TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng
thƣơng mại cổ phần Việt Nam trƣớc ảnh hƣởng
của cuộc khủng hoảng tài chính 2008
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thu Hà
Lớp : Anh 5
Khóa : 44
Giáo viên hƣớng dẫn : TS Nguyễn Thu Thủy
Hà Nội - 11/2009 MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
HÀNG TMCP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH DIỄN RA CUỘC
KHỦNG HOẢNG 34
1. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TMCP
VIỆT NAM 34
2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN DIỄN
RA CUỘC KHỦNG HOẢNG 36
2.1. ẢNH HƯỞNG BỞICÁC YẾU TỐ BÊN NGOÀI NGÂN HÀNG 36
2.2. ẢNH HƯỞNG BỞI CÁC YẾU TỐ BÊN TRONG NGÂN HÀNG . 38
3. ĐỐI SÁCH ĐỐI PHÓ VỚI CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA NÓ ĐẾN
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TMCP 41
3.1. ĐỐI SÁCH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 41
3.2. ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC CỦA ĐỐI SÁCH ĐẾN HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TMCP 43
3.3. ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA ĐỐI SÁCH ĐẾN HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TMCP 44
4.ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG
TMCP 48
4.1. HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN 49
4.2. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG 54
4.3. RỦI RO THANH KHOẢN 62
4.4. KHẢ NĂNG SINH LỜI 63
4.5. NHẬN XÉT CHUNG 68 1
5. TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC NGÂN HÀNG TMCP 69
5.1. TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG 695.2.
81
2. CẢNH BÁO ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG TMCP 83
III. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TMCP TRƢỚC ẢNH HƢỞNG
CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2008861. TÍNH TẤT
YẾU PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN
HÀNG TMCP 86
2. BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
NGÂN HÀNG TMCP TRƢỚC ẢNH HƢỞNG CỦA CUỘC KHỦNG
HOẢNG 86
2.1. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
NGÂN HÀNG TMCP 87
2.1.1.GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
87
2.1.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG 88
2.1.3. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG SINH LỜI 92
2.1.4. GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH THANH KHOẢN 93
2.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC NGÂN HÀNG TMCP 96
2.2.1. ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 96
2.2.2. ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG TMCP 99
KẾT LUẬN 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 107
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
MXB
Ngân hàng TMCP Mỹ Xuyên
11
nvb
Ngân hàng TMCP Nam Việt
12
nab
Ngân hàng TMCP Nam á
13
VPB
Ngân hàng TMCP Ngoài Quốc Doanh
14
vcb
Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
15
bvb
Ngân hàng TMCP Bảo Việt
16
HBB
Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội
17
hdb
Ngân hàng TMCP Phát Triển Nhà Thành Phố Hồ
Chí Minh
18
pnb
Ngân hàng TMCP Phương Nam
19
OCB
Ngân hàng TMCP Phương Đông
vab
Ngân hàng TMCP Việt á
30
eib
Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu
31
PGB
Ngân hàng TMCP Xăng Dầu
32
acb
Ngân hàng TMCP á Châu
33
SEB
Ngân hàng TMCP Đông Nam á
34
DAB
ngân hàng TMCP Đông Á
35
dcb
ngân hàng TMCP Đại Dương
36
TRB
Ngân hàng TMCP Đại Tín
37
dab
Ngân hàng TMCP Đại á
38
fcb
ngân hàng TMCP Đệ Nhất
39
DN/TSC
Tỷ lệ dư nợ/ tổng tài sản có
49
DN/VHĐ
Tỷ lệ dư nợ/vốn huy động
50
TNL
Thu nhập lãi và các khoản có tính chất lãi
51
CFL
Chi phí lãi và các khoản có tính chất lãi
52
TNR
Thu nhập tiền lãi ròng
53
CFHĐ/TNHĐ
Tỷ lệ chi phí hoạt động/ thu nhập hoạt động
54
TNL/TTN
Tỷ lệ thu nhập lãi thuần/ tổng thu nhập
55
TNDV/ TTN
Tỷ lệ thu nhập hoạt động dịch vụ/ tổng thu nhập
56
TNNH/TTN
Tỷ lệ thu nhập kinh doanh ngoại hối/ tổng thu nhập
57
TNCKĐT/TTN
Tỷ lệ thu nhập mua bán chứng khoán đầu tư/ tổng
thu nhập
nhóm 2 52
Bảng 5: Tỷ lệ cơ cấu nguồn vốn huy động 2006 - 2008 của ngân hàng TMCP
nhóm 3. 54
Bảng 6: Tăng trưởng huy động từ khách hàng, tăng trưởng tín dụng của một
số ngân hàng TMCP 2008 so với 2007 56
Bảng 7: Tỷ lệ dư nợ/ tổng tài sản, tỷ lệ dư nợ/ vốn huy động của một số ngân
hàng TMCP nhóm1, 2, 3 từ năm 2006 - 2008 58
Bảng 8: Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng của một số ngân hàng TMCP năm
2007, 2008 61
Bảng 9: Dư nợ/ vốn huy động, tăng trưởng huy động, tăng trưởng tín dụng
của một số ngân hàng TMCP năm 2006 - 2008 62
Bảng 10: ROA, ROE, chi phí hoạt động/ thu nhập hoạt động của một số ngân
hàng TMCP 2007, 2008 63
Bảng 11: Tỷ lệ cơ cấu thu nhập trên tổng thu nhập của một số ngân hàng
TMCP nhóm 1 (%) 64
Bảng 12: Tỷ lệ cơ cấu thu nhập trên tổng thu nhập của một số ngân hàng
TMCP nhóm 2 (%) 65
Bảng 13: Tỷ lệ cơ cấu thu nhập trên tổng thu nhập của một số ngân hàng
TMCP nhóm 3 năm 2007, 2008(%) 67 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Tỷ lệ tăng trưởng vốn huy động các năm, tỷ lệ vốn huy động trên
vốn chủ sở hữu của một số ngân hàng TMCP 49
Biểu đồ 2: Dư nợ tín dụng của một số ngân hàng TMCP từ 2006 - 2008 55
Biểu đồ 3: Tỷ lệ nợ xấu/ tổng tài sản của một số ngân hàng TMCP 2007, 2008
60 1
2
góc độ và phạm vi khác nhau. Tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu,
luận án nào viết về vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng
TMCP trong giai đoạn diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính thế giới hiện nay.
Chính vì thế, trong khoá luận này, tôi đã nghiên cứu hiệu quả hoạt động của
các ngân hàng TMCP Việt Nam trong giai đoạn diễn ra cuộc khủng hoảng,
thông qua bài học kinh nghiệm từ hệ thống ngân hàng sụp đổ trên thế giới đưa
ra cảnh báo cho các ngân hàng TMCP nhỏ và giải pháp để các ngân hàng
TMCP nâng cao hiệu quả hoạt động tránh được nguy cơ phá sản, giúp tồn tại
và phát triển ổn định trong giai đoạn khủng hoảng này. Do đó khoá luận
không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố.
Xuất phát từ thực tiễn đó tôi đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần
Việt Nam trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính 2008
2. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP trong
giai đoạn diễn ra cuộc khủng hoảng và nêu ra một số bài học kinh nghiệm từ
sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng trên thế giới, khoá luận đưa ra cảnh báo đối
với các ngân hàng TMCP đặc biệt là đối với một số ngân hàng TMCP vừa và
nhỏ đang có nguy cơ khủng hoảng và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng TMCP tại Việt Nam để đối phó tốt
với cuộc khủng hoảng tài chính đang tiếp tục lan sâu trên toàn thế giới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP
Việt Nam trong giai đoạn diễn ra cuộc khủng hoảng và cách thức phòng ngừa
đối với cuộc khủng hoảng này.
Phạm vi nghiên cứu
Khoá luận chủ yếu đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng
TMCP trong giai đoạn khủng hoảng tài chính từ cuối năm 2007 cho đến cuối
4
CHƢƠNG I: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI 2008
VÀ TÁC ĐỘNG TỚI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THẾ GIỚI
I. DIỄN BIẾN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG
Thị trường nhà ở của Mỹ bắt đầu bùng nổ vào năm 2001 sau sự kiện dot-
com. Sau khi đã lên đến đỉnh điểm năm 2005, thị trường bắt đầu điều chỉnh vào
năm 2005-2006. Giá nhà giảm mạnh khiến các ngân hàng bắt đầu chuyển động
sang động thái phòng ngừa rủi ro, xiết chặt tín dụng và thu hồi các khoản vay.
Hàng loạt các chủ sở hữu nhà không có khả năng thanh toán các khoản nợ cầm
cố và cũng không thể bán nhà khi giá nhà bị giảm. Tỷ lệ tịch thu nhà gán nợ
trong năm 2006 – 2007 do các chủ sở hữu nhà không có khả năng thanh toán
các khoản nợ cầm cố ngày càng gia tăng. Một số tổ chức cho vay cầm cố khi
không thu hồi được các khoản nợ cũng lâm vào tình trạng thiếu thanh khoản và
mất khả năng thanh toán. Tình trạng trên tiếp tục lan rộng ra các tổ chức tín
dụng và ngân hàng khác trên toàn nước Mỹ gây nên cuộc khủng hoảng trên
diện rộng hồi tháng 8/2007 đồng loạt trên các thị trường cho vay cầm cố, thị
trường tín dụng và toàn bộ hệ thống tài chính của Mỹ. Cuộc khủng hoảng cũng
nhanh chóng lây lan tới các nước khác trên thế giới.
Sau đây là một số mốc diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính
Tháng 6-2007: Ngân hàng đầu tư Bear Stearns của New York đứng trên
bờ vực phá sản vì lượng tiền đầu tư vào chứng khoán có thể chấp là quá lớn.
Tháng 9/2007: Ngân hàng Northern Rock của Anh bị bao vây bởi nỗi
lo lắng của các khách hàng đang gửi tiết kiệm tại đây.
6
Tháng 4/2008: IMF thông báo đã chịu thua lỗ 945 tỉ USD cho cuộc
khủng hoảng tài chính. Bộ trưởng các nước G7 họp bàn đưa ra các giải pháp
để chống lại cuộc khủng hoảng đang ngày càng lan rộng.
Tháng 7/2008: Ngân hàng cho vay thế chấp tại bang California (Mỹ)
tuyên bố phá sản. Những khó khăn của Fannie Mae và Freddie Mac ngày
càng nhiều. Kho bạc và Cục dự trữ liên bang Mỹ buộc phải đứng ra đảm bảo
cho các khoản nợ của Fannie và Freddie.
Ngày 7/9/2008: Chính phủ Mỹ nắm quyền kiểm soát Fannie và Freddie
sau khi chi 200 tỉ USD để cứu 2 ngân hàng thoát khỏi tình trạng phá sản.
Ngày 15/9/2008: Ngân hàng đầu tư Lehman Brothers tuyên bố phá sản.
Merrill Lynch bị mua lại bởi ngân hàng Mỹ (Bank of America).
Ngày 17/9/2008: Mỹ rót 85 tỉ USD giúp hãng bảo hiểm khổng lồ AIG
thoát khỏi khó khăn.
Ngày 19/9/2009: Nhà Trắng yêu cầu Quốc hội Hoa Kỳ thông qua kế
hoạch chi 700 tỉ USD giúp đỡ tất cả các công ty tài chính tránh được cuộc
khủng hoảng.
Ngày 22/9/2008: Morgan Stanley và Goldman Sachs, hai ngân hàng
đầu tư danh tiếng cuối cùng, chuyển đổi sang mô hình tập đoàn ngân hàng.
Ngày 26/9/2008: Ngân hàng Washington Mutual tuyên bố phá sản, đây
được coi là một trong những vụ sụp đổ ngân hàng lớn nhất nước Mỹ.
Ngày 29/9/2008: Kế hoạch hỗ trợ từ Chính phủ đối với các ngân hàng
chủ chốt tại Anh (ngân hàng Benelux) và tại Đức, cũng như tiếp quản một
ngân hàng tại Aixơlen.
Ngày 30/9/2008: Ngân hàng Wachovia chao đảo bên bờ vực phá sản
bắt đầu tiến hành đàm phán với Citigroup để trao quyền kiểm soát lại cho
Citigroup.
Ngày 1/10/2008: Thượng nghị viện Mỹ thông qua kế hoạch rót tiền cho
thị trường tài chính đang khủng hoảng.
cho phép các ngân hàng thương mại được tham gia vào các lĩnh vực kinh 8
doanh mạo hiểm như nghiệp vụ chứng khoán hóa và bán các khoản vay bất
động sản khiến nhiều ngân hàng đẩy mạnh cho vay bất động sản dưới chuẩn,
nhằm thu về những khoản lợi lớn.
Nguyên nhân chủ quan:
Cho vay dưới chuẩn:
Hoạt động cho vay cầm cố dưới chuẩn của các ngân hàng gia tăng
mạnh mẽ chỉ khi có sự bùng nổ thị trường nhà đất ở Mỹ cùng với việc giảm
lãi suất xuống mức thấp kỷ lục của Cục dự trữ liên bang Mỹ từ 6,5% xuống
còn 1,75% vào năm 2001. Trên thực tế các ngân hàng đều hiểu rõ hoạt động
cho vay cầm cố dưới chuẩn có rủi ro rất cao nhưng lợi nhuận béo bở từ khoản
cho vay này đã khiến cho các ngân hàng lỏng lẻo trong việc đánh giá và xét
duyệt khoản vay. Để tăng cường cạnh tranh và giữ khách, nhiều tổ chức cho
vay của Mỹ đã hạ thấp tiêu chuẩn cho vay. Trong nhiều trường hợp, các cá
nhân đã được vay tiền mà không phải trình các tài liệu chứng minh thu nhập
và bản thân những người đi vay cũng tự đặt mình vào rủi ro không có khả
năng thanh toán khi lãi suất tăng do họ đã chấp nhận các khoản vay với lãi
suất thả nổi trong một thời hạn dài. Bên cạnh đó thì ngân hàng cảm thấy yên
tâm khi cho rằng giá nhà luôn tăng cao, nếu người vay không trả được nợ thì
ngân hàng có thể dễ dàng bán được căn nhà đã thế chấp để thu hồi vốn và
đồng thời cũng có thể bán lại phần lớn các khoản vay để các công ty biến
chúng thành chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS). Chính vì thế,
các ngân hàng thương mại đã trở nên mạo hiểm hơn trong việc cho vay, bất
chấp khả năng trả nợ của người vay.
Tốc độ đổi mới và phát triển của các công cụ tài chính
Tốc độ đổi mới và phát triển nhanh chóng của các công cụ tài chính
trong vòng 10 năm qua khiến các khoản tín dụng kém tính thanh khoản trở
không được cấp phép hoạt động tiến hành cấp số lượng lớn các khoản tín
dụng dưới chuẩn.
Đánh giá tín nhiệm thiếu chuẩn xác 10
Một phần trách nhiệm của cuộc khủng hoảng này thuộc về các tổ chức
đánh giá, xếp loại tín dụng. Họ đã góp phần hợp thức hóa một sản phẩm tài
chính phái sinh có độ rủi ro cao để đưa nó vào mua bán trên thị trường tài
chính. Chính các ngân hàng đầu tư và các công ty đứng ra tổ chức bán các sản
phẩm cổ phiếu lại là người đứng ra trả tiền cho các tổ chức đánh giá tín
nhiệm. Do đó họ đã dựa vào các tổ chức đánh giá xếp loại tín dụng để “tô
hồng” các khoản vay dưới tiêu chuẩn đưa nó vào diện đáng được đầu tư. Mặc
khác, ngân hàng đầu tư còn lập ra chi nhánh là các công ty quản lý quỹ
chuyên nghiệp để mua và bán các sản phẩm phái sinh là các nghĩa vụ nợ đã
được thế chấp hóa. Từ đó, ngân hàng đầu tư làm trong sạch bảng cân đối tài
sản của mình và đẩy các rủi ro của khoản vay sang các tổ chức và cá nhân
khác. Do các nhà đầu tư đã lạc quan thái quá trước những dự báo về lợi nhuận
và đánh giá điểm tín nhiệm các tổ chức tài chính cao hơn thực tế nên các nhà
đầu tư đã đầu tư nhiều hơn vào các chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản
cầm cố dưới chuẩn (subprime mortgage) khiến thị trường nhà ở của Mỹ bùng
nổ.
Hoạt động cho vay đòn bẩy (leverage) một cách thái quá
Đây mới chính là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng hoảng tài
chính Mỹ. Đòn bẩy tài chính là quá trình công ty sử dụng vốn vay để tài trợ
cho tăng trưởng tài sản, được tính bằng tỷ lệ tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu.
2ở các ngân hàng thương mại, tỷ lệ này thường bị khống chế ở mức 12 lần,
nhưng ở các ngân hàng đầu tư, tỷ lệ này cao hơn rất nhiều và thường trên 20
lần. Từ năm 1975, các ngân hàng đầu tư không được phép có tỷ lệ đòn bẩy tài
chính cao hơn 15 lần. Tuy nhiên, từ năm 2004, ủy ban Chứng khoán Mỹ
cho phép các tổ chức tài chính phi ngân hàng hoạt động với tỷ lệ vay quá lớn.
Và rồi khi biến cố xảy ra, thị trường nhà đất đổi chiều, lãi suất của Cục
dự trữ liên bang Mỹ tăng cao để đối phó với lạm phát xảy ra ở Mỹ thì những
nguyên nhân gây nên rủi ro trên mới bắt đầu hé lộ. Cuộc khủng hoảng trên thị
trường nhà đất đã xuất hiện và lan nhanh làm cho hàng loạt công ty bất động 12
sản rơi vào phá sản, nợ xấu của ngân hàng gia tăng cao, tính thanh khoản của
ngân hàng bị đe doạ nặng nề.
Tại sao cuộc khủng hoảng lại nhanh chóng lan rộng trên phạm vi toàn
cầu chỉ trong vòng 9 tháng? Điều đó cũng đã nói lên được bản chất cơ bản
của cuộc khủng hoảng tài chính này và chính bản chất của cuộc khủng hoảng
này đã khuyếch đại cuộc khủng hoảng nhanh chóng trên quy mô rộng
Thứ nhất, Việc lạm dụng các công cụ phái sinh trong kinh doanh mà
mục đích chính để đầu cơ đã khuyếch đại giá trị của các tài sản gốc mà không
thực sự sở hữu nó. Tiêu biểu là việc sử dụng các công cụ CDOs trong việc
đầu cơ chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản dưới chuẩn. Giá trị các khoản
vay được chính thức hoá không có khả năng bù lại những rủi ro mà nó gây ra.
Thứ hai, Tính dễ chuyển đổi của các khoản vay cầm cố cùng với tham
vọng của nhà đầu tư và tổ chức tín dụng
Do tính dễ chuyển đổi của các khoản vay cầm cố thành các công cụ
phái sinh nên ngày càng có nhiều người tham gia vào mua bán các công cụ
này để kiếm lời. Không chỉ có các ngân hàng đầu tư, các công ty tài chính mà
còn có nhiều nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới tham gia mua bán để kiếm
lời. Do đó khi có rủi ro xảy ra thì nó lan nhanh trên diện rộng.
Thứ ba, Tính nhạy cảm cố hữu với biến động của ngành công nghiệp
tài chính và rủi ro liên kết giữa các ngân hàng.
các ngân hàng có mối liên kết ràng buộc với nhau rất chặt chẽ do đó khi
một ngân hàng trong hệ thống sụp đổ sẽ dẫn đến khủng hoảng niềm tin của
(MBS) (trong giai đoạn
lãi suất thấp 2002 -
2004)
- Bong bóng bất động
sản tạo điều kiện thúc
đẩy cho vay
- Giai đoạn 2004 - 2006
lãi suất tăng cao, giá bất
động sản suy giảm, tỷ lệ
vỡ nợ các khoản vay
dưới chuẩn tăng nhanh
- Khủng hoảng niềm tin
vào hệ thống tài chính. - Cung ứng thanh
khoản, hợp tác với
chính phủ, ngân hàng
Trung ương
- Tăng mức bảo hiểm
tiền gửi
- Tăng tính thanh khoản
của thị trường (thông
qua gói cứu trợ kinh tế
700 tỷ USD)
- Hỗ trợ để M&A (Bear
Stern,Washington
Mutual, Merril Lynch)
- Chính phủ cứu Fannie
Mae, Creddie Mac,
trị đồng tiền thật và không một ai có thể kiểm soát nổi do đó cuộc khủng hoảng trở
nên lan nhanh hơn và khó dự đoán hơn. Điều đó nhắc nhở cho tất cả các nước trên
thế giới cần phải theo dõi sát sao, quản lý chặt chẽ hệ thống tài chính - ngân hàng,
thị trường chứng khoán; không xài quá cái làm ra và không để nền kinh tế phát triển
quá nóng; khi xuất hiện những biểu hiện bất ổn cần tính ngay tới tác động dây
chuyền và xử lý đồng bộ chứ không thể xử lý từng khâu riêng lẻ; cần thường xuyên
theo dõi diễn biến trong nền kinh tế thế giới, nhất là các nền kinh tế lớn, đặc biệt là
kinh tế Mỹ.
15
IV. TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐẾN HỆ
THỐNG NGÂN HÀNG
1. Tác động đến hệ thống ngân hàng thế giới
1.1. Tác động đến nền kinh tế thế giới
Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ vào cuối năm 2007 đã lan
nhanh và ảnh hưởng sâu rộng, trở thành cuộc khủng hoảng lớn nhất kể từ thời kỳ
đại suy thoái 1929 - 1933. Các tác động của cuộc khủng hoảng này đã lan trên diện
rộng không chỉ trên lĩnh vực tài chính ngân hàng tại Mỹ mà tất cả các nền kinh tế,
các thị trường đều bước vào suy thoái nghiêm trọng.
Tác động đầu tiên và mạnh nhất là Hệ thống tài chính toàn cầu bị đổ vỡ
hàng loạt với số lượng các ngân hàng chủ yếu ở Hoa Kỳ, Châu Âu bị phá sản, sáp
nhập, giải thể hoặc quốc hữu hoá tăng lên nhanh chóng.
Thứ hai là, Thị trường chứng khoán thế giới rơi vào khủng hoảng và trì trệ.
Chỉ số chứng khoán của hầu hết các nền kinh tế phát triển và đang phát triển đều
giảm nghiêm trọng khoảng 30-60% trong vòng 1 năm kể từ khi khủng hoảng tài
chính chính thức bắt đầu. Mức thiệt hại đã lên tới khoảng 16-20 ngàn tỷ USD. Các