ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Ì S l J t £
LƯƠNG THANIi CƯỜNG
HOÀN TIIIỆN PHÁP LUẬT VỂ KHIÊU NẠI, Tố CÁO
ở N ư ớ c TA T R O N G GIAI ĐOẠN IIIỆN N A Y
Chuyên ngành:
Mã sô:
Lý luận Nhà nước
và pháp quyền
5 05 01
Luận văn: Thạc sỷ khoa học Luật
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sỹ Phạm Hỏng Tliái
3.1.1. Ticu chí đánh giá tính hoàn thiện của pháp luật vé khiếu nại, tô K9
cáo
3.1.2. Một sô phương hướng nhằm hoàn thiện hệ thống vãn bán quy ()ĩ
phạm pháp luật về khiếu nại, tô cáo
3.1.3. Những kiến nghị cụ thê nhằm góp phán hoàn thiện pháp luật vế %
khiếu nại, tô cáo
3.2. Những giải pháp đê nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác 104
giải quyết khiêu nại, tô cáo trong giai đoạn hiện nay
3.2.1. Những nguyên nhân cơ bán làm giám hiệu lực, hiệu quá công 105
tác giải quyết khiếu nại, tô cáo
3.2.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quá trong còng I 12
tác giải quyết khiếu nại, tô cáo
Kết luận 11V
Danh muc tài liêu tham khảo 123
MỚ ĐẦU
1. TÍNH CAP THIET CUA ĐÊ TAI
Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, các
quvền con người, quyền công dân ngày càng được mở rộng, Nhà nước quan
cáo của công dân, như đã hai lần ban hành pháp lệnh: Pháp lệnh xét và giải
quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1981, Pháp lệnh khiếu nại, tố
cáo của công dân năm 1991; Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 Những văn
bán quy phạm pháp luật này là những bảo đám pháp lý quan trọng để công
dân thực hiện quyển khiếu nại, quyền tố cáo. Đồng thời, Nhà nước đã có
nhiều cố gắng trên thực tế đê giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân.
Thông qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, Nhà nước đã khôi phục lại nhiều
quyển, lợi ích hựp pháp cho công dân, thu hồi nhiều tài sản cho Nhà nước bị
chiếm đoạt trái phép, từ đó góp phần củng cố trật tự pháp luật, củng cố niềm
tin của nhân dân đối với Nhà nước.
Bên cạnh những mặt đạt được, việc thực hiện quyền khiếu nại, quyền
tố cáo của công dân và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng còn nhiều
hạn chế. Thực tiễn trong những năm gần đây cho thấy số lượng đơn thư khiếu
nại, tố cáo ngày càng tăng. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo nhiều nơi giải
quyết chưa đúng và việc thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo
còn chậm, kcm hiệu lực, hiệu quả. Từ đó làm cho khiếu nại, tố cáo và công
tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đã trở thành vấn đề thời sự cấp bách, Nhà
nước và xã hội đều quan tâm. Hạn chế này xuất phát từ nhiều nguyên nhàn
như:
- Nhiều khiếu nại, tố cáo liên quan đến các vấn đề do lịch sử để lại nên
chứng cứ, tài liệu bị thất lạc, gây khó khăn cho công tác giải quyết;
- Tệ quan liêu, tham nhũng và mất dân chủ đã xảy ra ở một bộ phận
không nhỏ trong đội ngũ cán bộ các cấp;
- Trình độ, năng lực, phẩm chất của một bộ phận cán bộ, công chức
làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo còn chưa tương xứng với nhiệm
vụ
2
Trong đó một nguyên nhân hết sức quan trong là pháp luật về khiếu
nại, tô cáo của nước ta còn chưa đồng bộ. chưa thống nhất, rõ ràng, kê cá
Luật khiếu nại, tô cáo han hành năm 1998, trôn thực tế đã bộc lộ nhiều điểm
đãng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4/1998; bài "Một số vấn đề về dự
tháo Luật khiếu nại, tố cáo" của Thạc sĩ Nguyễn Văn Hựp và Trương Đắc
Linh đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4/1998. Bài:"Quyền khiếu
nại, tỏ cáo của công dân qua các Hiến pháp Việt Nam" của ông Lê Bình
Vọng, đăng trên tạp chí Thanh tra số 4/1998; bài: "Giải quyết khiếu nại, tố
cáo với yêu cầu phát huy quyền dân chủ của nhân dân" của ông Lê Đình
Đấu, Phó tổng Thanh tra Nhà nước, đăng trên tạp chí Thanh tra số 7/1998;
bài: "Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo" của ông Trần Quốc Trượng, Phó tổng Thanh tra Nhà nước đăng
trên tạp chí Thanh tra số 11/1998
Về cư bán, các tác giả nói trên mới chí đề cập đến pháp luật về khiếu
nại, tố cáo hiện hành chứ chưa đề cập một cách toàn diện về quá trình hình
thành, phát triển của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, đặc biệt là chưa đề cập
đến thực trạng và hiệu lực của Luật khiếu nại, tố cáo kể từ khi Luật khiếu nại,
tố cáo có hiệu lực đến nay. Trong hệ thống giáo trình đào tạo cử nhân luật
học, cử nhàn hành chính ở nước ta việc nghiên cứu về pháp luật về khiếu nại,
tố cáo chưa được sâu, mặc dù như trên đã nêu, pháp luật về khiếu nại, tố cáo
là một trong những báo đám pháp lý quan trọng nhất cho quyền khiếu nại,
quyền tố cáo của công dân.
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện, sâu
sắc về pháp luật về khiếu nại, tố cáo không những đáp ứng yêu cầu của thực
tiễn cần phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo, mà còn góp
phần làm sáng tỏ vé mặt lý luận về các vấn đề của pháp luật về khiếu nại, tố
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM v ụ CỦA LUẬN VĂN
Mục đích niu luận văn: Nghiên cứu pháp luật về khiếu nại, tố cáo,
luận văn góp phần làm sáng tỏ lý luận về quyền khiếu nại, quyền tố cáo,
pháp luật về khiếu nại, tố cáo, nêu và phân tích thực trạng pháp luật về khiếu
nại, tố cáo nhằm vạch ra những ưu điểm và hạn chế của pháp luật vể khiếu
nại, tố cáo, từ đó đưa ra các kiến nghị đê góp phần hoàn thiện về pháp luật về
khiếu nại, tố cáo.
cao hiệu quá công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở nước ta trong giai đoạn
hiện nay.
7. KẾT CẤU LUẬN VĂN
Luận văn gồm: Phần mớ đầu; Ba chương; Kết luận; Danh mục tài liệu
tham kháo.
6
Chương 1
NHỮNG VÂN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ KHIÊU NẠI, Tố CÁO
VÀ PHÁP LUẬT VỂ KHIẾU NẠI, Tố CÁO CỦA NƯỚC TA
1.1. KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
1.1.1. Khiếu nại và quyền khiếu nại
/./././. Khiếu nại
Trong thực tiễn giải quyết khiếu nại hiện nay ở nước ta, các cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, bên cạnh việc nhận được
các đơn khiếu nại thì còn nhận được nhiều đơn khác với nội dung khiếu nại
nhưng được dùng với nhiéu thuật ngữ khác nhau như: "đơn kêu oan", "đơn
kcu cứu khẩn cấp", "đơn trình bày” Do vậy, trước hết cần phải làm rõ thuật
ngữ "khiếu nại”.
Thuật ngữ "khiếu nại" được hiổu theo nhiều nghĩa rộng, hẹp khác
nhau.
Trong "Đại từ điển tiếng Việt" thì "khiếu nại" cổ nghĩa là: "thắc mắc,
đề nghị xem xét lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm,
đã chuẩn y" |l6-tr‘x,4>.
Một quan niệm khác là: "khiếu nại là một hình thức công dân hướng
đến các cơ quan nhà nước, hay tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ
trang khi thấy quyết định hay hành vi xâm phạm tới quyền, lợi ích của mình"
I.U .trJW I
Với tư cách là một phương thức bảo vệ quyền chủ thể thì: "khiếu nại
được sử dụng khi quyền chủ thể của bản thân công dân khiếu nại hoặc của
người do mình bảo hộ bị vi phạm do quyết định hoặc hành vi trái pháp luật
chức mà người khiếu nại cho rằng trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích
hợp pháp của mình. Việc giải quyết khiếu nại hành chính do cơ quan hành
chính nhà nước giải quyết theo trình tự, thủ tục mà pháp luật về khiếu nại, tố
cáo quy định hoặc được Toà án hành chính giải quyết theo Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án hành chính. Còn khiếu nại tư pháp là việc công dân yêu
cầu cơ quan tư pháp (Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, thi hành án).
cán bộ, công chức ngành tư pháp có thẩm quyền xem xét lại những quyết
định của cơ quan tư pháp hoặc hành vi công vụ của thẩm phán, kiểm sát viên,
điều tra viên, chấp hành viên tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử,
thi hành án trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính
theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành
chính [46',r28].
Theo chúng tôi, có một cách phân loại quan trọng là căn cứ vào tính
chất pháp lý của khiếu nại thì khiếu nại được chia thành hai nhóm lớn: khiếu
nại có tính pháp lý và khiếu nại không có tính pháp lý.
Khiếu nại có tính pháp lý là khiếu nại mà khi được thực hiện, chúng là
sự kiện pháp lý làm phát sinh các quan hệ pháp luật về khiếu nại. Khiếu nại
này có một số đặc điểm cơ bản:
- Việc khiếu nại được pháp luật điều chỉnh, quyền, nghĩa vụ của các
bên trong quan hệ khiếu nại được pháp luật quy định;
- Là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật về khiếu nại;
- Việc khiếu nại, giải quyết khiếu nại được thực hiện theo một trình tự,
thủ tục nhất định do pháp luật quy định trước.
Khiếu nại không mang tính pháp lý là khiếu nại mà việc thực hiện
chúng không làm phát sinh các quan hệ pháp luật về khiếu nại. Loại khiếu
nại này có một số đặc điểm cơ bản:
- Việc khiếu nại không được pháp luật điều chỉnh;
- Không phải là sự kiện pháp lý làm phát sinh các quan hệ pháp luật;
- Việc giải quyết khiếu nại căn cứ vào các quy phạm xã hội( của tổ
chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, đoàn thể quần chúng). Ví
khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi
ích hợp pháp của mình".
Như vậy chủ thể của quyền khiếu nại bao gồm:
- Công dân Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính.
Công dàn thực hiện quyền khiếu nại phải là người có năng lực hành vi. về
đicu kiện năng lực hành vi, nghị định 67/2001/NĐ-CP ngày 07/8/1999 quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật khiếu nại, tố cáo (từ đây trở về sau
xin gọi tắt là Nghị định 67/2001/NĐ-CP) quy định: Người khiếu nại phải là
người có năng lực hành vi đầy đủ theo quy định của Bộ Luật Dân sự hoặc là
người chưa có năng lực hành vi đẩy đủ nhưng theo quy định của pháp luật có
quyền khiếu nại; đối với công dân là người chưa thành niên, người bị bệnh
tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không the nhận thức, làm chủ được hành vi
của mình thì thông qua người đại diện theo pháp luật đê thực hiện quyền
khiếu nại; khi thực hiện việc khiếu nại, Iií>n’('ri dại diện phải có íỊÍấy tờ d ể
cliứníỊ minh với cơ quan nhủ nước có tham quyền về việc đại diện lì(/Ịj pháp
của mình.
Người ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất hoặc vì lý do khách
quan khác mà không thê lự mình khiếu nại thì có thể uỷ quycn cho người đại
diện là cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột đã thành niên để thực hiện
việc khiếu nại; việc uỷ quyền khiếu nại phái lập tlìùnlì văn bán cố xác nhận
của Uy ban nhân dân cấp xã nơi ni>ười nỷ quxền hoặc nơi nạưởi dược Í(V
quyên CƯ trú.
- Cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang
nhân dân.
- Cá nhân, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam. Mặc dù tại khoản 1, điều
1 của Luật khiếu nại, tố cáo không đề cập đến cá nhân, tổ chức nước ngoài
tại Việt Nam, song điều 101 của Luật khiếu nại, tố cáo quy định:" Việc khiếu
nại và giai quyết khiếu nại của cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài, việc tố
cáo và giải quyết tố cáo của cá nhân nước ngoài tại Việt Nam được áp dụng
theo quy định của Luật này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
- Khả năng yêu cầu các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế cần thiết đối với bên kia đê họ
thực hiện nghĩa vụ, trong trường hợp quyền chủ thể của mình bị bên kia vi
phạm.
Với cấu thành chủ thể, nội dung, đối tượng như trên quyền khiếu nại
được hiểu là một trong những quyền cơ bản của con người, của công dân, là
khả tiănạ thực hiện những hành vi nhất định do pháp luật quy định của các
cá nhân, cơ quan, tổ chức dối với các quyết định pháp luật cá biệt, hành vi
cótìíi vụ trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình nhằm
bào vệ cúc quyên, lợi ích hợp pháp của mình.
Khiếu nại với nội dung như trên khác với yêu cầu, kiến nghị của công
Kiến nghị theo một nghĩa chung nhất là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân
đưa ra các sáng kiến nhằm hoàn thiện một hoặc một số vấn đề nào đó. Dưới
góc độ pháp lý, kiến nghị là một trong các quvền cơ bán của công dân được
ghi nhận tại điều 53 của Hiến pháp 1992: "Công dân có quyền kiến nghị ".
Quvén kiến nghị lù "quyền thường được sử dụng trong hoạt động mang tính
tích cực nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước, không liên quan trực tiếp đến vi
phạm pháp luật"120'"'4771. Chủ thê của quyền kiến nghị, về nguyên tắc chung là
mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân, về nội dung, kiến nghị chứa đựng các sáng
kiến của cúc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm góp phần hoàn thiện tổ chức và
hoạt động quán lý nhà nước. Phạm vi của kiến nghị không hạn chế ở bất kỳ
lĩnh vực nào như đưa ra các sáng kiến về đổi mới tổ chức hộ máy nhà nước,
về hoàn thiện hệ thống pháp luật, về các biện pháp nâng cao hiệu lực, hiệu
quá của pháp luật, về tăng cường pháp chế
Như vậy, quyên kiến nghị là khả năììỊị của công dán dưa ra các sánq
kiến với cúc cơ quan, tó chức, cá nhân có thẩm quyền nhằm góp pliần hoàn
thiện mọi mặt hoạt íỉộ/ĩíị nhà nước hoặc về một vấn dề nào đó tro nạ đời sống
nhà nước, .vỡ hội.
Ycu cầu theo một nghĩa chung là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân đòi
hỏi các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phái thực hiện (hoặc không được thực
hỏi hợp pháp do bên yêu cầu đặt ra thì có thể việc không đáp ứng đó sẽ phát
triển trở thành hành vi vi phạm pháp luật. Trong ví dụ về cấp đăng ký kinh
doanh nêu trên, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền không cấp đăng ký
kinh doanh mà không có lý do chính đáng thì hành vi đó là hành vi vi phạm
pháp luật (hành vi không thực hiện công vụ trái pháp luật).
Từ các nội dung trên cho thấy quyền khiếu nại khác với quyền yêu
cầu, quyền kiến nghị. Quyền khiếu nại luôn đề cập đến các vi phạm pháp luật
xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại, còn
quyền kiến nghị, quyền yêu cầu thì thường không liên quan đến vi phạm
pháp luật và nếu có thì vi phạm pháp luật đó không xâm hại trực tiếp đến
quyền, lợi ích hựp pháp của người kiến nghị, ycu cầu. Nội dung các kiến
nghị, yêu cầu có phạm vi rộng hơn so với nội dung của khiếu nại. Quyền
khiếu nại còn khác quyền kiến nghị, yêu cầu ớ nguyên nhân phát sinh, mục
đích, trình tự, thủ tục giải quyết.
1.1.2. Tô cáo và quyền tỏ cáo
Ị. 1.2.1 T ố cáo
Trong Từ điển Tiếng Việt thông dụng thì tố cáo là "vạch rõ tội lỗi của
kẻ khác trước cơ quan pháp luật hoặc trước dư luận"151 Irll5n|. Dưới góc độ
khoa học luật học thì "tô cáo là việc công dân phát hiện với cơ quan nhà nước
có thẩm quvén vé việc làm trái pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức
hoặc cá nhân đã gây thiệt hại hoặc sẽ đe doạ gây thiệt hại cho lợi ích của nhà
nước, tập thể, quyền và lợi ích của công dân" 1201,47' .
Khoán 2, Điéu 2 của Luật khiếu nại, tố cáo quy định: "Tố cáo là việc
công dân, theo ihủ tục do Luật này quy định, báo cho cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ
chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe đoạ gây thiệt hại lợi ích của nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức".
Như vậy, tỏ cáo tlìực chút lủ việc côni> dân phát hiện và tliôiií> báo
chính thức với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những hành vi vi
phạm pháp luật nào đó diễn ra trong đời sống xã hội có thê hoặc không liên
Vé chủ thổ của quyền tố cáo có thể là bất kỳ ai biết được hành vi vi
phạm pháp luật đều có quyền báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyén về hành vi vi phạm pháp luật đó.
Trong một số trường hợp, người tố cáo có những nét giống với người
làm chứng trong tố tụng hình sự, đó là việc cá người tố cáo và người làm
chứng trong tố tụng hình sự đêu biết những thỏtĩiỊ tin liên quan trực tiếp đến
17 phạm pháp luật và đêu phái chiu trách nhiệm pháp lý về những thônạ tin
do mình dưa ra. Chẳng hạn điều 43 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
quy định: "Người nào biết được những tình tiết liên quan đến vụ án có thể
đưực triệu tập đến làm chứng" và họ có nghĩa vụ khai trung thực tất cả những
tình tiết mà mình biết về vụ án. Trong trường hợp người làm chứng từ chối
hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng hoặc khai báo
gian dối thì họ có thể phải chịu trách nhiệm hình sự (Ví dụ điểu 308 Bộ luật
Hình sự năm 1999 quy định tội từ chối khai báo). Một số trường hợp khác, tố
cáo còn là nghĩa vụ của công dân theo quy định của Bộ luật hình sự, trong
một số trường hợp nếu công dân không tố cáo thì họ có thể bị truy cứu trách
nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự (điều 314 Bộ luật Hình sự
năm 1999 quy định tội không tố giác tội phạm).
Đối tượng của quyền tố cáo có một phạm vi rất rộng, nó có thể là bất kỳ
một vi phạm pháp luật nào (hình sự, dân sự, hành chính, kỷ luật ) do bất kỳ
chủ thể nào thực hiện. Thông qua việc tố cáo vi phạm pháp luật, Nhà nước có
được một nguồn thông tin rất quan trọng về vi phạm pháp luật, qua đó có
được các biện pháp xử lý nhằm lập lại trật tự pháp luật. Qua thống kê hàng
năm cho thấy về tố cáo đúng chiếm 50%,có đúng có sai 20%, sai hoàn toàn
26% Những vụ việc điển hình như: thông qua tố cáo mà các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền khám phá vụ án phá rừng Tánh Linh- Bình Thuận năm
1999-2000; vụ đường liên cảng A5- thành phố Hồ Chí Minh năm 2001 Vì
vậy, tố cáo thể hiện rất rõ nét tính tích cực của công dân trong đấu tranh,
phòng chống vi phạm pháp luật. Tính tích cực này thể hiện thông qua số
lượng, chất lượng tố cáo và cùng với khiếu nại, tố cáo phản ánh hiệu lực, hiệu
cho thày vẫn có nhiều trường hợp chủ thể của tố cáo không xác định (tố cáo
giấu tên). Đối tượng của quyền khiếu nại là các quyết định pháp luật cá biệt,
hành vi công vụ trái pháp luật xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp
pháp của người khiếu nại (hoặc của người được người khiếu nại giám hộ, đỡ
đầu). Còn đối tượng của quyền tố cáo có một phạm vi rộng hơn, là mọi vi
phạm pháp luật do bất kỳ chủ thể nào thực hiện. Mục đích của việc thực hiện
quyền khiếu nại là nhằm khôi phục lại quyền, lợi ích hợp pháp của chính
người khiếu nại (hoặc của người được người khiếu nại giám hộ, đỡ đầu). Mục
đích của việc thực hiện quyển tố cáo là nhằm khôi phục lại quyền, lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân nói chung, của Nhà nước, xã hội. Thực
tiễn cho thấy, trong một số trường hợp, khi quyết định pháp luật cá biệt, hành
vi công vụ trái pháp luật nghiêm trọng xâm phạm quyển, lợi ích hợp pháp của
mình thì các cá nhân, cơ quan, tổ chức cũng sử dụng quyền tố cáo. về
nguyên tắc, với tư cách là quyền công dân, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền khiếu nại, quycn tố cáo của mình
tuỳ thuộc vào tính tích cực chính trị của họ. Nhưng tố cáo không chi là quyền
mà trong một số trường hợp còn là nghĩa vụ của công dân theo quy định của
Bộ luật Hình sự năm 1999 (điều 314). Chủ thê thực hiện quyén khiếu nại, nếu
việc khiếu nại của họ không có căn cứ pháp lý thì họ không phải chịu trách
nhiệm pháp lý. Ngược lại, chủ thê thực hiện quyển tố cáo phải chịu trách
nhiệm pháp lý về những thông tin tố cáo của mình. Ngoài ra, việc thực hiện
quycn khiếu nại. quyền tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện
theo những trình tự, thủ tục khác nhau, với những cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quycn giai quyết khác nhau.
1.1.4. Ý nghĩa của quyền khiếu nại, quyền tỏ cáo
Qua những nội dung cơ bán của quycn khiếu nại, quyền tố cáo cho
thấy quyền khiếu nại, quyền tố cáo có một ý nghĩa chính trị- pháp lý- xã hội
rộng lớn thể hiện thông qua một số mối quan hệ cư hán của quyền khiếu nại,
quyền tố cáo với các hiện tượng chính trị- pháp lý- xã hội khác.
Trong mối quan hệ với dân chủ, quyền khiếu nại, quyền tố cáo là biểu
quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của công dân khi bị các vi phạm pháp luật xâm
phạm. Nhà nước có quyền buộc các công dân phục tùng các quyết định pháp
luật, hành vi công vụ, ngược lại, công dân có quyền tự vệ hợp pháp trước các
vi phạm pháp luật mà trước hết là các vi phạm pháp luật xuất phát từ phía
Nhà nước, tức là "công dân có quyền phản kháng thông qua hoạt động khiếu
nại, tố cáo, khiếu kiện tới các cơ quan nhà nước có thẩm quyền"134 "3161. Việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo thể hiện trực tiếp sự quan tâm hay thờ ơ, có trách
nhiệm hay không có trách nhiệm của Nhà nước đối với các quyền, tự do, lợi
ích hợp pháp của công dân khi bị các vi phạm pháp luật xâm hại. Giải quyết
một cách nhanh chóng, đúng pháp luật, thực thi một cách đầy đủ các quyết
định giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có hiệu lực pháp luật cũng là sự thể hiện
bản chất nhà nước có vì dân hay không và đồng thời cũng thể hiện hiệu lực,
hiệu quả của hoạt động của bộ máy nhà nước. Thông qua các quan hệ pháp
luật về khiếu nại, tố cáo mà mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân có điều
kiện tăng cường, xích gần nhau hơn. Công dân có điều kiện tìm hiểu hoạt
động của Nhà nước, nội dung của pháp luật. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyển có điều kiện hiểu tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân
dân, tạo ra sự gắn bó giữa Nhà nước và công dân, nâng cao ý thức chính trị-
pháp lý của công dân nhưng cũng lại là sự bảo đảm sự tôn trọng công dân từ
phía Nhà nước, đòi hỏi Nhà nước phải xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp
luật.
Đồng thời, quyền khiếu nại, quyền tố cáo còn phản ánh cả mối quan
hệ giữa các công dân với nhau thể hiện qua việc các công dân khác có tạo
điều kiện để một công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của mình hay
không; thể hiện ý thức đấu tranh phòng, chống các vi phạm pháp luật xuất
phát từ phía các công dân thông qua việc tố cáo các vi phạm pháp luật.
Thông qua quyền tố cáo, Nhà nước tạo ra một cơ chế kiểm tra, giám sát lần
nhau giữa các công dân trong việc tuân thủ pháp luật.
Đối với pháp chế, kỷ luật nhà nước, việc thực hiện quyền khiếu nại,
quyền tố cáo của công dân là một trong các "phương tiện giám sát rất hiệu
từ chối cà việc thực hiện quyền khiếu nại. Bơi vì điều dó cho thấy sự quay
lưiìị> lại cùa xã hội dôi với Nliủ nước, cũnạ có nạliĩa lủ Nliủ nước k/ìôníỊ nhận
được sự ủng hộ từ phía xã hội. Vì vậy, việc công dân tích cực tham gia, tham
gia một cách đúng đắn, đầy đu quyền khiếu nại, quyền tố cáo của mình là
một dấu hiệu tốt, cùng với các biện pháp hoàn thiện hệ thống chính trị sẽ tạo
thành một hệ thống chính trị đồng bộ, gắn kết chặt chẽ, thực hiện đúng đắn
quycn lực của nhân dân.
1.2. PHÁP LUẬT VÊ KHIẾU NẠI, T ố CÁO VÀ s ự HÌNH THÀNH,
PHÁT TRIỂN CỦA NÓ
1.2.1. Quan niệm về pháp luật khiếu nại, tô cáo
Qua nội dung, ý nghĩa của quyền khiếu nại, quyền tố cáo cho thấy việc
tạo cơ sở và xác định chính xác cơ sở pháp lý cho việc thực hiện đúng đắn,
đầy đủ quyền khiếu nại, quyền tố cáo là một vấn đề hết sức quan trọng đối
với nhà nước, xã hội, công dân. Muốn có được hệ thống các cơ sở pháp lý
cho các quyền khiếu nại, quyền tố cáo thì phái có pháp luật về khiếu nại, tố
cáo và trước hết cần phải có một quan niệm về pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Để có quan niệm về pháp luật khiếu nại, tố cáo, cần phải xác định
được đối tượng điều chính của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Xác định phạm
vi điều chỉnh pháp luật là "xác định ranh giới của việc sử dụng pháp luật vào
việc điều chính các quan hệ xã hội, xác định ranh giới của " sự can thiệp
22
công khai" của nhà nước thông qua pháp luật vào sự phát triển của các quan
hệ xã hội" [22tr431J. Việc xác định chính xác phạm vi đối tượng điều chỉnh
pháp luật không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn
hết sức quan trọng. Xác định phạm vi đối tượng điều chỉnh pháp luật, một
mặt giúp cho nhà làm luật định hình được đối tượng điều chỉnh pháp luật,
nhận thức được bản chất của các quan hệ xã hội mà pháp luật dự định sẽ điều
chỉnh đế từ đó đi đến quyết định về phạm vi, mức độ can thiệp vào các quan
hệ xã hội sao cho việc điều chỉnh pháp luật đem lại hiệu lực, hiệu quả cao
nhất. Mặt khác chính nó giúp cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm