2.Điều kiện về sự tự nguyện của các bên...........................................................................................6
3.Về trường hợp cấm kết hôn............................................................................................................7
4.Chế định tài sản giữa vợ và chồng...................................................................................................7
5.Chế định xác định cha, mẹ, con.......................................................................................................9
6.Chế độ nuôi con nuôi.....................................................................................................................10
7.Chế định ly hôn..............................................................................................................................12
8.Chế định cấp dưỡng......................................................................................................................13
9.Chế định quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.....................................................14
C.Kết luận..................................................................................................................................................16
A.Mở đầu.
Trong lời nói đầu của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Nhà nước ta
đã khẳng định rất rõ : “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con
người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần
vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tố thì xã hội mới tốt…”.
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình, trong mối giai đoạn, Đảng và
Luật Hôn nhân và gia đình
Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm lớn đối với vấn đề gia đình và có những chủ
trương để thể chế hóa bằng pháp luật, đường lối, và chính sách của mình. Trong
từng thời kì phát triển của lịch sử, pháp luật hôn nhân và gia đình ngày càng
được củng cố và hoàn thiện.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 kế thừa và phát triển Luật Hôn nhân
và gia đình năm 1986 đã quy định tương đối đầy đủ các vấn đề về Hôn nhân và
gia đình. Các quy định đó phần nào cũng phản ánh được thực trạng các quan hệ
xã hội thuộc lĩnh vực Hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, nước ta đang trong giai
đoạn phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, hòa cùng xu thế toàn
cầu hóa, sự thay đổi tích cực trong đời sống kinh tế, xã hội đã làm cho các quan
hệ Hôn nhân và gia đình có những thay đổi sâu sắc, đồng thời cũng chịu những
tác động tiêu cực. Ở nhiều địa phương vẫn xảy ra tình trạng vi phạm pháp luật
về Hôn nhân và gia đình với những mức độ khác nhau, gây nhiều ảnh hưởng
xấu trong đời sống, thậm chí có những hậu quả nghiêm trọng. Điều đó cho thấy
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sau nhiều năm áp dụng đã bộc lộ những
nguyên tắc chung, khái quát, có tính chất luật, thiếu cụ thể, khó thực hiện trên
thực tiễn. Một số điều luật chưa chặt chẽ dẫn tới cách hiểu và áp dụng không
thống nhất của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và dễ bị vận dụng tùy tiện,
ảnh hưởng tới quyền loại của công dân, gây bất ổn đối với các quan hệ Hôn
nhân và gia đình. Một số quy định của Luật chưa phù hợp với sự vận động thực
tiễn của các quan hệ Hôn nhân và gia đình. Ngoài ra còn có những quy định
Luật không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn áp dụng nên
không tránh khỏi có những quan điểm khác nhau trong quá trình thực hiện và áp
dụng.
Thứ ba, trong điều kiện phát triển của cơ chế thị trường, có sự giao lưu
kinh tế và hội nhập quốc tế, không tránh khỏi những ảnh hưởng tiêu cực đến các
Luật Hôn nhân và gia đình
quan hệ xã hội trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình. Có những trường hợp cá
nhân thực hiện việc kết hôn không phải để xây dựng gia đình hạnh phúc mà
nhằm mục đích về kinh tế, trong đó tập trung nhiều ở việc kết hôn giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài. Tình trạng kết hôn không đăng kí đang là
hiên tượng phổ biến ở những vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân
tộc thiểu số sinh sống. Ở các tỉnh thành phố khác cũng có tình hình này nhưng
mức độ thấp hơn. Thực trạng này gây những khó khăn không nhỏ trong việc
kiểm soát của Nhà nước đối với các quan hệ Hôn nhân và gia đình. Mặt khác,
tình hình kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay có nhiều thay đổi, trong đó
quan hệ Hôn nhân và gia đình cũng đã phát sinh nhiều vấn đề mới cần được
pháp luật điều chỉnh như vấn đề kết hôn giữa những người cùng giới, giải quyết
vấn đề tài sản giữa vợ và chồng…
Thứ tư, trong những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều đạo Luật
cần thiết để điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thực hiện đổi mới
nâng cao chất lượng công tác lập pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Trong
thực tiễn đời sống, các quan hệ Hôn nhân và gia đình đan xen, chịu ảnh hưởng
qua lại của nhiều mối quan hệ khác nhau như quan hệ dân sự, quan hệ đất đai,
quan hệ hành chính… Trong khi pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ đã có
Theo Khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình quy định về độ tuổi kết
hôn thì: “nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên…” Đây là độ
tuổi tối thiểu cho phép nam nữ kết hôn. Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền
kinh tế thị trường, đời sống xã hội của con người cũng ngày càng được nâng
cao, con người có đầy đủ điều kiện để phát triển sớm hơn về thể chất. Điều này
thể hiện ở chất lượng cuộc sống ngày càng cao. Bên cạnh đó là môi trường giáo
dục tri thức, nhận thức cho trẻ ngày càng phát triển. Ngày nay các bạn trẻ có
Luật Hôn nhân và gia đình
điều kiện để hoàn thiện nhận thức của bản thân từ nhiều kênh khác nhau. Do
vậy có quan điểm cho rằng cần hạ thấp độ tuổi kết hôn khi thể lực, tâm sinh lý
và sự phát triển nhận thức của con người ngày càng phát triển sớm hơn.
Mặt khác, trước đây người ta cho rằng sự phát triển tâm sinh lý của nữ
thường sớm hơn nam vì vậy tuổi kết hôn của nữ ít hơn nam hai tuổi. Tuy nhiên
chất lượng của xã hội ngày càng được nâng cao đã làm cho sự phát triển của
nam và nữ tương đối đồng đều. Vấn đề bình đẳng giới được đặt ra thường
xuyên, vậy tại sao việc quy định độ tuổi kết hôn như hiện nay lại có sự bất bình
đẳng như vậy mà lại không được điều chỉnh? Thiết nghĩ Luật nên điều chỉnh
cho phù hợp với các khía cạnh của đời sống xã hội và bản thân đối tượng điều
chỉnh của mình.
2. Điều kiện về sự tự nguyện của các bên
Tự nguyện là yếu tố không thể thiếu trong điều kiện kết hôn, tuy nhiên
trên thực tế có những việc kết hôn được xem là trái pháp luật, trái đạo đức xã
hội nhưng lại không thuộc diện kết hôn trái pháp luật theo quy định tại Khoản 3
- Điều 15 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, đó là trường hợp kết hôn “giả
tạo”. Nhất là trong xã hội hiện nay, bên cạnh những tác động tích cực, những
tác động tiêu cực của sự phát triển kinh tế thị trường đã làm tha hóa dần đạo đức
xã hội, con người kết hôn với nhau không vì mục đích xây dựng gia đình và
chung sống lâu dài mà vì những mục đích không lành mạnh khác như : để có
nơi cư trú, để được nhập hộ khẩu… Đây là một thực tế mà những điều kiện kết
hôn hiện nay vẫn còn bỏ ngỏ quy định. Vì vậy, Luật hôn nhân và gia đình cần