt nguồn từ những
khoản nợ kém hiệu quả rất lớn, Moody's đã hạ bậc tín dụng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3
vào tháng 11/1997 và tiếp tục hạ xuống B2 vào tháng 12.
Sự kiện này góp phần làm thị TTCK Hàn Quốc sụt giảm mạnh hơn, giảm 4% vào
mức vốn hóa thị trường thấp hơn rất nhiều). Ở thời điểm đó, mọi người đều kỳ vọng quốc
gia này tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng và trở thành nước phát triển vào năm 2020.
Vào thời điểm trước khi xảy ra khủng hoảng, KLSE Index đang ở mức 1.200, đồng
ringgit được giao dịch ở tỉ lệ 2.5:1 so với USD, lãi suất qua đêm dưới 7%. Lãi suất qua
đêm tăng từ dưới 8% lên 40%, làm cho mức đánh giá tín dụng tụt xuống và xảy ra làn
sóng bán chứng khoán và tiền tệ ồ ạt.
Cuối năm 1997, mức đánh giá tín dụng tụt xuống dưới mức bình quân cho các
khoản đầu tư không đảm bảo, KLSE mất 50% điểm, tụt xuống dưới 600, đồng ringgit
cũng mất 50% giá trị, còn 3.8 đồng đổi 1 USD. Năm 1998, GDP giảm 6,2%, đồng ringgit
mất thêm 4,7% giá trị và KLSE tụt xuống dưới 270 điểm.
Indonesia
Tháng 7, khi Thái Lan thả nổi đồng Baht, cơ quan hữu trách tiền tệ của Indonesia đã
6
nới rộng biên độ dao động của tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar Mỹ từ 8% lên 12%.
Tháng 8, đồng Rupiah bị giới đầu cơ tấn công và đến ngày 14 thì chế độ tỷ giá hối đoái
thả nổi có quản lý được thay thế bằng chế độ thả nổi hoàn toàn. Đồng Rupiah liên tục mất
giá. IMF đã thu xếp một gói viện trợ tài chính khẩn cấp cho Indonesia lên tới 23 tỷ
Dollar, nhưng Rupiah tiếp tục mất giá do đồng Rupiah bị bán ra ồ ạt và lượng cầu Dollar
Mỹ ở Indonesia tăng vọt. Tháng 9, cả giá Rupiah lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều
giảm xuống mức thấp lịch sử.Rupiah mất giá làm suy yếu bảng cân đối tài sản của các
công ty Indonesia, đặc biệt là làm cho món nợ ngân hàng nước ngoài của các công ty
tăng lên. Trước tình hình đó, nhiều công ty đẩy mạnh mua Dollar vào (có nghĩa là bán
Rupiah ra) khiến cho nội tệ thêm mất giá và tỷ lệ lạm phát tăng vọt.
Lạm phát tăng tốc cùng với chính sách tài chính khắc khổ theo yêu cầu của IMF
khiến chính phủ phải bỏ trợ giá lương thực và xăng đã khiến giá hai mặt hàng này tăng lên.
Tình trạng bạo động để tranh giành mua hàng đã bùng phát. Riêng ở Jakarta đã có tới 500
người bị chết do bạo động. Khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng xã hội đã dẫn tới khủng
hoảng chính trị. Giữa năm 1998, Suharto buộc phải từ chức tổng thống.
Trước khủng hoảng, tỷ giá hối đoái giữa đồng Rupiah và đồng Dollar vào khoảng 2000 : 1.
Nhưng trong thời kỳ khủng hoảng, tỷ giá đã giảm xuống mức 18.000 : 1.
7
Lan, Malaysia rơi vào tình trạng THTKVL ở mức báo động. Theo phân tích của IMF,
nếu thâm hụt trên mức 5% so với GDP sẻ đẩy nước này vào tình trạng khủng hoảng.
THTKVL còn có nghĩa là kinh tế đông Nam Á đã mất cân đối nghiêm trọng đối với bên
ngoài. Từ năm 1995 trở lại đây, THTKVL ở Thái Lan là 8,1%GDP năm1995 và
8,2%GDP năm1996. Tương tự, ở Malaysia là 9,7%GDP năm 1996. Đây là mức độ thâm
hụt bằng với mức mà Mexico gặp phải khi bùng nổ khủng hoảng 1994. Trong khi đó
thâm hụt ở Indonesia là 4% và Philippin là 3,2% GDP năm 1996. Các nguyên nhân chủ
yếu gây nên tình trạng thâm hụt đó là:
+ Do kim ngạch xuất khẩu của các nước từ năm 1995 đến nay giảm mạnh.
+ Do THTKVL và thâm hụt cán cân thanh toán ngày càng nghiêm trọng đã buộc
các nước trong khu vực phải vay nóng từ các khoản vay ngắn hạn của nước ngoài để bù
đắp cho những khoản chi tiêu trong nước.
*Các dòng vốn nước ngoài kéo vào
Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản
cuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nền cao quá mức. Các
nhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay đổi danh mục tài sản
của mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài. Trong khi đó, các nước châu Á lại
thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn. Lãi suất ở các nước châu Á cao hơn ở các
nước phát triển. Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt chảy vào các nước châu Á.
Ngoài ra, những xúc tiến đầu tư của chính phủ và những bảo hộ ngầm của chính
phủ cho các thể chế tài chính cũng góp phần làm các công ty ở châu Á bắt chấp mạo
hiểm để đi vay ngân hàng trong khi các ngân hàng bắt chấp mạo hiểm để đi vay nước
ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro. (Hiện tượng thông
tin phi đối xứng dẫn tới lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức.)
b- Tỷ giá hối đoái dồn nén một cách khiên cưỡng.
Nếu vấn đề nêu trên là những nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng thì các
chính sách “neo giá” giữa các đồng tiền khu vực với đồng USD, tạo nên một hệ thống tỷ
giá khiên cưỡng là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc phá giá hàng loạt các đồng tiền khu
vực. Mặc dù khởi phát từ việc thả nổi đồng baht Thái Lan dấn đến hiệu ứng lan tỏa sang
Bài học đắt giá nhất cho kinh tế mỗi nước là nếu chỉ quan tâm đến tăng trưởng nóng
mà không chú ý kiện toàn hệ thống tài chính, hệ ủa tất yếu là ngân sách nhà nước bị thâm
hụt, lạm phát tăng, nền kinh tế sớm muộn gì củng lâm vào khủng hoảng. Hệ thống ngân
hàng tài chính là một lĩnh vực hết sức nhậy cảm và chứa đựng nhiều rủi ro, chỉ cần một
tổn thương cũng gây nên những xáo trộn lớn trong quá trình điieù tiết kinh tế. Việc duy
trì quá lâu tỷ gia hối đoái cố định đã tạo nên kẻ hở trong hệ thống ngân hàng của các
nước này. Hệ thống ngân hàng hoạt động yếu kém dấn đến kẻ hở cho nhà đấu cơ tiền tệ
vay vốn để mua ngoại tệ kiếm lời. Sự tăng giá của đồng Yên Nhật so với USD khiến cho
các ngân hàng đổ xô mua nhau mua sau đó bán lại để mua USD hưởng chênh lệch giá.
Hiện tượng thất thoát vốn do đầu cơ tiền tệ ngày càng trở nên nghiêm trọng. Để duy trì
tốc độ tăng trưởng và tỷ giá hối đoái cố định ngân hàng tiếp tục vay nóng ngân hàng nước
ngoài dẫn đến giới hạn nguy hiểm khi tỷ lệ nợ vượt xa dự trữ ngoại tệ trong nước. Các chuyên
gia IMF cho biết tỷ lệ nợ /dự trữ ngoại hối ở Thái Lan, Indonêsia xấp xỉ 3 lần, Philippin gấp 4
lần, hấp nhất là Malaysia là 10 tỷ USD. Nguy hiểm hơn khi nhà đầu tư nước ngoài khẩn
trương rút vốn khi thấy có sự bất ổn.
Do thất thoát và khê đọng vốn ở thị trường bất động sản dấn đến hàng loạt ngân hàng
trong khu vực tuyên bố vỡ nợ. Điển hình như ở Thái Lan, 10 ngân hàng lớn nhất đứng trước
nguy cơ phá sản. Các Nhà đầu tư trong và ngoài nước bắt đầu có hội chứng mất dần niềm tin,
hàng loạt khách hàng rút vốn ra khỏi ngân hàng-tài chính đã làm suy giảm thị trường chứng
khoán ở các nước này.
Sau lời tuyên bố từ chức của Bộ trưởng Tài chính A. Vinavan vào cuối tháng 6/1997 khi
khủng hoảng xảy ra, giới kinh doanh đầu tư mất niềm tin làm thị trường chứng khoán Băngkok
giảm xuống ở mức thấp nhất với chỉ số 482,97 điểm, giảm 14,75 điểm so với giữa tháng 6/1997.
Các nhà đầu cơ bán hạ giá các cổ phiếu và chuyển tiền ra nước ngoài để mua USD.
Những nguyên nhân khách quan
a-Thị trường thương mại toàn cầu giảm sút, những thay đổi bất lợi của kinh tế thế giới.
Từ năm 1995 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước công nghiệp phát triển giảm
sút dẫn đến lượng cầu cũng suy giảm. Đặc biệt, những nước này là bạn hàng chủ yếu, là đối
tác kích thích quá trình tăng trưởng nóng hướng về xuất khẩu của các nước Đông Nam Á.
Những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của khu vực (điện tử, sợi, dệt) đang đứng trước nguy cơ
Jaguar. Họ mua đồng Baht sau đó Peso, Ringgit, Rupiah kể cả SGD ước tính 10-15 tỷ USD để đầu
cơ, cả dự trữ ngoại hối nhà nước cạn kiệt càng làm cho tấn công đầu cơ thêm kéo dài.
Những nguyên nhân sâu xa nói trên rồi cũng bộc lộ. Thị trường bất động sản của Thái
Lan đã vỡ. Một số thể chế tài chính bị phá sản. Người ta không còn tin rằng chính phủ đủ khả
năng giữ nổi tỷ giá hối đoái cố định. Khi phát hiện thấy những điểm yếu chết người trong nền
kinh tế của các nước châu Á, một số thể chế đầu cơ vĩ mô đã tiến hành tấn công tiền tệ châu Á.
[4] Các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút vốn ra.
Ngoại trưởng 10 nước ASEAN lúc đó tin rằng, việc liên kết các hệ thống tiền tệ chặt chẽ
là một nỗ lực thận trọng nhằm củng cố vững chắc các nền kinh tế ASEAN. Hội nghị Ngoại
trưởng ASEAN lần thứ 30 diễn ra tại Subang Jaya, Malaysia đã thông quan một Tuyên bố
chung vào ngày 25 tháng 7 năm 1997 nêu rõ mối quan ngại sâu sắc và kêu goi các nước
ASEAN cần hợp tác chặt chẽ hơn nhằm bảo vệ và tăng cường lợi ích của ASEAN trong giai
đoạn này.[6] Ngẫu nhiên là trong cùng ngày này, các Ngân hàng Trung ương của hầu hết các
nước chịu tác động của khủng hoảng đã gặp nhau tại Thượng Hải trong Hội nghị cấp cao
Đông Á Thái Bình dương EMEAP, và thất bại trong việc đưa ra một biện pháp Dàn xếp cho
vay mới. Trước đó một năm, Bộ trưởng Tài chính của các nước này cũng đã tham dự Hội nghị
Bộ trưởng Tài chính APEC lần thứ 3 tại Kyoto, Nhật Bản vào ngày 17 tháng 3 năm 1996, và
theo như Tuyên bố chung, các bên đã không thể nhân đôi được Quỹ tài chính phục vụ cho
Hiệp định chung về cho vay và Cơ chế Tài chính trong tình trạng khẩn cấp. Vì vậy, cuộc
khủng hoảng có thể xem như một thất bại trong việc xây dựng năng lực phù hợp kịp thời, thất
bại trong việc ngăn chặn sự lôi kéo tiền tệ.
Một số nhà kinh tế lại chỉ trích chính sách tài chính thắt chặt của IMF được áp dụng
ở các nước xảy ra khủng hoảng càng làm cho khủng hoảng thêm trầm trọng.
2. Diễn biến và nguyên nhân khủng hoảng tài chính năm 2008
10
A. Những mốc chính trong cuộc khủng hoảng
Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ tình trạng bong bóng của thị trường nhà đất ở Mỹ
(tình trạng này diễn ra khoảng năm 2005 - 2006) với những khoản vay dưới chuẩn có
nguy cơ rủi ro cao và các khoản thế chấp có lãi suất điều chỉnh. Từ vài năm trước đó, giá
nhà tăng cao cùng với việc được phép vay với điều kiện rất đơn giản, nhiều khách hàng
đô la với lãi suất thấp.
- Ngày 16/08: Tập đoàn tài chính Countrywide, đơn vị cho vay thế chấp lớn nhất
nước Mỹ, đã phải tránh phá sản bằng cách vay khẩn cấp 11 tỷ đô la từ một nhóm các
ngân hang khác.
- Ngày 17/08: Cục dự trữ liên bang đã phải hạ mức hệ số chiếu khấu 50 điểm cơ
bản từ mức 6.25% xuống 5.75%
- Ngày 14/09: Ngân hàng Northern Rock (Anh) đã gặp vấn đề nghiêm trọng về
khả năng thanh khoản liên quan đến khủng hoảng cho vay dưới chuẩn.
- Ngày 15–17/10: Liên minh các ngân hàng Mỹ được hỗ trợ bởi chính phủ thông báo
lập một siêu quỹ trị giá 100 tỷ đô la để mua lại các chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản
thế chấp mà giá trị thị trường đã bị sụt giảm do khủng hoảng vay dưới chuẩn. Chủ tịch Cục dự
trữ Liên bang Ben Bernake và Bộ trưởng Bộ tài chính Mỹ đều đưa ra những cảnh báo về mối
11
nguy hiểm của việc vỡ bong bóng bất động sản.
- Ngày 31/10: Cục dự trữ liên bang hạ lãi suất quỹ liên bang 25 điểm xuống 4.5%
- Tháng 11: Cục dự trữ liên bang bơm thêm 41 tỷ đô la cho các ngân hàng vay với lãi suất
thấp. Đây là lần xuất tiền lớn nhất của cục dự trữ liên bang kể từ 19 tháng 9 năm 2001 (50.35 tỷ đô la).
• Năm 2008 với những mốc đáng nhớ sau:
- Ngày 16/03: Bear Stearns bán lại cho JP Morgan Chase với giá 2 đôla một cổ
phiếu để tránh phá sản. Cục dự trữ liên bang phải cung cấp 30 tỷ đô la để trợ giúp các
khoản lỗ của Bear Stearn
- Ngày 17/07: Các ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính trên thế giới đã báo cáo
thua lỗ lên đến 435 tỷ đôla.
- Ngày 07/09: Cục dự trữ liên bang dành quyền kiểm soát hai tập đoàn Fannie
Mae và Freddie Mac
- Ngày 14/09: Merrill Lynch được bán cho Bank of America với giá 50 tỷ đô la.
- Ngày 15/9: Lehman Bothers tuyên bố phá sản. Ngay sau đó, 3 loại chỉ số ở Mỹ
bao gồm chỉ số Dow Jones, NASDAQ và S&P 500 sụt giảm mạnh nhất kể từ sau sự kiện
11/9/2001.
- Ngày 17/09: Cục dự trữ liên bang Mỹ cho AIG vay 85 tỷ đô la để giúp công ty này
12
Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu đến cho vay
dưới chuẩn sẽ sụt giảm, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt bán ra, tạo nên một áp
lực giảm giá lớn không gì cứu vãn nổi. Sau khi giá giảm đến một mức nào đó, họ sẽ mua
và trả lại nơi cho vay cộng thêm một ít phí, còn bao nhiêu tiền chênh lệch họ sẽ hưởng
trọn.
Thậm chí, họ còn áp dụng cách thức mua bán khống đến hai lần (naked short sale),
tức là không thèm vay chứng khoán nữa mà cứ ra lệnh bán theo kiểu “đánh xuống” vì lợi
dụng khe hở, mua bán ba ngày sau mới giao cổ phiếu. Bộ trưởng Tư pháp bang New
York, Andrew Cuomo than: “Họ giống như kẻ hôi của sau một cơn bão”.
• Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ
Có tiền, các công ty cứ thoải mái cho người vay bằng tiền của các ngân hàng đầu tư
cung cấp thông qua mua lại danh mục cho vay của các công ty này. Các ngân hàng này
trên cơ sở danh mục cho vay vừa mua lại sẽ phát hành CK để vay tiền. Danh mục cho
vay được chia ra, ít rủi ro, rủi ro cao, tùy định mức tín nhiệm, nhà đầu tư tha hồ lựa chọn
theo sự mạo hiểm của mình. Có loại CK không cần định mức tín nhiệm, có thể thu lãi cao
nhưng rủi ro cũng lớn.
Như vậy, rủi ro trong cho vay đã được chuyển từ bên cho vay là công ty tài chính
sang NH đầu tư. Nhà đầu tư lắm tiền trên thế giới đã đổ tiền mua CK này, nhờ vậy đã
cung cấp một lượng vốn khổng lồ cho thị trường BĐS ở Mỹ tăng nóng.
Giáo sư kinh tế Joseph Stiglitz, người được giải thưởng kinh tế Nobel kinh tế 2001,
kết luận: “Hệ thống tài chính của Mỹ đã không thực hiện được hai trách nhiệm chính của
mình đó là quản lý rủi ro và phân chia vốn. Cả hệ thống tài chính Mỹ đã không làm
những gì mà nó đáng ra phải làm - chẳng hạn như tạo ra các sản phẩm để giúp người Mỹ
quản lý được những rủi ro nguy hiểm nghiêm trọng của mình, như là giữ lại được nhà khi
mức lãi suất cho vay tăng cao hoặc khi giá nhà rớt giá”.
• Khủng khoảng niềm tin
Theo GS. Joseph Stiglitz, cuộc khủng hoảng bắt đầu tư sự sụp đổ thảm khốc của
niềm tin. Các ngân hàng đánh đố lẫn nhau về mức độ cho vay cũng như tài sản. Những
giao dịch phức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro và che giấu những trượt giá giá trị tài sản