ĐỒ DÙNG DẠY HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG
TRONG GIỜ LỊCH SỬ Ở THCS
I. XUẤT PHÁT ĐIỂM.
Trong việc dạy học dù là phương pháp truyền thống, cải cách hay đổi
mới thì việc sử dụng đồ dùng dạy học là một vấn đề cần thiết dù là môn
khoa học tự nhiên hay môn khoa học xã hội có sử dụng đồ dùng dạy học
đều mang lại hiệu quả cao.
Phân môn lịch sử là một bộ môn khoa học xã hội rất quan trọng trong
nhà trường. Nó giúp cho thế hệ trẻ hiểu được cuội nguồn dân tộc, biết được
quá khứ của tổ tiên .
Từ những hiện vật cụ thể nhưng sự kiện lịch sử, học sinh tự hào về
truyền thống dân tộc, tiếp theo, kế thừa và phát huy những tinh hoa của tổ
tiên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc ngày nay. Muốn làm sống
dậy quá khứ của lịch sử mỗi bài dạy trên lớp ngoài việc cung cấp đầy đủ
những kiến thức cơ bản cần phải sử dụng một cách hợp lí khéo léo đồ dùng
dạy học mới hiện được sự việc đã qua.
Xuất phát từ thực tế đó tôi đã suy nghĩ quyết định thử nghiệm và theo
dõi vấn đề này để rút ra kết luận và kinh nghiệm cho việc giảng dạy môn
lịch sử.
II. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN.
1. Thuận lợi: Trong quá trình thực hiện tôi được sự giúp đỡ và động
viên của ban giám hiệu, tổ chuyên môn và nhiều cộng sự, Bản thân học
hoit, tim tòi và rút ra kinh nghịêm, do đó cũng đạt được một số kết quả
đáng kích lệ.
2. Khó khăn: - Tài liệu nghiên cứu chưa đầy đủ
- Hiện vật khó sưu tầm
- Khả năng về vẽ còn hạn chế
- Việc thiết kế các mẫu vật khó chính xác do vật liệu thiết kế chưa
hợp lí.
3. Phạm vi đối tượng nghiên cứu.
1
các hiện vật có niên đại Lịch Sử càng xa thì sự sưu tầm loại hiện vật
này càng khó khăn. Đó là các mẫu vật về thời kỳ đồ đá, rìu đá, liềm đá,
lưỡi quốc đá và những đồ trang sức bằng đá.
Các loại hiện vật bằng đồng như: Dao, lưỡi cày, lưỡi quốc, mũi tên
đồng và một số đồ dùng sinh hoạt bằng đồng, các hiện vật này ít khi giáo
viên có thể sưu tầm được. Tuy nhiên trong các bài lịch sử hiện đại cũng có
thể sưu tầm được mặc dù không phải là nhiều.
* Phương pháp sử dụng.
- Khi giảng dạy loại hiện vật này giáo viên cần nêu rõ hiện vật được
tìm thấy ở địa danh nào, nó thuộc loại hiện vật gì và thời kì nào của lịch sử.
- Giáo viên đưa hiện vật đến từng bàn để học sinh trực tiếp quan sát
mẫu vật, tự tay cầm nắm cụ thể các mẫu vật ấy để tự mình rút ra nhận xét,
đánh giá.
b. Loại đồ dùng là mẫu vật được mô phỏng lại.
- Do các hiện vật thật không được tự ý đem khỏi các viện bảo tàng
lịch sử hoặc một số hiện vật đã bị hư hỏng không thể di chuyển nên người
ta đã tạo ra các mô hình để thay thế các hiện vật đó. Loại mô hình này
thường được chế tạo bằng các chất liệu như: gỗ, nhựa, gốm rồi quét các
loại sơn lên bề mặt, cho giống hiện vật thật.
* Phương pháp sử dụng.
- Khi dạy loại đồ dùng này giáo viên cần cho học sinh rõ đó là những
hiện vật có thật (qua tranh vẽ) em thấy hiện vật này có gì giống và khác
nhau.
- Học sinh sẽ rút ra kết luận sau khi quan sát và hội ý.
c. Loại đồ dùng bằng tranh ảnh.
- Tranh ảnh được sử dụng trong giờ giảng dạy lịch sử được coi là biểu
đồ dùng minh hoạ về hiện vật và các di sản được lưu lại.
- Thông thường trong sách giáo khoa lịch sử mỗi lớp đều in sẵn. Vậy
loại đồ dùng này được coi là những hình có sẵn thông thường, người giáo
viên lịch sử phóng to hình này lên để phân tích cho học sinh dễ nhận biết
giải thích các ký hiệu yêu cầu học sinh tự mình thực hành. Cả 2 cách làm
4
này đều giúp học sinh tiếp cận các sự kiện lịch sử một cách thoải mái hứng
thú.
- Đối với loại bản đồ làm:
Đây là biểu bản đồ, lược đồ không có ký hiệu diễn biến cho trước cho
trước kiểu đồ dùng này, giáo viên thường tự thiết kế lấy mọi ký hiệu trên
bản đồ, lược đồ sẽ được xuất hiện trong quá trình tường thuật diễn biến của
cả trận đánh. Theo tôi khi sử dụng loại bản đồ này giáo viên nên dùng các
ký hiệu mô hình làm sẵn bằng bìa cứng theo các mẫu đã quy ước (nếu là
lớp học có bảng từ thì có thể thiết kế mô hình và ký hiệu bằng loại sắt
mỏng) trong quá trình tường thuật giáo viên dùng các ký hiệu di động rồi
dừng lại đính vào các điểm cần thiết của bản đồ, sau bài giảng toàn bộ sự
kiện diễn biến của trận đánh sẽ xuất hiện và nằm lại trên bản độ loại đồ
dùng này có thể dùng nhiều lần vì nó có thể gỡ các mô hình, ký hiệu ra
khỏi sơ đồ một cách rõ ràng. Dùng kiểu bản đồ này giáo viên có thể cho
học sinh tự cũng cố bài học bằng cách trường thuật lại trận đánh mà giáo
viên vừa tường thuật xong. Loại đồ dùng này có thể tác dụng giúp cho bài
giảng hấp dẫn hơn, hứng thú hơn và nội dung khắc sâu hơn trong trí tưởng
tượng của học sinh.
IV- ỨNG DỤNG CỤ THỂ TRONG BÀI GIẢNG
Sau đây là phương pháp sử dụng cụ thể các loại đồ dùng dạy học
trong một số bài vở ở các khối lớp mà tôi đã sử dụng.
Chương trình lớp 6 bài 10
Những chuyển biến trong đời sống kinh tế.
A- Mục tiêu bài học
1- Về kiến thức: Học sinh hiểu được những chuyển biến lớn có ý
nghĩa hết sức quan trọng trong đời sống của người nguyên thuỷ như: Sự cải
tiến các công cụ sản xuất, phát minh thuật luyện kim và sự xuất hiện của
nghề nông trồng lúa dẫn đến sự ra đời của xóm làng nông nghiệp.
viên có thể vẽ tranh và phóng to các hiện vật này để học sinh có điều kiện
quan sát rõ ràng hơn và phân tích theo sự hướng dẫn của cô giáo, sau khi
6
cho học sinh xem tranh giáo viên đặt câu hỏi. Em có nhận xét gì về trình độ
sản xuất đồ gốm đặc biệt là hoa văn vẽ trên nền gốm?
Chú ý: Khi sử dụng loại đồ dùng này trong tiết học giáo viên cần cho
học sinh quan sát tỉ mỉ các hiện vật tranh ảnh sau đó mới đề nghị học sinh
thảo luận nhóm rồi rút ra nhận xét. Đề nghị học sinh bổ sung phần nhận xét
của bạn.
Trong mục 2:
- Thuật luyện kim đã được phát minh như thế nào, giáo viên có thể
dùng một số các hiện vật bằng mảnh gốm cho học sinh quan sát và đặt câu
hỏi. Đồ gốm làm bằng nguyên liệu nào?
- Đồ gốm thường thấy là những dụng cụ gì?
- Để làm ra các loại dụng cụ bằng sắt người xưa đã dùng nguyên liệu
gì để làm khuôn? (bằng đất xét)
Học sinh rút ra kết luận. Như vậy cơ sở của phát minh ra thuật luyện
kim chính là từ kinh nghiệm của nghề làm gốm.
Kết quả đạt được.
Đối lớp không sử dụng đồ dùng Đối với lớp sử dụng đồ dùng
Số học sinh đạt tỷ lệ trắc nghiệm
45% (lớp A)
32% (lớp B,C)
Số học sinh đạt tỷ lệ trắc nghiệm
85% (lớp A)
72% (lớp B,C)
Chương trình lớp 7 bài 11
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC TỐNG
(1075 - 1077)
A. Mục tiêu bài học.
- Cho học sinh tự tường thuật sau khi tự nghiên cứu bài và được giáo
viên hướng dẫn.
- Đặt câu hỏi nhận xét về cách tường thuật của học sinh.
ở phần thứ 2: Cuộc chiến đấu trên phòng tuyến Như Nguyệt.
8
- Để thay đổi đồng hình giáo viên sử dụng lược đồ tự tạo không có
các kí hiệu (ban đồ càm)
- Giáo viên lần lượt giới thiệu các kí hiệu đã được chuẩn bị sẵn làm
bằng các loại bìa cứng với màu sắc khác nhau theo quy ước để học sinh
tiện theo dõi.
- Tường thuật diễn biến đến phần nào giáo viên kết hợp dùng các kí
hiệu (màu xanh) chỉ vẽ đường tấn công của quân Tống gắn lên bản đồ dùng
kí hiệu màu đỏ (mũi tấn công của ta) gắn liền trên bản đồ, khi miêu tả về
cuộc rút lui của quân Tống cần khéo léo sử dụng các mũi tên màu xanh pha
trắng gắn lên bản đồ.
- Kết thúc phần tường thuật giáo viên đặt câu hỏi nhận xét.
- Nếu còn thời gian cho học sinh tập lại.
- Cuối phần bài học giáo viên cho học sinh làm bài tập qua phần bảng
phụ và bàu tập trắc nghiệm vào giấy để học sinh cũng cố lại bài học.
V. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.
Với các biện pháp và cách sử dụng về các loại đồ dùng dạy học như
đã nêu trên tôi thấy kết quả của môn lịch sử tăng lên rõ rệt.
- Giờ học thu hút được 100% học sinh tập trung say mê về các môn
lịch sử.
- Chất lượng bài kiểm tra ở môn học trong tháng 12,1, 2 tăng đạt điểm
khá giỏi nhiều hơn.
Kết quả
Lớp
Đạt
6 7
viên tự mình thiết kế các đồ dùng dạy học còn thiếu.
- Tổ chức các cuộc thi sáng tạo và sử dụng đồ dùng dạy học ở tất cả
các môn trong đó có môn lịch sử.
- Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của tôi trong quá trình giảng
dạy môn lịch sử hiểu biết và kinh nghiệm chắc chắn không tránh khỏi
những sai sót rất mong được sự góp ý chân thành của các bạn đồng nghiệp.
10