Phát thanh trong cuộc cạnh tranh với các phương tiện truyền thông đại chúng áp dụng bài học kinh nghiệm từ phát thanh của các nước phát triển vào phát thanh Việt Nam - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHÁT THANH TRONG c u ộ c CẠNH TRANH VỚI CÁC
PHƯƠNG TIỆN TRUYÈN THÔNG ĐẠI CHÚNG
(áp dụng bài học kinh nghiệm từ phát thanh của các nước phát triển
vào phát thanh Việt Nam)
Mã số: QX 2003
Họ và tên chủ trì đề tài:
TS. Đặng Thị Thu Hương
Cán bộ phối họp nghiên cứu:
Mai Phương Thúy (VOV)
Hoàng Kim Thu (VOV)
Hà Nội, tháng 3 năm 2009
M ục lục
C hương M ột: M ối quan hệ cạnh tranh và họp tác cùng tồn tại và phát triển của các 9
PTTTDC
1.2. Sự cạnh tranh giữa các PTTTD C 9
2.2. M ối quan hệ họp tác và tương tác giữa các PT TTDC 14
2 .2 .1 . B ứ c tr a n h c ù a s ự c ù n g tồ n tạ i v à p h á t triể n 14
2 .2 .2 . Đ ặ c tr ư n g k h ô n g th ề t h a y th ế c ù a m o i l o ạ i h ìn h tru y ền th ô n g 16
2 .2 .3 . N g u yê n tă c tậ n d ụ n g th ê m ạ n h c ủ a c á c p h ư ơ n g tiệ n tr u yê n th ô n g k h ác đ ể c ủ n g c ổ v ị 17
t r í củ a m ìn h
C hương Hai: Sự vận động và phát triển của phát thanh Anh và M ỹ kể từ khi ra đời 22
2.1. Sự phát triển của công nghệ phát thanh 22
2 .1 .1 . S ự ra đ ờ i c ủ a p h á t thanh 22
2 .1 .2 . S ự th a y đ ố i t r o n g k ỹ th u ậ t tr u y ề n p h á t: C u ộ c c á ch m ạ n g c ù a s ó n g F M 24
2 .1 .3. N h ữ n g b ư ớ c tiế n tr o n g c ô n g n g h iệ p th u âm 26
2 .1 .4 . S ự h ấ p d á n c ù a m á y th u th an h 29
2.2. Sự thay đổi trong cách thức công chủng nghe phát thanh 34
2 .2 .1. P h á t th a n h đ ã t r ở n ên tiệ n d ụ n g và d ê d à n g tiê p c ậ n n h ư th ế n à o 34
2 .2 .2 . Từ m ộ t p h ư ơ n g tiện ch ín h y ế u th àn h p h ư ơ n g tiện th ứ y ế u - từ m ộ t p h ư ư n g tiệ n c ủ a 36

h ình th ứ c th ê h iệ n c ủ a c á c c h ư c m g tr ìn h p h á t th an h
K ết luận: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho tính cạnh tranh của phát thanh Việt Nam 85
Các chữ viết tắt
Chủ nghĩa xã hội C N X H
Đ ài Tiếng nói V iệ t N am Đ ài T N V N
Kháng chiến chống M ỹ K C C M
Kháng chiến chống Pháp KC CP
Phương tiện truyền thông đại chúng P TT TDC
The Voice o f V iệ t N a m v o v
V iệ t N am V N
X ã hội chủ nghĩa X H C N
PHIẾU ĐĂNG KÝ
KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u CÁC ĐÈ TÀI KHCN
Tên đê tài: Phát thanh trong sự cạnh tranh vớ i các phư ơng tiện truyên th ông đại chúng
(áp dụng bài học kinh nghiệm của phát thanh ở các nước phát trie n vào phát
thanh V iệ t N am )
M ã số: Q X 2003
C ơ quan quản lí đê tài: Đ ại học Q uôc gia Hà N ộ i
Đ ịa c h ỉ: 144 đường X u ân Thủ y, cầu G iấy, I ỉà N ội
Đ iện thoại: 7548664
C ơ quan chủ trì đê tài: Kh oa Báo chí và Truyên thông
Đại học Khoa học Xã h ội và Nhân văn
Đ ịa ch ỉ: 336 Nguyễn T rãi, Thanh Xuân, Đống Đa, H à N ộ i
Tốn g ch i phí thực chi:
T rong đó: - T ừ ngân sách Nhà nước
- N guồn khác: không có
T h ời gian nạhiên cứu: 2 năm
T h ời gian băt đầu: 2003
T h ờ i gian kết thúc: 2005 (T u y nhiên do C hủ trì đề tài đ i nghiên cứu sinh 4 năm, từ 2004-
2008, nên thời gian kết thúc là vào tháng 3.2009).

- sv, học viên sau Đ H , cac ph óng viên , biên tập viên các toà soạn báo chí và những ai quan tâm
có thể tham khảo nội d u ng ngh iên cứu trong hoạt đ ộn g thực tiễn nghề nghiệp.
K iến nghị v ề quy m ô và đối tưọn g áp đ ụng kết quả nghiên cứu
- K ết quả nghiên cứ u của đề tài c ó thể đ ư ợc tham khảo ở các trường đào tạo v ề báo chí truyền
thông và phát thanh-truyền hình trong cả nước.
- Đ ồn g thời có thể là ý kiến gọi ý ch o Đ ài T iến g nói V iệt N a m cũng như các đài địa phương nhận
thức đư ọc s ự vận độn g phát triển của ngành phát thanh, và ứ ng dụng trong thiết kế nội dung,
ch ươ n g trình phát thanh hiện đại.
C hức vụ Chủ nhiệm đê tài T h ủ trưỏng cơ
quan chủ trì đề
tài
Chủ tịch Hội
đồn g đánh giá
chính thức
Thủ trưởng cơ
quan quản lí đề
tài
H ọ và tên TS. Đặn g Thị
Thu H ương
P G S .T S. Đinh
V ăn H ườn g
PG S.TS. Đ inh
Văn H ưòn g
H ọ c hàm, h ọc vị
K ý tên
Tiên sĩ
PG S. T S PG S.TS
Đ ỏn g dấu
SUMMARY
Project title: Radio in the fierce competition with other mass media (applying experiences

- Explore the strengths and weaknesses of radio in Vietnam since its inception. Examine
the changes in its position in mass media systems in Vietnam, from its inception, through
out 30 years of war, 10 years of subsidised period and at the economic renovation time.
BÁO CÁO TÓM TẮT KẾT QUÀ THựC HIỆN ĐỀ TÀI KHCN CỦA DIIQGHN
BẰNG TIẾNG ANH
Investigate its challenges and opportunities when radio has to compete with other mass
media to captuie audiences.
- Suggest solutions for Vietnamese radio in order to strengthen its position in the mass
media systems and widen its influence in the sodety and capture larger listneres.
The project explored the development of radio in developed countries, found out the
changcs and self-ajustments of radio in the UK and US in the fierce competition with
other mass media. Having investigated the complex relationships between mass media,
the project contended that mass media compete and cooperate with each other. This
complex relstionship allows mass media to co-exist and co-develop even though they
have the same functions of delivering information and entertainment. Whenever a new
medium arrives, the traditional ones will adapt and ajust themselves to the new changes
in order to continue to capture the interests of audiences.
The project also investigated the strengths and weaknesses of Vietnamese radio,
particularly in the information booming after Vietnam applied the economic renovation.
Experiences from radio in the UK and US are selected to apply to Vietnamese radio in
order to strengthen is position in the fierce competition with visual media.
4. Results obtained:
Having applied a number of methodologies, including the historical and secondary
research, online and offline surveys and focus group interview, the project obtained some
significant findings, particularly reasons for the drop in radio listeners in Vietnam in
recent years. The project also provided a number of suggestions which enable the Voice
of Vietnam strengthen its competitive capabcities, which are as follows:
The Voice of Vietnam should improve its characteristic strengths, including the intimacy,
immediacy, ubiquity, and ‘niche’ medium.
Regarding the programme content, the Voice o f Vietnam should improve the quality of

Finally, VOV should pay more attention in training and re-training staff in order to
improve the quality of radio producers, in turn, radio programmes.
BÁO CÁO TÓM TẤT KẾT QUẢ THựC HIỆN ĐỀ TÀI KHCN CỦA DHQGHN
BẰNG TIẾNG VIỆT
Tóm tắt
Tên đề tài: Phát thanh trong sự cạnh tranh với các phương tiện truyền thông khác (áp
dụng kinh nghiệm của phát thanh ở các nước phát triển vào sự phát triển của phát thanh
Việt Nam).
Mã số: QX 2003
Chủ trì đề tài: TS. Đặng Thị Thu Hương
Cơ quan chủ trì đề tài: Khoa Báo chí và Truyền thông (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn).
Cơ quan cùng thực hiện đề tài: Đài Tiếng nói Việt Nam
Thời gian thực hiện đề tài: từ 2003 đến 2009 (vì chủ trì đề tài đi nghiên cứu sinh 4 năm
tại Anh).
1. Mục đích nghiên cứu: Đề tài ‘Phát thanh trong sự cạnh tranh với các phương tiện
truyền thông đại chúng: áp dụng bài học kinh nghiệm của phát thanh Anh và Mỹ vào phát
thanh Việt Nam’ sẽ tìm hiểu sự phát triển của phát thanh ở các nước phát triển, đặc biệt là
ở Anh và Mỹ, nghiên cứu sự vận động của phát thanh trong bối cảnh cạnh tranh với các
phương tiện truyền thông khác (báo in, truyền hình và gần đây là Internet) nhằm làm sáng
tỏ nhũng bài học kinh nghiệm phù họp, có thể vận dụng vào bối cảnh truyền thông Việt
Nam, từ đó đưa ra những kiến nghị hợp lí cho sự phát triển của phát thanh Việt Nam hiện
tại và trong tương lai.
2. Đối tượng nghiên cứu: sự vận động và phát triển của phát thanh ở Anh và Mỹ khi xuất
hiện cho đến ngày nay, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh với các PTTDC. So sánh, đối
chiếu với sự phát triển của phát thanh Việt Nam để tìm ra những bài học kinh nghiệm phù
họp cho sự phát triển của phát thanh ViệtNam hiện đại.
3. Nội dung chính:
- Làm rõ sự vận động, phát triển của phát thanh trên thế giới kể từ khi phát thanh ra đời,
tìm hiểu sự điều chinh của phát thanh để thích ứng với sự thay đổi khi một PTTDC mới

Mô hình ‘cấu trúc một giờ đồng hồ chương trình’ cũng cần được tham khảo, để tạo bản
sắc riêng cho tùng kênh chương trình.
về hình thức thể hiện, do đặc trưng cơ bản của phát thanh là âm thanh tổng hợp, nên
trong quá trình sáng tạo, nhà báo phát thanh đặc biệt nên chú ý khai thác và sử dụng tiếng
động, cụ thể là sử dụng một phần các tài liệu nguyên gốc, chẳng những tạo độ tin cậy cao
mà còn góp phần đa dạng hóa âm thanh trên sóng phát thanh, tạo hiệu quả cao trong quá
trình thính giả nghe đài. Đưa tiêng nói của những con người đang trực tiếp hoạt động
sáng tạo trong các lĩnh vực đời sổng là đưa vào sản phẩm phát thanh sự vận động của đời
sổng hiện thực, góp phần tạo cho chương trình phát thanh gần gũi, thiết thực hơn.
về sản xuất chương trình, đối mới quy trình sản xuất các chương trình phát thanh, mở
rộng hình thức đọc thẳng thay cho các chương trình sản xuất theo kiểu truyền thống -
trong studio.
Đài cần đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ kỹ thuật số và công nghệ mạng
máy tính âm thanh trong việc sản xuất chương trình; xây dựng mô hình sản xuất chương
trình phù hợp với tổ chức hệ chương trình mới; thống nhất về công nghệ, quy mô và thực
hiện số hóa hệ thống lưu trữ âm thanh.
về truyền dẫn và phát sóng: Đài Tiếng nói Việt Nam cần kết hợp nhiều phương thức
truyền dẫn, phát sóng nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng phủ sóng đối nội; đầu tư,
nâng cấp, mở rộng hệ thống phát sóng đối ngoại bằng sóng ngắn kết họp phát sóng trực
tiếp qua vệ tinh; tăng cường thời lượng và số ngữ phát triển trên mạng Internet, báo điện
tử bằng công nghệ "online" và "offline".
Ngoài ra, Đài cần chú trọng hơn nữa việc đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ, tập trung sản xuất các phương tiện thu nghe chất lượng cao và
mẫu mã đẹp. Quan trọng hơn, Đài nên tiến hành thường xuyên những cuộc điều tra thính
giả để nắm rõ các đặc điểm về trình độ, lứa tuổi, giới tính, sở thích, thói quen tiếp nhận
thông tin, để sắp xếp, bố trí một cách họp lí các chương trình cũng như cải tiến nội dung
thông tin cho phù họp với nhu cầu của công chúng và sự phát triển của xã hội.
MỞ ĐÀU
Lí do lựa chọn đề tài
Xuất phát điểm đầu tiên thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu đề tài này bắt nguồn từ những

khác), phát thanh vẫn tiếp tục gặt hái thành công, và duy trì lượng thính giả đông đảo,
on định. Bất chấp số lượng ngày một gia tăng của các kênh truyền hình, các đầu báo in,
và sự phát triển rầm rộ của Internet, ở Anh, trong 10 năm qua (1992-2002), thính giả
của radio vẫn duy trì ở mức 88-90% dân số, với thời lượng nghe đài trung bình khoảng
21.5 giờ mồi tuần (McNair 2003, tr.12). Ở Mỹ, riêng trong năm 1998 đã có 58 triệu
máy thu thanh được bán, và hầu hết các gia đình đều có ít nhất 8 máy thu thanh (Mosco
2005, tr.127). Theo số liệu điều tra gần đây của Arbitron/Edison Media Research
(2006), trung bình mỗi tuần, có hơn 94% công chúng Mỹ trưởng thành, sống trong
những gia đình có thu nhập từ $75,000 trở lên nghe phát thanh. Đồng thời, 94% người
Mỹ có bằng đại học trở lên nghe phát thanh. Ở Australia, hầu như mỗi xe ô tô đều có
một máy thu thanh, và 75% tài xế luôn nghe radio khi cầm lái. Có đến 85% dân số
Australia sống trong các hộ gia đình có ít nhất 4 máy thu thanh, và mỗi tuần, một người
trưởng thành thường bỏ ra hơn 23 giờ đồng hồ để nghe radio (Lois Baird biên soạn,
tr.l). Điều đó cho thấy, phát thanh ở các nước phát triển không chỉ tồn tại mà còn gặt
hái nhiều thành công, bất chấp những dự đoán về sự suy vong của phát thanh trong thời
đại kỹ thuật số (Hendy 2000; Priestman 2002; Fleming 2002; Black 2005; Shingler &
Wieringa 1998; Pease & Dennis 1993; Masterton & Patching 2001).
Điều đáng chú ý là, xét một cách toàn diện, đời sống vật chất của công chúng ở các
nước phát triển, cũng như cơ hội tiếp cận với truyền hình và Internet của công chúng ở
các nước này luôn cao hơn (thậm chí, cao hơn khá nhiều) so với công chúng ở các nước
đang phát triển. Vậy thì, sự suy giảm của phát thanh Việt Nam ờ khu vực đô thị và
trong giới trẻ, có lẽ không phải chỉ do yếu tố về thu nhập của công chúng thính giả hay
vì họ có nhiều cơ hội tiếp cận với các kênh truyền thông bằng hình ảnh. Đi tìm hiểu
nguyên nhân thành công và hạn chế của phát thanh Việt Nam qua các thời kỳ, đặc biệt
tìm hiếu nguyên nhân dẫn đến sụ suy giảm của phát thanh trong giới trẻ và nơi đô thị
hiện nay, là một việc làm cần thiết.
2
Quan trọng hơn, cần tỉm hiểu sự phát triển của phát thanh ở các nước phát triển, (đặc
biệt là Anh và Mỹ), nghiên cứu cách thức mà phát thanh ở những nước này đã áp dụng
trong cuộc cạnh tranh quyết liệt với báo in, truyền hình, và gần đây là Internet, nhằm lí

cầu nối giữa Đảng với nhân dân' hoặc ’60 năm Tiếng nói Việt Nam’. Một số cuốn về
thể loại của phát thanh, như cuốn ‘Phát thanh’ (Phân viện Báo chí truyên truyền - Đài
Tiếng nói Việt Nam, 2002) hay ‘Phát thanh trực tiếp’ (Vũ Hiền và Nguyễn Văn Dững
chủ biên 2007) tập trung nghiên cửu về các thể loại của phát thanh hay cách thức làm
chương trinh phát thanh trực tiếp.
Cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào tìm hiểu về sự phát triển của phát
thanh ở các nước Tây Âu, nghiên cứu sự vận động của phát thanh trong cuộc cạnh tranh
với các PTTTDC khác, lí giải sự phát triển mạnh mẽ của phát thanh ở các nước này và
rút ra bài học kinh nghiệm phù hợp cho sự phát triển của phát thanh Việt Nam trong
hiện tại và tương lai.
Mục đích nghiên cửu:
Đề tài ‘Phát thanh trong sự cạnh tranh với các phương tiện truyền thông đại chúng: áp
dụng bài học kinh nghiệm của phát thanh Anh và Mỹ vào phát thanh Việt Nam’ sẽ tìm
hiểu sự phát triển của phát thanh ở các nước phát triển, đặc biệt là ở Anh và Mỹ, nghiên
cứu sự vận động của phát thanh trong bổi cảnh cạnh tranh với các phương tiện truyền
thông khác (báo in, truyền hình và gần đây là Internet) nhằm làm sáng tỏ những bài học
kinh nghiệm phù họp, có thể vận dụng vào bổi cảnh truyền thông Việt Nam, từ đó đưa
ra những kiến nghị họp lí cho sự phát triển của phát thanh Việt Nam hiện tại và trong
tương lai.
Nội dung nghiên cứu
- Làm rõ sự vận động, phát triển của phát thanh trên thế giới kể từ khi phát thanh ra đời,
tìm hiểu sự điều chỉnh của phát thanh để thích ứng với sự thay đổi khi một PTTDC mới
xuất hiện.
- Phân tích mối quan hệ cạnh tranh và tương tác giữa các PTTDC, để lí giải tại sao các
PTTDC cùng tồn tại và phát triển, cho dù chúng có cùng chức năng thông tin và giải trí,
và hiện đang phải cạnh tranh quyết liệt về công chúng tiêu thụ sản phẩm truyền thông.
- Phân tích lí giải thành công cũng như nhược điểm của phát thanh Việt Nam. Phân
tích sự biến đổi về vị trí của phát thanh Việt Nam trong hệ thống các PTTDC từ khi
4
phát thanh ra đời, cho đến khi truyền hình xuất hiện, trong giai đoạn đổi mới và thách

P h ư ơ n g p h á p đ i ề u t r a x ã h ộ i h ọ c v à đ i ề u t r a x ã h ộ i h ọ c o n l i n e
Diều tra xã hội học (survey) vẫn được coi là phương pháp quan trọng trọng nghiên cứu
định lượng (Jensen 2002, p.214). Survey là phương pháp thu thập lượng thông tin lớn
từ rất nhiều mẫu đối tượng (Hansen 1988, tr.15; Schoroder 2003, tr.225), và do vậy có
thể cung cấp một lượng biến số lớn, giúp cho nhà nghiên cứu phân tích được những
mối quan hệ đa dạng, phức tạp, liên quan chồng chéo với nhau (Williams chủ biên
1 998, tr. 35; Schoder 2003, tr. 225). Và cũng bởi vậy, đây là cách hữu hiệu để thẩm
định lại một giả thiết khoa học, hay giải đáp các vấn đề khoa học được đặt ra.
Điều tra xã hội học trực tuyến (online survey) được áp dụng manh mẽ trong những năm
gần đây, không chỉ bởi vì đó là một phương thức mới để tiếp cận công chúng, mà quan
trọng hơn, bởi vì Internet đang hình thành một nhóm công chúng truyền thông mới, có
đặc tính khác hắn với nhóm công chúng của các PTTTDC truyền thống. Do vậy, tìm
hiểu thái độ, thói quen, nhu cầu và đánh giá của nhóm công chúng mới này về các
PTTTDC truyền thống trong đó có phát thanh là một việc làm cần thiết.
Bên cạnh những ưu điểm mang tính vượt trội đó, survey cũng bộc lộ nhiều điểm hạn
Trong khi cung cấp bức tranh toàn cảnh về nhận thức, thái độ, ý kiến, thói quen, nhu
cầu của một số lượng công chúng đông đảo, survey không thể đưa ra giải đáp cho lí do
khiến họ có thái độ, thói quen hay nhận xét đó. Do vậy, nghiên cứu định lượng cần
được kết hợp với nghiên cứu định tính, để những thông tin trên diện rộng từ kết quả
phân tích số liệu từ survey được kết hợp với những nghiên cứu mang tính chiều sâu, ví
dụ như phỏng vấn nhóm.
P h ỏ n g v ẩ n n h ó m ( F o c u s G r o u p I n t e r v i e w s )
Đi tim hiểu vẩn đề công chúng hiểu thông điệp của các PTTDC ‘như thế nào’ và ‘tại
sao’ là một việc không thể thực hiện được bằng điều tra xã hội học (Hansen 1998,
tr.257). Bởi vậy, để hiểu rõ hơn về công chúng, về thái độ, quan điểm của họ đối với
các PTTDC, bẽn cạnh survey, cần có những phương pháp nghiên cứu định tính. Trong
khi làm luận án Tiến sĩ, chúng tôi đã chọn phỏng vấn nhóm là phương pháp nghiên cứu
bổ trợ cho survey.
Phóng vấn nhóm cho phép tôi được quan sát một cách tự nhiên mối quan hệ giữa công
chúng đổi với các PTTDC thông qua cuộc chuyện trò, trao đổi. Phỏng vấn nhỏm không

cơ sở truyền thông
7
- Nội dung công trình được sử dụng ở mức độ nhất định vào việc biên soạn đề cương,
bài giảng, giáo trình, các báo cáo khoa học tại các hội thảo trong nước và quốc tế.
- sv, học viên sau ĐH, cac phóng viên, biên tập viên các toà soạn báo chí và những ai
quan tâm có thể tham khảo nội dung nghiên cứu trong hoạt động thực tiễn nghề nghiệp.
Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài gồm 4 chương.
Sau phần Mở đầu, chương I của đề tài sẽ nghiên cứu sự phát triển của phát thanh trong
bối cảnh cạnh tranh thông tin với các phương tiện truyền thông đại chúng khác. Trong
khi lượng thời gian vật chất của con người là không đổi, sự phát triển bùng nổ của các
PTTTDC đã tạo nên sức cạnh tranh mạnh mẽ, và ngày càng gay gắt trong giới thông
tin. Tuy nhiên, cho dù các PTTTDC đều có chung chức năng, nhiệm vụ là chuyến tải
thông tin và giải trí cho công chúng, các kênh thông tin này không triệt tiêu nhau.
Trong thời đại của truyền hình và Internet, báo in và phát thanh ở các nước phát triển
vẫn có vị trí và thu hút lượng công chúng đông đảo. Vận dụng học thuyết của
Dimmick, chương I sẽ lí giải sự song song tồn tại của các PTTDC, và đưa ra bài học
kinh nghiệm từ lí luận, cho sự phát triển của phát thanh Việt Nam.
Chương II nghiên cứu về sự phát triển của phát thanh ở các nước phát triển như Anh,
Mỹ. Chúng tôi nhận thức sâu sắc rằng sự phát triển của truyền thông chịu ảnh hưởng
không nhỏ của thể chế chính trị, và những quy định về mặt pháp lí. Tuy nhiên, do đề tài
xác định là nghiên cứu để tìm ra những bài học kinh nghiệm phù hợp với điều kiện đặc
thù của báo chí Việt Nam, nên những yếu tố liên quan đến thể chế chính trị, và quy
định pháp luật giành cho sự phát triển của báo chí ở Anh và Mỹ, tuy có được đề cập ở
mức độ nhất định, nhung không phải là mục đích chính của đề tài. Chương II, do vậy,
sẽ khai thác sự phát triển của phát thanh ở Anh và Mỹ theo những tiêu chí sau: sự vận
dụng bước tiến khoa học kỹ thuật vào sự phát triển của phát thanh, sự thay đổi trong
cách thính giả nghe phát thanh, sự thay đổi chương trình phát thanh phù hợp với nhu
cầu mới của thính giả, và phát thanh hiện đại ờ các nước phát triển.
Chương III của đề tài sẽ phác thảo sự phát triển của phát thanh Việt Nam kể từ khi

giữa các phương tiện thông tin cho đến khi radio xuất hiện (Dimmick 2003, tr.43).
Khi radio ra đời - mặc dù giá của một chiếc radio vào thời gian đầu rất đắt đỏ, đặc biệt
đối với tầng lớp người lao động - công chúng vẫn nhiệt tình chào đón sự ra đời của loại
hình truyền thông mới mẻ (Black 1972, tr.23; Briggs 1965, tr.6; Douglas 1999, tr. 128).
Sự tác động của radio đối với báo in mạnh mẽ đến mức, đã có nhiều ý kiến cho rằng
phát thanh sẽ là sự chấm hết của báo in (Kayany và Yelsma 2000, tr.216).
10
Phát thanh ra dời không chỉ đem lại sự hứng khởi cho đông đảo công chúng đối với một
phương tiện truyền thông mới, nhanh nhạy, hiệu quả, mà còn hấp dẫn, kích thích sự
hiếu kỳ của người nghe bởi phương thức truyền thông rất sinh động, cuốn hút, nhờ vào
khả năng biểu cảm của âm thanh, lời nói, âm nhạc và các chương trình giải trí phong
phú khác.
Từ năm 1920 đến 1930, phát thanh và báo in có sự cạnh tranh quyết liệt. Vào năm
1924, một thống kê ở Mỹ cho biết có khoảng 10 triệu người Mỹ nghe kết quả bầu cử
Tồng thống qua đài. Năm đó, Mỹ có hơn 3 triệu máy thu thanh và số lượng các đài phát
thanh tăng từ 50 đài vào năm 1921 lên đến 530 đài vào năm 1924. Ngay trong cuộc
khủng hoảng kinh tế năm 1929-1930 và thời kỳ đại suy thoái sau đó, phát thanh vẫn
tiếp tục phát triển. Năm 1933, Đức cấp 5.053.000 giấy phép cho công dân được quyền
mua đài thu thanh. Trong khi ở Anh, con số này là 6.000.000 và ở Pháp là 1.308.000.
Sáu năm sau (năm 1939), con số này là 13.711.000 máy thu thanh ở Đức (tăng 217%),
8.900.000 máy ở Anh (tăng 148%) và 4.902.000 máy ở Pháp (tăng 318%) (Đặng Thị
Thu Hương 2005, tr.89).
Trước sự phát triển mạnh mẽ của phát thanh, ngành công nghiệp báo in đã có nhiều
biện pháp phản ứng chống đỡ. Phản kháng lại sự phát triển đầy tiềm năng của BBC,
ngành công nghiệp báo in ở Anh đã yêu cầu chính phủ cấm tất cả các bản tin trên phát
thanh trước 7h tối (Lax 1997, tr.24), đồng thời, không cho phép BBC được lấy bất cứ
nguồn tin nào, trừ tin từ hãng thông tấn Reuters - hãng thông tấn chỉ cung cấp tin dưới
dạng thức để in ấn hơn là dạng thức để phát trên sóng phát thanh. Trong những năm
đầu tiên khi phát thanh ra đời, nhà cầm quyền Anh còn cấm mọi binh luận, trao đổi về
chính trị và hầu hết những bài viết mang tính chính trị không được phát trên làn sóng

kéo’ (‘pull’ medium), bởi lẽ người lướt web tự quyết định loại thông tin mà họ muốn
có, đơn giản chỉ bàng một cú click ‘chuột’. Và, khá đơn giản để có thể đẩy một thông
tin lên mạng, nên sự chia sẻ thông tin giữa những người lướt web là không có giới hạn,
và bởi vậy, sự lựa chọn của công chúng online là rất phong phú. Nói cách khác, trong
khi truyền hình và phát thanh là những phương tiện ‘thụ động’, Internet là phương tiện
‘chủ động\
Trong suốt 50 năm qua, thời gian rảnh rỗi của người Mỹ, chủ yếu được ‘cống hiến’ cho
truyền hình. Thế nhưng, trong vòng hơn một thập kỷ trở lại đây, người sử dụng Internet
đã dành thời gian xem truyền hình của mình để lướt net. Quan trọng hơn, như thảo luận
trong phần trước, càng nhiều thời gian sử dụng Internet, công chúng càng dành nhiều
12
thời gian đọc báo trực tuyến để khai thác thông tin và giải trí, và vì vậy thời gian dành
cho truyền hình, cũng như dành cho các PTTTDC khác sẽ ít dần đi.
Rất nhiều nghiên cứu, như Huston (1999), Neuman (1991) Cuilenburg (trích theo
Bardoel 1996, tr.286) đã chỉ ra ràng, mỗi người chỉ có 24h/ngày cho tất cả các hoạt
động của mình. Trong khi các phương tiện TTDC không ngừng phát triển, thì thời gian
của mỗi người không đổi, và bởi vậy, khi một phương tiện mới xuất hiện, các phương
tiện truyền thông cũ đều bị thu hẹp thị trường.
Mối quan hệ giữa các PTTDC thu hút khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu,
tuy nhiên, ý kiến của họ không giống nhau. Trong khi một số nhà nghiên cứu cho rằng,
sự xuất hiện của một phưong tiện truyền thông mới không làm thay đối cơ bản diện
mạo truyền thông (trích theo Coffey và Stipp 1997, tr.61), thì nhiều nhà nghiên cứu
khác lại khẳng định cuộc cách mạng trong cách tiếp cận thông tin của công chúng sẽ
dần dần dẫn đến sự diệt vong của các loại truyền thông đại chúng cũ (trích theo Coffey
and Stipp 1997, tr.61; Stephens 1998).
Ý kiến trái ngược nhau giữa các nhà nghiên cứu truyền thông bắt nguồn từ thực tế: các
phương tiện truyền thông đại chúng cạnh tranh quyết liệt, nhưng không triệt tiêu nhau.
Không giống như những hàng hóa thông thường khác, mặc dù các PTTTDC đều có
cùng chức năng thông tin và giải trí (bởi vậy chủng cạnh tranh quyết liệt để thu hút sự
chú ý của công chủng đối với mình), các PTTTDC vẫn tồn tại và song song phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status