Chính sách kinh tế đối ngoại Việt Nam từ năm 1986 đến nay - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TÊ
CHÍNH SÁCH KINH T Ế Đ ốl NGOẠI VIỆT NAM
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY
Mả sô: QK 03.03
CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI:
PGS.TS KINH TẾ PHAN HUY ĐƯỜNG
CÁN BỘ THAM GIA:
1. TS KINH TÊ LÊ XUÂN BÌNH
2. TS KINH TÊ PHAN TRONG PHỨC
3. CỬ NHÂN NGUYỄN TIẾN HÙNG
ĐAI HOC cuọc GIA H À ^ cT
t a :./ ^ C K 'G J l f s T T H t J V iẼ N
_PT/fĩf
HÀ NÔI - 2004
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU

L.
1
CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TlỄN h ình t h à n h
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIEN k inh tế Đối n g o a i
.

6
1.1. Khái niệm về kinh tế đối ngoại và chính sách phát triển kinh tế đối
ngoại
6
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách kinh tế đối ngoại

18

1. Tính cấp thiết của đề tài
Giai đoạn phát triển hiện nay của nhân loại đánh dấu những bước phát
triển nhảy vọt về các mối quan hệ kinh tế sâu rộng giữa các quốc gia. Các mỗi
liên hệ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia này ngày càng xuất
hiện thêm nhiều nhân tố mới. Mặc dầu trong quá trình đó vừa có sự hợp tác,
vừa có đấu tranh, nhưng đã nổi lên một xu thế tất yếu trong quan hệ quốc tế
hiện đại, đó là xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá các nền kinh tế. Xu thế đó thể
hiện rõ nét nhất trong quá trình lớn mạnh không ngừng của các tổ chức kinh tế
thế giới và khu vực, như WTO, WB, IMF, EU, ASEAN, APEC, AU,
Chính sách kinh tế đối ngoại vừa là một khâu quan trọng của kinh tố đối
ngoại của mỗi quốc gia, vừa là một bộ phận hợp thành của chính sách kinh tế
đối ngoại, lệ thuộc rất lớn vào các yếu tố chính trị. Trong khi đó chính sách
phát triển kinh tế đối ngoại càng đi vào chiều sâu càng thây rõ đó là cá một
quá trình tham gia vào phân công lao động quốc tế nhằm khai Ihác cỏ hiệu quá
các nguồn lực của mỗi quốc gia, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội cua
mỗi nước và sự tiến bộ chung của nhân loại.
Trong sự nghiệp báo vệ và xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước Việt
Nam luôn luôn coi trọng việc mở rộng quan hệ hợp tác cùng có lợi với các
quốc gia, dân tộc trên thế giới, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa chính trị và
kinh tế trong từng giai đoạn cách mạng. Tuy có trải qua nhiều thăng trầm cùng
với sự lớn mạnh về thế và lực của đất nước, nhưng chính sách phát triến kinh té
đối ngoại của Việt Nam luôn được phát triển trên cơ sớ những quan điếm nhái
quán dưới sự lãnh đạo của Đang. Từ năm 1986 đến nay, cùng với cỏtm cuộc
đổi mới toàn diện đất nước do Đáng khới xướng, Đárm và Nhà nước la đã đẽ ra
chính sách phát triển kinh tế đối ngoại rộng mớ, đa phương hoá. đa dạng hoá
PHẦN MỚ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giai đoạn phát triển hiện nay của nhân loại đánh dấu những bước phát
triển nhảy vọt về các mối quan hệ kinh tế sâu rộng giữa các quốc gia. Các mỏi
liên hệ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia này ngày càng xuất

Tuy nhiên, trong việc thực thi sâu rộng và nhất quán chính sách phát
triển kinh tế đối ngoại vẫn còn có nhiều hạn chế. Một mặt, sức ỳ của lối tư duy
cũ nạng về dựa vào bao cấp, ỷ lại vào sự ban phát của cấp trôn của thời kỳ tập
trung quan liêu đang tồn tại trong một số người, nhất là ở các địa phương, các
ngành, do đó có lúc, có nơi vẫn còn tình trạng coi việc thực hiện chính sách
kinh tế đối ngoại là trách nhiệm của Trung ương, chưa thấy rõ vai trò tạo động
lực tăng trưởng mạnh mẽ của kinh tế đối ngoại.
Mặt khác, tình trạng sử dụng lãng phí, kém hiệu quả các nguồn lực đang
khá phổ biến, điều đó là rất nghiêm trọng khi sử dụng các nguồn ngoại lực,
nguy cơ nợ nần chồng chất, nền kinh tế mất khá năng trả nợ dần đến khúng
hoảng đang luôn luôn rình rập. Bài học của một số nước đang phát Iriển vần
còn nóng bỏng. Do đó, thu hút vốn đầu tư, đi vay để phát triển mới chí là một
khâu khởi đầu của quá trình hợp tác, vấn đề quyết định sự thành bại lại nằm ở
khâu sử dụng hiệu quả các nguồn lực ấy.
Cuối cùng, tình hình quốc tế ngày càng thể hiện có nhiều biến động và
khó lường, có cả thời cơ và thách thức đan xen, VI vậy, việc nghiên cứu
chính sách phát triển kinh tế đối ngoại ở Việt Nam'nhằm đưa ra được những
kiến giải có sức thuyết phục, có cơ sở khoa học và thực tiễn để vừa xây dựng
thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ, vừa mở rộng quan hệ quốc lế đế thu hút
ngoại lực, phát huy nội lực, chủ động hội nhập thành công với các nên kinh tế
khu vực và thế giới là rất cấp thiết. Xuất phát từ những iý do đó, lác giá chon
3
nghiên cứu đề tài Chính sách kinh tể đối ngoại Việt Nam từ năm 1986 đến
nay.
2. Tinh hình nghiên cứu
Chính sách phát triển kinh tế đối ngoại là một bộ phận quan trọng của
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và được thể hiện đầy đủ
trong các Văn kiện lớn của Đáng. Ngoài ra cũng đã có một số nhà nghiên cứu
khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau về sự phát triển của kinh tế đối ngoại
Việt Nam, như sách “Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới của Việt

tích cực, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại trong thực thi chính sách
kinh tế đối ngoại Việt Nam.
- Trên cơ sở làm rõ định hướng chính sách phát triển kinh tế đối ngoại
từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiện quả thực thi chính sách kinh tế
đối ngoại Việt Nam.
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phán mớ đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khao, các cóng
đã công bố liên quan đề tài nghiên cứu, để tài kết cấu 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành chính sách phát
triển kỉnh tê đôi ngoại.
Chương 2: Chính sách kinh tê đối ngoại Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả của chính
sách kinh tẻ đối ngoại Việt Nam.
CHƯƠNG 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HÌNH THÀNH CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TÊ Đ ối NGOẠI
1.1. Khái niệm vê kinh tế đôi ngoại và chính sách phát triển
kinh tế đôi ngoại
Loài người đã xuất hiện trong lịch sử và phát triển liên tục cho đến ngày
nay khởi nguồn cơ bản là từ quá trình lao động sản xuất, do đó có thê khảng
định hoạt động sản xuất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Sự
phát triển sản xuất của các quốc gia trong lịch sử đã đưa đến sự hình thành nền
kinh tế quốc dân thống nhất. Lực lượng sản xuất càng phát triển, sự phân công
]ao động càng mở rộng thì các hoạt động sản xuất không chí dừng lại Irong
phạm vi quốc gia mà còn vươn ra phạm vi quốc tế, và cuối cùng hình thành
nên một dạng hoạt động mới đó là kinh tế đối ngoại.
Kình tế đổi lỉíỊoại lủ một hệ thốn ọ khó tôm> hợp cúc íỊuon hệ kinh tẽ,
chính trị, xã hội và văn hoá, mù trung đó một nước tham gia dâu tư, sán xuất
và buôn bán với một hoặc nhiên nước khúc chịu sự chì phôi của tilỉữiu> tlioá
thuận song phương hay đa phương trên cơ sở bình dắng, đôi bên và các bên

1 Xem Báo Nhàn Dán hàng tháng, sò 12/1999
; Xem Ciiáo trình quán trị dự án đầu tư quốc tê và doanh nghiệp có vòn đáu tư nước ngoiii. CiS.TS Tó Xu,UI
Dân chù biên. Nxb Thòng kẽ. Hà Nội - 1998. ir 5
7
- Và cuối cùng là hình thành những pháp nhân mới có yếu tố nước
ngoài.
Xét từ góc độ sán xuất và tiêu thụ hàng lìtìá, kinh tế đối ngoại là một quá
trình phát triển làm cho nền kinh tế một nước thoát khỏi tính chất tự cung, tự
cấp, khép kín trong khuôn khổ của một quốc gia riêng lẻ để mở rộng giao lưu
buôn bán với các quốc gia khác. Như c. Mác và Ph. Ảng-ghen đã khẳng định :
"Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới " 3. Quá trình này cũng đã và
đang phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và cường độ. Chứng tỏ đây là một xu
thế tất yếu, mà động lực và là tiền đề của nó là sự phất triển va về tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất.
Vậy, nội hàm của khái niệm kinh tế đối ngoại là những hoạt động sống
của con người trong những loại hình khác nhau của các mối quan hộ kinh tố
(theo nghĩa rộng) có liên quan ít nhất hai quốc gia với nhau. Các mối quan hệ
đó phát triển từ thấp đến cao xuất phát từ yêu cầu phát triến của lực lượng sán
xuất, tính chất xã hội hoá ngày càng mang tính toàn cầu, đòi hỏi một nén kinh
tế của một quốc gia muốn phát triển hơn nữa để phát huy cao độ những lợi thế
của mình thì phải mở cửa ra bên ngoài, phát triển kinh tế đối ngoại. Sư lớn
mạnh cả về quy mô và trình độ của kinh tế đối ngoại của tuyệt đại đa số các
quốc gia trên thế giới hiện nay là quá trình phát triển có tính quy luật khách
quan chung của nhân loại.
Tuy vậy, quá trình đó, cũng như các thành tựu của khoa học, kỹ thuậl vù
công nghệ, luôn chịu ảnh hưởng mạnh của các thế chế chính trị. Bên cạnh
những cái chung, thường đã trở Ihành công ước quốc tế, vé kinh tế đối ngoại
hay cụ thế hơn nữa là trong đối xử quốc gia và quốc tế trên lĩnh vực kinh tế,
thương mại và đầu tư, thì mỗi quốc gia đều lựa chọn cho mình những hệ chính
sách riêng - chính sách phát triển kinh tế đối ni>oạị.

(Catfish), tôm như trong các vụ kiện vừa mới xẩy ra gần đây nói riêng, hay như
các cuộc chiến tranh thương mại về chuối, về thịt gà, sắt thép trước đây
Chứng tỏ nước giàu đâu phải cái gì cũng mạnh!
Lịch sử phát triển của các mối quan hệ kinh tế đối ngoại ban đầu thường
thể hiện trong giai đoạn lưu thông sản phẩm, vươn ra bán các sán pháin mình
sản xuất được hoặc mua các sản phẩm minh chưa có khả năng sán xuất, nhưng
dần dần phát triển sang các mối quan hệ phân công lao động và hợp tác quốc
tế trong đầu tư, sản xuất và trao đổi cồng nghệ, trong giao thông vận tái, thông
tin liên lạc, phân công lao động xã hội và nhiều hoạt động khác, tạo ra một
tổng thể các quan hệ kinh tế đối ngoại rộng lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống
kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội. Linh kiện để lắp ráp máy bay của hãng
Boing đang được sản xuất tại các công ty, các hãng chế tác của trên 30 quốc
gia khác nhau. Hãng xe Ford đặt cơ sở sản xuất tại Báng - cốc Thúi Lan và trốn
305 bán sản phẩm là các linh kiện, chi tiết lại nhập của Nhặt Bán. Mỗi nước
đều tham gia bằng những lợi thế riêng có của nước đó đã tạo nên nang suất và
chất lượng ngày một cao trong quá trình chuyên môn hoá vù phân công lao
động quốc tế.
Dó đó, chính sách phát triển kinh tế đối ngoại của các quốc gia cũng
ngày càng rộng mở về phạm vi tác động, chi phối, cũng như tính chất chi phối,
hình thành nên những thoả thuận, những hiệp định, hiệp ước và công ước quốc
tế, luật quốc tế (kế cả song phương và đa phương). Các mối quan hệ kinh tế
quốc tế về vật chất và tài chính, các mối quan hệ kinh tế và khoa học công
nghệ được hình thành giữa các quốc gia với nhau, giữa các quốc gia với các tổ
chức kinh tế quốc tế càng phát triển càng đưa đến sự hình thành thị Irườnu the
giới thống nhất và nền kinh tế thế giới mang tính toàn cáu. Với khoánÍZ hơn
200 quốc gia và vùng lãnh thổ cùng hàng chục ngàn tổ chức kinh te quoc ló,
1 1
các quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng đa dạng và phong phú, làm cho dời
sống kinh tế thế giới, đến lượt mình, ngày càng có ảnh hướng mạnh mẽ đôi với
sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, đó là chưa nói đến mức độ nó còn có

nên giá thành sản phẩm khác nhau. Sự trao đổi mậu dịch quốc tế phái dựa trên
mức giá quốc tế của sản phẩm, tuân theo yêu cầu của quy luật giá trị-giá cả thị
trường. Điều đó dẫn đến một trạng thái phổ biến trong các quan hệ kinh tế đối
ngoại hiện nay, đó là vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, hợp tác càng sâu sác thì
cạnh tranh cũng càng gay gắt, và ngược lại, cạnh tranh càng gay gãi đòi hỏi
các nước phải tích cực hợp tác sâu hơn, nhất là về mặl khoa học, kỷ thuật và
công nghệ. Chẳng hạn như, trong gần 4 - 5 thập niên lại đây, các nước cóng
nghiệp phát triển ráo riết đầu tư vào nhau với một lượng vốn đấu tư nước ngoài
chiếm trẽn dưới 70% tổng lượng vốn đầu tư ra nước ngoài của các nước này,
mà mục đích sâu xa của xu hướng này là để tranh thú kỹ thuật và công nghệ
của nhau, tránh sự lụt hậu về công nghệ, điều đó khó có thế đạt được khi tập
trung đẩu tư cho các nước đang phát triển có đội ngũ công nhân ít được đào
tạo, trình độ tay nghề thấp.
Mộl bằng chứng nữa là sự phân tích dựa vào lọi thứ' so sánh ilộnỊ> dã
chứng tỏ các lợi thế truyền thống về lao động ré và sẩn cỏ, lài nguyên lhiC'11
nhiên dổi dào đang lùi dần về vị trí thứ yếu, thay vào đó là yếu lố khoa học, kỹ
thuật và công nghệ, trình độ sáng tạo cúa nguồn nhân lực cíitm như của nen
kinh tế đang dần dần lên ngôi vị cao nhát trong cạnh tranh quốc tế.
Bơi vậy, phái đánh giá đúng lợi thế so sánh cúa đất nước, nám vững xu
Ihế vận dộng của thời đại, cũng như mối quan hệ cung - cẩu khi tham gia vào
13
thị trường thế giới, "biết người, biết ta", tận dụng thời cơ, khắc phục nguy cơ,
có như vậy mới có thể phát triển kinh tế đối ngoại một cách có hiệu quả nhất.
Đối với sự phát triển của nền kinh tế mỗi nước thì quan hệ kinh tế (lối
ngoại đã thể hiện vai trò là một bộ phận không thể thiếu được, là một đòn bẩy
quan trọng, một động lực mạnh mẽ cho sự cất cánh, một cầu nối giữa kinh lố
trong nước với nền kinh tế thế giới. Kinh tế đối ngoại đã và đang trở thành một
bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân do đó các mối quan hệ kinh tê
đối ngoại chịu sự tác động, quán lý rất chặt chẽ của mỗi quốc gia, đổng thời
cũng chịu sự tác động qua lại của các hệ thống quản lý của các nước khác

Ngoài ra, hai khái niệm toàn cầu hoá và hội nhập đang có ý kiến cho ràng về
thực chất là đồng nhất giống như "đo con cá sấu từ đầu đến đuôi hay từ đuôi
đến đầu". Toàn cẩu hoá bao hàm những nội dung của một quá trình phái triển
khách quan được quyết định bởi tính chất và trình độ của lực lượng sán xuất
mang tính xã hội hoá cao, toàn cầu. Hội nhập là quá trình mà một quốc gia,
một khu vực hay vùng lãnh thổ chủ động tham gia vào quá trình loàn cáu hoá.
Các mối quan hệ kinh tế đối ngoại luôn luôn gắn liền với các quan hệ
chính trị dối ngoại. Đây là các mối quan hệ chính trị cụ ihc giữa lừng nước
phán ánh lợi ích cơ bản lâu dài của mỗi nước. Cần phải biết sử dụng các mối
quan hệ chính trị - đối ngoại cho việc phát triển các mối quan hệ kinh tế đối
ngoại. Ngược lại, các mối quan hệ kinh tế đối ngoại có thể đi trước mớ đường
cho việc thiết lập các mối quan hệ chính trị đối ngoại. Trong sự phát triển kinh
tế thế giới các nước cần phải đảm bảo được nguyên tắc độc lập, tự chủ, ổn định
cho sự phát triển bền vững.
Mặc dầu sự phát triển của nền kinh tế thế iĩiới luôn da dạng và phức lạp,
nhưng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại cũng có những những quy iuặl vạn
15
động riêng với yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt, bởi vậy, chúng ta cần phái
tuân theo quy luật khách quan của sự phát triển. Mọi sự áp đặt chủ quan sẽ làm
cho các mối quan hệ kinh tế đối ngoại bị méo mó, chủ quan, duy ý chí. thường
gây hậu quả xấu và không đem lại hiệu quả kinh tế, thương mại như mong
muốn.
Xét lại toàn bộ quá trình lịch sử ra đời và phát triển của Nhà nước Nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sau ngày Cách mạng Tháng tám thành
cống, Hổ Chí Minh cũng đã tập trung suy nghĩ nhiều đến việc mớ rộng quan
hệ quốc tế nhằm đưa đất nước Việt Nam từ nghèo nàn, lạc hậu vươn lên sánh
vai cùng các cường quốc năm châu. Việc đầu tiên đã được vị Chủ tịch đầu tiên
của một nước mới dành được độc lập, vừa mới thoát khỏi cánh hàng trăm năm
bị dô hộ, bị mất tên trcn bản đổ thế giới, tiến hành là mở rộng quan hệ quốc lố,
là cử cán bộ học tập khoa học- kỹ Ihuật tiên tiến của nước ngoài (cụ thế lúc đỏ

hai phe - phe xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xồ và phe tư bản chủ nghĩa
đứng đầu là Mỹ. Mặc dầu tình hình thế giới diễn biến phức tạp, diễn ra cuộc
chiến tranh lạnh, Hồ Chí Minh vẫn cố gắng tìm cách mở rộng quan hệ với các
nước để vừa tận dụng sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước bạn Irong phe xã hội
chủ nghĩa cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bác, đổng thời
cũng tranh ihủ sự ủng hộ của toàn bộ nhân loại đối với cuộc kháng chiến chính
nghĩa của nhân dãn Việt Nam đánh đuổi sự xâm lược của Đế quốc Mỹ đe xây
dựng mặl Irận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam. Vì vậy, cách xứ lý cúa Hồ
Chí Minh có nhiều nét đặc thù, độc đáo riêng có của Việt Nam lúc bấy giời với
' xem: Hồ Chí Minh. Toàn rập, sđd, 14, tr 470
quân"(s)
17
L l'- ii i
từng đối tác tuỳ theo vị trí địa lý, quan hệ chính trị, lịch sử truyền thống giữa
Việt Nam với các đối tác, để từ đó vạch ra chính sách đối ngoại làm cơ sở cho
việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.
Ngày nay, ôn lại những điều này càng khẳng định chắc chắn thêm một
điều rằng, Hồ Chí Minh luôn mong muốn Việt Nam được đứng trong lòng bầu
bạn, nhờ mối quan hệ, giúp đỡ của bên ngoài mà kinh tế, văn hoá Việt Nam cỏ
thê nhanh chóng được nâng cao. Như vậy, mối quan hệ biện chứng giữa mớ
rộng kinh tế đối ngoại với kháng chiến và kiến quốc không những không hổ
chứa đựng mâu thuẩn, mà còn tạo điều kiện cho nhau, hỗ trợ lẫn nhau vì mục
tiêu cao cả là độc lập dân tộc và dân giàu, nước mạnh, xã hội công bàng, dân
chủ, văn minh.
1.2. Các nhân tô ánh hưởng đến chính sách kinh tế đối ngoại
ỉ .2.1. Nhân tố chính trị: Trong mối quan hộ biện chứng giữa chính sách ách
kinh tế đối ngoại nói riêng với chính sách đối ngoại của một quốc gia nói
chung cũng có nhiều biểu hiện đa dạng, muôn hình muôn ve. Một quốc gia có
duy trì được ổn định chính trị đê cùng hợp tác kinh tế binh đảng với các dán
tộc khác, các quốc gia khác trên thế giới hay không, vai trò quyết định lại nằm

chọc thủng vòng vây tứ phía của đế quốc và phong kiến, đưa Việt Nam đến với
thế giới bên ngoài. Quan hệ đối ngoại của Việt Nam lúc đó đã vượt dày Trường
Sơn đến với Thái Lan, Miến Điện, Ẩn Độ, năm 1950 lập quan hệ ngoại giao
với Trung Quốc (nước mới tuyên bố độc lặp có một năm), với Liên Xô va với
các nước dân chủ nhân dân khác.
19
Đối với sự nghiệp cách mạng của Việt Nam nói chung, chính sách đối
ngoại nói riêng, Lãnh tụ Hồ Chí Minh đóng vai trò rất quan trọng. Người tin
đặt nền móng cho nền độc lập dân tộc, đồng thời nền độc lập mới ấy đã khới
đầu cho một nền ngoại giao cách mạng, nền ngoại giao nhân dân.
Hồ Chí Minh là một trong số không nhiều những lãnh tụ cách mạng đã
bôn ba nhiều nước trên khắp thế giới trước khi tìm ra con đường cách mạng
đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Bởi vậy, trong tư tướng của Người vấn đề mở
cửa, hội nhập, nhìn thấy rõ vai trò của việc phát triển kinh tế đối ngoại đối với
cuộc kháng chiến và kiến quốc đã sớm hình thành.
Ngay từ năm 1919, khi thực dân Pháp cố kết với phát xít Nhật để cùng
khai thác Đông Dương, Hồ Chí Minh đả có một nhận định rằng, xét vé nguyên
tắc, tiến bộ chung phụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc lế và văn minh
chỉ có lợi khi các quan hệ quốc tế được mở rộng và tăng cường. Trên quan
điểm đó, một mặt, Người tố cáo, phê phán bọn thực dân Pháp nhân nhượng
cho bọn tư bản Nhật vào Đông Dương, làm người “dân bán xứ sẽ sống ngày
càng khốn đốn hơn”, mặt khác, Người vẫn cho ràng: “ là phi lý nếu nghĩ rằng
hai dân tộc láng giềng như dân tộc An Nam và dân tộc Nhật Bán lại có Ihế cứ
tồn tại biệt lập đối với nhau”(6).
Tư tưởng Hổ Chí Minh luôn khuyến khích các dân tộc phái mớ cứa giao
lưu, quan hệ bình đẳng, cùng có lợi và kịch liệt phê phán tư tướng hiệt lập giữa
dân tộc này với dân tộc khác. Cũng với tinh thần ây, trong một lán trá lời
phỏng vấn nhà báo Mỹ, Oan-tơ Bờ-rit, Hồ Chí Minh khẳng định: “ Một khi dã
độc lập, Việt Nam sẽ đứng với tất cá các bầu bạn”(7), hoặc khi trả lời nhà báo
Mỹ Stan-dơ-lây Ha-ri-son, Hồ Chí Minh đã nói: “Việt Nam sẽ giao dịch với tất

tế quốc dân, một thực thể khách quan của nền kinh tế.
1.2.4. Sự phủi triển không đểu vé lực lượnỵ sán xuất: Theo c. Mác, các
xã hội khác nhau không phải ở chỗ sản xuất ra cái gì, mà điổu quan trọng !à
sản xuất bằng cái gì. Như vậy, nhận biết được sự phát triển của xã hội, nhận
biết được sự phát triển của con người, người ta có thể dựa vào việc đánh giá
trình độ của công cụ lao động. Công cụ lao động do con người sáng tạo ra nên
nó gắn liền với trình độ lao động của con người, gắn liền với trình độ phát triển
của khoa học, kỹ thuật và công nghệ.
Như đã phân tích ở trên, các mối quan hệ kinh tế quốc dân ban đầu dựa
trên sự khác biệt vể điều kiện tự nhiên, song do sự phát tricn không đcu của lực
lượng sản xuất đã làm nảy sinh những khác biệt mới VC Irình độ công nghệ và
kỹ thuật, sự chênh lệc về năng suất lao động và giá thành sán phám dã làm
xuất hiện lợi thế mới của mỗi quốc gia. Điều này cho phép và đòi hỏi mồi
quốc gia phái phái huy triệt đê lợi thế so sánh của mình trong quan hệ kinh tẽ
quốc tế. Phai sản xuất ra nhiều hàng hoá có chất lượng cao và giá Ihành hạ đế
trao đổi lấy những hàng hoá khác mà bán thân không thê sán xuất được hoặc
sán xuất với giá thành cao hơn, chất lượng lại kém hơn.
Nhật Bản hầu như không có tài nguyên thiên nhiên phong phú như nhiéu
quốc gia đang phát khác, nhưng nhờ có chính sách phát Iriển thích hợp, khai
thác triệt để lợi thế so sánh, nên trong vòng vài ba chục năm sau kết thúc
Chiên tranh thế giới lần thứ hai đã vượt lên thành cường quốc vé kinh té, mà
chủ yếu dựa vào nhập kháu nguyên, nhiên vật liệu dế chế tác xuál khau. Mãng
General Elcclric hay IBM có ihế tự sán xuất đẩu video ớ nước Mỷ nêu họ
muôn, nhưng họ không thê sản xuất chúng đủ rẻ đến mức có ihế cạnh iranh với
Nhạt Bán như hãng Sony Vì vậy, Mỹ nhập khẩu toàn bộ đầu video trong khi
đó hãng máy bay Boeing của Mỹ lại chiếm lĩnh thị trường thế giới. Ngay bán
thân mỗi chiếc máy bay của hãng Boeing cũng đã bao gồm linh kiện được sán
xuất tại mấy chục quốc gia khác nhau.
ỉ .2.5. Khai thác lợi thế so sánh trong kinh tê dôi mịoạì: Xu hướng này ày
ngày càng trở thành yếu tố chi phối động thái phát triển cúa các quan hệ kinh

quốc tế trong từng quốc gia và giữa các quốc gia với nhau. Đây là ycu cáu tất
yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất, hình thành tính quy luật của quá trình
phân công lao động xã hội trên phạm vi rộng lớn, vượt ra khỏi biên giới quốc
Có các hướng chuyên môn hoá khác nhau như chuyC'11 món hoá giữa các
ngành, chuyên môn hoá theo từng sán phẩm (nội bộ ngành) và Iheo dây
chuyền công nghệ. Ban đầu, sự phân công chuyên môn hoá là xuất phát từ điều
kiện tự nhiên. Khi việc chuyên môn hoá đã đạt đến trình độ phát triển cao, (li
vào chiều sâu thì nó chủ yếu lại dựa trên thế mạnh về công nghệ của từng quốc
Quá trình phân công lao động quốc tế diễn ra trên cơ sở các quy luật
khách quan nhằm đảm bảo sự vận động liên tục của các yếu tố cơ bản của tái
sản xuất và kết quả của chúng, đó là các dòng vận động của công cụ lao động,
của vốn và tiền tệ, dòng vận động của các sán phẩm và dịch vụ Sư phân
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status