Hãy giải thích ý nghĩa nhan đề bài thơ Tiếng hát con tàu - Pdf 26

class="bi x0 y0 w0 h1"
Bài làm
Chúng ta từng biết đến một Chế Lan Viên “đột ngột xuất hiện giữa làng
thơ như một niềm kinh dị” (Hoài Thanh), một Chế Lan Viên siêu hình muốn
trốn vào “tinh cầu giá lạnh” ở tận “cõi trời xa”. Đồng thời chúng ta cũng
thật sung sướng và cảm động được đón nhận một hồn thơ “từ thung lũng
đau thương ra cánh đồng vui”, từ cái tôi cô đơn bế tắc đến với cuộc đời rộng
lớn của nhân dân, đất nước, cách mạng. Cuộc “trở về” ấy đã được Chế Lan
Viên thể hiện trong những vần thơ chan chứa niềm biết ơn trong tập Ánh
trăng và phù sa mà Tiếng hát con tàu là một bài thơ tiêu biểu. Từ sự kiện
kinh tế – chính trị của đất nước là phát động nhân dân, nhất là thanh niên đi
xây dựng những khu kinh tế mới ở miền núi Tây Bắc, Chế Lan Viên đã có
dịp bộc lộ thành thơ những trăn trở, những xúc động, những biết ơn của
mình đối với Tổ quốc, nhân dân cùng những suy nghĩ về ngọn nguồn sáng
tạo của thi ca. Bài thơ hấp dẫn người đọc bởi chất trữ tình – triết luận, bởi
những sáng tạo độc đáo, bất ngờ, mới lạ đặc biệt là nhan đề và lời đề từ.
Nét đặc sắc nổi bật của nghệ thuật thơ Chế Lan Viên là sáng tạo những
hình ảnh mang tính biểu tượng. Từ chỗ cảm nhận hình ảnh cụ thể, cảm tính,
người đọc dần dần hiểu ra ý nghĩa biểu tượng của nó và cảm thấy vô cùng
sâu sắc, thú vị. Mới đọc bài thơ, ta có cảm giác về một cuộc lên đường thật
sự, có điểm đi (Hà Nội), điểm đến (Tây Bắc) và con tàu như có tinh thần
đang bồn chồn đợi lệnh khởi hành (gió ngàn đang rú gọi, tàu đói những
vành trăng). Khi đã băng băng trên đường, ta thấy những “mái ngói đỏ trăm
ga”, những mùa “lúa chín rì rào”. Du khách miên man với những hình ảnh,
âm thanh lướt qua.
Nhưng thực tế lúc Chế Lan Viên viết bài thơ này chưa có đường tàu lên
Tây Bắc. Nhớ ra điều này, ta bỗng hiểu tất cả những cảm giác trên chỉ là
tưởng tượng theo những liên tưởng, tưởng tượng của cả một thế giới hình
ảnh trong bài thơ. Tác giả bắt người đọc rung cảm với những “cảm xúc giả
tưởng” (Phan Huy Dũng). Bằng cách ấy, nhà thơ đưa người đọc vào “vùng
trời” của thơ, cảm nhận được chân giá trị thẩm mĩ của thi phẩm.

Tiếng hát con tàu là tiếng hát của một tâm hồn đang phấn chấn, hăm hở
với khát vọng lên đường đến những miền đất mới mà thực chất là trở về với
nhân dân, đất nước – ngọn nguồn của hồn thơ, của những sáng tạo.
Bài thơ – khúc hát chia làm ba phần. Hai khổ đầu là sự trăn trở trước lời
mời gọi lên đường. Giọng thơ vừa day dứt vừa giục giã hối thúc. Tác giả
dùng thủ pháp phân thân để tự vấn với hàng loạt câu hỏi và câu trả lời tạo
nên thế đối lập giữa phê phán và mời gọi, tạo một độ sâu đặc biệt cho cảm
hứng trữ tình:
“– Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng?”
“– Tàu gọi anh đi sao chửa ra đi?”
“– Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi
Ngoài cửa ô? Tàu đói những vàng trăng”
Phá bỏ chủ nghĩa cá nhân vị kỉ để bay ra giữa cuộc đời cao rộng. Hai khổ
thơ có ý nghĩa như một sự lấy đà, “nạp nhiên liệu”, chuẩn bị tâm lí, trí tuệ
để lên đường.
Chín khổ thơ giữa thể hiện khát vọng về với nhân dân, gợi lại những kỉ
niệm kháng chiến với nghĩa tình của nhân dân, đất nước. Sự da diết của
những kỉ niệm làm sống dậy những hình ảnh cụ thể đầy xúc động:
“Ơi kháng chiến mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau còn đủ sức soi đường”
Với lớp văn nghệ sĩ tiền chiến thì Cách mạng tháng Tám và kháng
chiến chống Pháp có ý nghĩa đặc biệt. Chế Lan Viên nói về kháng chiến
với lòng biết ơn sâu nặng. Thực ra đến với kháng chiến cũng là đáp ứng
nhu cầu cấp thiết của tâm hồn “cho con về gặp lại Mẹ yêu thương”. Để
diễn tả niềm hạnh phúc lớn lao của việc trở về, nhà thơ đã sử dụng một
loạt hình ảnh so sánh:
“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”

Trong các tác phẩm văn học, lời đề từ như một tín hiệu chỉ dẫn, lời mách
bảo kín đáo con đường khám phá tác phẩm. Tuy nhiên, không phải một lúc
chúng ta có thể nhận thức được hết ý nghĩa của lời đề từ. Muốn hiểu được
lời đề từ phải nắm được nội dung tác phẩm. Vì thế, lời đề từ và nội dung tác
phẩm luôn soi chiếu lẫn nhau để vừa hiểu sâu sắc tác phẩm vừa nhận ra ý vị
của lời đề từ vốn có hình thức như một câu đố:
“Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc”
Câu mở đầu là một câu hỏi mà đối tượng chính là Tây Bắc. Nhưng hỏi
không phải để tìm câu trả lời mà để phát biểu một quan điểm, để bày tỏ cảm
xúc. Lớp nghĩa bề mặt của câu thơ là: Tây Bắc là vùng đất xa xôi, nơi có
cuộc sống gian lao mà nặng nghĩa tình, nơi đang cần bàn tay con người khai
phá. Dường như câu thơ còn ẩn chứa một điều gì rất khó nắm bắt. Cái chất
Chế Lan Viên nằm trong câu thơ ta dường như chưa chạm tới được. Tây
Bắc là một biểu tượng mang nội dung ước lệ. Tây Bắc lại có đặc điểm của
một hình tượng nghệ thuật đủ sức lay động cảm xúc thẩm mĩ nơi độc giả.
Hiểu như vậy, ta thấy Tây Bắc lấp lánh thêm nhiều tầng lớp ý nghĩa. Tây
Bắc là cách nói về Tổ quốc trong quá khứ, hiện tại và tương lai đồng thời
cũng là cách nói về hiện thực cuộc sống, là thiên nhiên, con người, cuộc
đời… mà nhà thơ cần hướng tới để nhận thức, khám phá và biểu hiện những
cảm xúc, suy nghĩ của mình. Tây Bắc đó là “khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng
hát”, là lời mời gọi thiết tha mỗi con người, mỗi hồn thơ hãy giang cánh mà
trở về với đất nước, nhân dân, với những gian lao, với nghĩa tình sâu nặng.
“Con tàu” chính là “lòng ta” bỗng náo nức một nỗi lên đường để đến với
nhân dân, đất nước, đến với thơ, đến với tâm hồn đích thực của mình. “Khi
lòng ta đã hóa những con tàu” tức là tâm hồn đã quyết tâm ra đi, đã quyết từ
bỏ chủ nghĩa cá nhân siêu hình bế tắc để đến với cuộc đời, đến với hiện thực
cuộc sống, ngọn nguồn của sáng tạo nghệ thuật.
Thế nhưng, đọc kĩ câu 2 và câu 4 của lời đề từ, ta bỗng thấy nhấp nháy
một tín hiệu lạ. Ở câu 2 tác giả viết: “Khi lòng ta đã hóa những con tàu”.
Nhưng sang câu 4 nhà thơ lại viết: “Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu”.

trong sáng, những nghĩa tình sâu nặng. Đó chính là ngọn nguồn của sáng tạo
bởi “chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép”.
Tiếng hát con tàu có vẻ đẹp hài hòa giữa cảm xúc và suy tư, giữa tình
cảm và trí tuệ. Đây cũng là đặc điểm phong cách Chế Lan Viên trong Ánh
sáng và phù sa. Cuộc đời và thời đại đã thổi vào hồn thơ ông một luồng gió
mới. Hơi thơ tràn đi như một khúc hát ân tình. Ý thơ vận động theo lôgic
triết luận. Chất trí tuệ lấp lánh cả bài thơ từ nhan đề, lời đề từ cho đến khổ
thơ kết.
Sau 1975, thơ Chế Lan Viên có những chuyển biến đa dạng và đa diện
nhưng chất trữ tình – triết luận vẫn luôn là nét phong cách ổn định tạo nên
vẻ đẹp, sự sang trọng cho thơ ông. Tiếng hát con tàu đã ghi một dấu mốc
quan trọng trong đời thơ Chế Lan Viên – một hồn thơ thanh khiết sáng ngời
trong cuộc trở về với nhân dân, đất nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status