LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC
VÀ KĨ THUẬT VIỆT NAM
VIỆN KINH TẾ SINH THÁI
ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
DỰ ÁN
“Đánh giá tiềm năng và tổ chức áp dụng mô hình trồng cây dược liệu
trên địa bàn huyện Sóc Sơn”
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
Quy trình kĩ thuật trồng cây dược liệu tại địa bàn huyện Sóc
Sơn
Cây Cúc hoa
Người viết: KS. Tạ Văn Vạn
MỤC LỤC
!"#$"%"&$"'(")*
+%",$ $/0#12"34*5#*6$/-7$/
(8+%",$ $/0#12"34*9
:86$/-7$/9
;<=
!")$5.$/2>?$/=
@4$/5(2"A@572>?$/=
(8@4$/9=
:8"B$/@4$/56C$":D$/%"EF$/%"G%2G*"*"?@5#/@B1*#$"=
"A@572>?$/H
IJ22>?$/5#KL2"3,20#1MJ20N$034$/O
="B$:'$5#KL2"3,2:'$%"B$O
40
H
56
O
3
, có cấu trúc
tương tự flavoxanthin.
Chrysanthemin (asterin, kuromamin) là một glucosid gồm cyanidin và
glucosa dạng chlorid.
Trong hoa còn có: Các sắc tố vàng có luteolin dưới dạng glucosid; các
hydrocarbon; các axit amin, adenin, cholin…; vitamin A và tinh dầu.
Trong tinh dầu thấy có D – camphor.
2. Bộ phận dùng làm thuốc và công dụng
a) Bộ phận dùng làm thuốc:
Bộ phận dùng làm thuốc là hoa (Flos Chrysanthemii).
b) Công dụng:
Theo y học cổ truyền
Cúc hoa vàng có vị hơi ngọt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt,
giải cảm, tán phong thấp, giảng hỏa, giải độc, làm sáng mắt.
Cúc hoa vàng được dùng chữa các chứng cảm lạnh, sốt, hoa mắt, chóng
mặt, nhức đầu, đau mắt đỏ, chảy nhiều nước mắt, mờ mắt, huyết áp cao, đinh
độc, mụn nhọt sưng đau. Uống lâu thấy lợi khí huyết, làm trẻ lâu. Có thể dùng
riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác, có thể ngâm rượi, chề ướp và dùng
ngoài để chữa mụn nhọt.
Theo một số tài liệu nước ngoài, ở Ấn Độ, Cúc hoa được coi có tác dụng
làm dễ tiêu, nhuận tràng. Ở Trung Quốc, Cúc hoa được dùng để chữa đau dây
thần kinh, nhức đầu, chóng mặt, cao huyết áp, hoặc dùng ngoài để chữa viêm
mủ da và một số bệnh ngoài da khác. Ở Nhật Bản, Cúc hoa được dùng chữa các
bệnh về mắt
Theo y học hiện đại
Phương pháp nhân giống hiện nay chủ yếu bằng cách tách chồi và giâm
cành.
b) Nhân giống vô tính bằng phương pháp tách chồi và giâm cành.
•Trước khi thu hoạch Cúc hoa, quan sát trên ruộng sản xuất chọn các cây
sinh trưởng khỏe, nhiều cành, nhiều hoa, hoa to, sạch sâu bệnh, chọn đánh dấu
để làm giống cho vụ sau.
•Sau khi thu hoạch xong Cúc hoa, từ những cây giống đã lựa chọn, cắt bỏ
cây mẹ, để lại gốc, chăm bón sau thời gian cây sẽ mọc chồi. Tưới nước giữ ẩm,
làm cỏ, chăm sóc bón phân thúc khi cây con bằng kali clorua (2kg/1 sào Bắc
Bộ) hoặc tro bếp (20kg/1 sào Bắc Bộ) để giúp chồi phát triển tốt. Khi cây cao 10
– 15 cm (1,5 – 2 tháng tuổi) là đủ tiêu chuẩn đánh cây đi trồng. Một thực
nghiệm về thời gian cắt cây cho thấy: Cắt cây ngay sau khi thu hoạch hoa Cúc tỷ
lệ nảy chồi đạt tới 93%, số chồi trên 1 cụm cây đạt 43 chồi. Cắt cây muộn sau
thu hoạch hoa 1 tháng không những tỷ lệ nảy chồi thấp (64%) mà số chồi trên 1
cụm cây cũng chỉ đạt 21 chồi. Về vị trí cắt, kết quả cũng cho thấy: Cắt sát gốc là
tốt nhất, tỷ lệ nảy chồi đạt 96% và số chồi trên cụm cũng cao 45 chồi.
•Ngoài ra, cũng có thể sử dụng cây mẹ để dùng làm hom thân giâm cành
nhân giống. Sau khi thu hoạch xong Cúc hoa, từ những cây giống đã lựa chọn
cắt thành từng đoạn để giâm cành làm giống. Trên thân cây mẹ có thể sử dụng
cả 3 đoạn thân (ngọn, giữa và gốc) để giâm. Tuy nhiên, kết quả thực nghiệm cho
thấy: Sử dụng đoạn thân làm cành giâm là tốt nhất, tỷ lệ ra rễ đạt 100%, khối
lượng khô trung bình của bộ rễ đạt 20,3mg trong lúc đó phần giữa và gốc thân tỷ
lệ ra rễ chỉ đạt 75 – 80 %, khối lượng khô trung bình của bộ rễ đạt 17 – 19g.
•Để nhân nhanh lượng cây giống Cúc hoa phục vụ sản xuất, hiện nay ở
một số phòng thí nghiệm người ta cũng đang sử dụng phương pháp nuôi cấy in
vitro cho cây giống sạch sâu bệnh và sinh trưởng khỏe. Tuy nhiên,do giá thành
cây giống cao nên trong sản xuất cần kết hợp sử dụng phương pháp này để phục
tráng giống, lưu giữ và nhân giống Cúc hoa cho sản xuất.
3. Thời vụ trồng
Thời vụ trồng Cúc hoa vàng tốt nhất từ 15/6 – 30/6 dương lịch, cho thu
thu
(tấn/ha)
15/6 86,7 7 197 69,1 189,8 11,16
30/6 87,9 6 202 69,7 191,5 11,49
15/7 87,1 6,5 210 74,2 173,1 7,92
(số liệu trung bình 2 năm)
Kết quả thí nghiệm trên cho thấy, thời vụ trồng cây Cúc hoa ở vùng đồng
bằng Bắc Bộ tốt nhất là từ 15/6 đến 30/6. Trồng muộn (sang tháng 7) sẽ làm
giảm năng suất, nhưng nếu trồng sớm hơn sẽ ảnh hưởng đến cây trồng trước
trong hệ thống luân canh hai vụ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.
4. Đất trồng và kỹ thuật làm đất lên luống
- Chọn đất màu, tơi xốp, nhiều dinh dưỡng chủ động tưới tiêu. Các loại đất
phù sa ven sông, đất pha cát, thịt nhẹ độ pH ≈ 7 để trồng Cúc hoa vàng. Đất phải
xa khu công nghiệp, bệnh viện, nghĩa trang, xa nguồn nước thải và chất thải, xa
đường quốc lộ ít nhất 100m. Có lịch sử sạch ít nhất 2 năm trước đó, không có
gia súc, gia cầm thâm nhập.
- Làm đất: Cày bừa cho phẳng mặt ruộng. Lên luống rộng 2m, cao 15 – 20
cm so với mặt ruộng, rãnh rộng 40 cm (dùng cào răng gom đất 2 bên mép luống
vào giữa, tạo độ dốc vừa phải cho dễ thoát nước).
Một nghiên cứu về độ rộng luống khi trồng Cúc hoa trong 2 năm (2002 –
2003) cho kết quả:
Chỉ tiêu
Công
Thức
Đường
kính
hoa
(cm)
Khối
lượng
Phân đạm 270 – 330 21 – 26 100
Phân lân 180- 220 35 – 45 100
Phân kali 180 – 220 11 – 13,5 100
•Để nâng cao hiệu quả của phân bón, cần ủ phân chuồng với phân lân
trước khi trồng 1 – 2 tháng.
•Có thể dùng dạng phân bón tổng hợp NPK hoặc dùng các dạng N, P, K
riêng rẽ đều được.
•Trong điều kiện không có phân kali có thể dùng tro bếp thay thế. Cứ 10
kg tro bếp có thể thay thế được 1 kg kali clorua.
b) Cách bón:
•Bón lót: Bón sau khi rạch hàng : 50% phân chuồng + 50% phân vi sinh +
toàn bộ phân lân.
•Bón thúc:
- Lấn 1 : Sau trồng 20 ngày, bón 15% đạm + 25% kali.
- Lần 2: Khi cây cao 30cm, bón 25% đạm + 15% kali.
- Lần 3, 4: Tính từ đầu tháng 9, cứ sau 15 đến 20 ngày bón một lần, mỗi lần
30% đạm + 30% kali + 25% phân chuồng + 25% phân hữu cơ vi sinh, vào thời
gian sau bấm ngọn đè cành của Cúc hoa vàng.
6. Mật độ, khoảng cách trồng
Cúc hoa được trồng theo hốc, mỗi hốc trồng một khóm, mỗi khóm có 15
cây, khoảng cách hốc 30 x 30 cm.
Năm 2003, Viện Dược liệu đã tiến hành nghiên cứu thí nghiệm ành hưởng
của khoảng cách trồng kết hợp với bón phân đến năng suất Cúc hoa.
Kết quả thu được như sau (xem bảng):
Trong cả 3 khoảng cách trồng : 20 x 20 cm, 30 x 30 cm, và 40 x 40 cm việc
sử dụng phân NPK tổng hợp bón cho Cúc hoa đều cho năng suất cao hơn so với
việc sử dụng NPK bón riêng lẻ và phân chuồng.
Trong điều kiện đó, khoảng cách trồng Cúc hoa 30 x 30 cm đã có tác dung
tốt thúc đẩy sự sinh trưởng phát triển của cây và đạt năng suất cao nhất.
7. Kỹ thuật trồng
rệp, bọ trĩ, dế, các bệnh nấm phấn trắng, thán thư…
Biện pháp phòng trừ : Thực hiện các biện pháp phong trừ tổng hợp nếu
mật độ sâu bệnh hại cao phải theo sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật. Có thể
dùng một số loại thuốc sau:
- Sherpa 25 EC nồng độ 0,1 đến 0,15 %: Tập kỳ phun theo hướng dẫn trên
bao bì.
- Score 250 EC nồng độ 0,1%
Chú ý: Tuyệt đối không được dùng các loại thuốc cấm, các loại thuốc
không có trong danh mục được phép sử dụng ở Việt Nam và các loại thuốc hạn
chế sử dụng như Monitor, Vofatox, Filitoxin, Các loại thuốc không có nhãn
mác, không rõ nguồn gốc xuất xứ hoặc không do cơ sở sản xuất có tư cách pháp
nhân sản xuất.
10. Chế độ luân canh hoặc xen canh
Cây luân canh tốt nhất của cây Cúc hoa là cây họ đậu, lúa nước hoặc cây
dược liệu ngắn ngày như Hoắc hương, Ngưu tất…
Trong sản xuất hiện nay có thể trồng các công thức luân canh sau đây:
- Lúa + Cúc hoa
- Đậu tương + Cúc hoa
- Ngưu tất + Cúc hoa
- Hoắc hương + Cúc hoa
- Cúc hoa giống + Cúc hoa
- Bỏ hóa + Cúc hoa.
V. THU HOẠCH, CHẾ BIẾN VÀ BẢO QUẢN
1. Thu hoạch
Khi hoa Cúc nở từ ngoài vào đến hoa trong cùng, toàn hoa chuyển mầu
vàng thì thu hái kịp thời không để sây sát, giập nát. Hoa nở đến đâu thu ngay
đến đấy, tranh thủ thu hoạch vào ngày nắng ráo. Sau khi thu hoạch có thể xông
khói lưu huỳnh với tỷ lệ ≤ 0,5% để Cúc có mầu sắc đẹp, không ẩm mốc và dễ
bảo quản.
Thực hiện đầy đủ theo quy trình này, năng suất Cúc hoa vàng có thể đạt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Trung, Bùi Xuân Trường, Nguyễn Thượng Đông,
Đỗ Trung Đàm, Phạm Văn Hiệu, Vũ Ngọc Lô, Phạm Duy Mai, Phạm Kim
Mai, Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập, Trần Đoàn. 1000 cây thuốc và động vật
làm thuốc ở Việt Nam, tập 1,2. NXB Khoa học & Kĩ thuật, 2006.
2. Võ Văn Chi (1997). Từ điển cây thuốc Việt Nam. NXB y học Hà Nội
3. Nguyễn Bá Hoạt, Nguyễn Duy Thuần (2006). Kỹ thuật trồng, sử dụng và chế
biến cây thuốc. NXB Nông nghiệp Hà Nội, 2005.
4. Nguyễn Bá Hoạt (2002). Nghiên cứu phát triển một số cây thuốc tham gia
chuyển đổi cơ cấu cây trồng vùng cao Sapa (Lào Cai). Luận án tiến sỹ
Nông nghiệp.
5. Nguyễn Văn Lan (1970). Kỹ thuật trồng cây dược liệu, tập 1
.
NXB Nông thôn
Hà Nội.
6. Đỗ Tất Lợi (2007). Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. NXB Y học Hà
Nội
7. Trang web: www.vienduoclieu.org.vn/