CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG
I-Khái niệm bảo hộ lao động:
1-Một số khái niệm liên quan:
1.1-Khái niệm bảo hộ lao động:
Thuật ngữ “Bảo hộ lao động” dưới góc độ khoa học được hiểu là tổng thể
các biện pháp bảo đảm cho người lao động làm việc được an toàn, không nguy
hiểm đến tính mạng, sức khỏe, là yêu cầu đồng thời cũng là hướng chủ yếu nhằm
hoàn thiện việc tổ chức lao động khoa học, làm cho người lao động yên tâm, nâng
cao chất lượng và hiệu quả công tác.
Bảo hộ lao động còn được hiểu là hệ thống các giải pháp về pháp luật, khoa
học kỹ thuật, kinh tế - xã hội nhằm bảo đảm an toàn và sức khỏe của con người
trong quá trình lao động sản xuất. Nội dung bao gồm 3 vấn đề:
Một là, xây dựng, ban hành và giảm sát việc thực hiện hệ thống pháp luật về
bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, hệ thống các tiêu chuẩn giới hạn cho pháp luật
của các yếu tố điều kiện lao động, hệ thống các quy phạm an toàn trong lao động –
sản xuất và các chính sách chế độ bồi dưỡng sức khỏe, chăm sóc y tế cho những
người lao động phải làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, kém hấp
dẫn.
Hai là, bảo đảm tính đồng bộ và tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về An
toàn, vệ sinh lao động trong toàn bộ quá trình thiết kế, vận chuyển, lắp đặt, vận
hành và bảo quản nhà xưởng, quy trình công nghệ, máy móc thiết bị, vật tư, nhiên
liệu, năng lượng sử dụng trong quá trình lao động.
Ba là, không ngừng nâng cao hiểu biết và nhận thức của người sử dụng lao
động và người lao động về an toàn, vệ sinh lao động bằng cách tuyển chọn, tuyên
1
truyển giáo dục, hướng dấn, đào tạo thường xuyên, luyện tập các phương pháp
phòng chống các sự cố trong sản xuất.
Bên cạnh đó, dưới góc độ pháp lý, bảo hộ lao động được hiểu là chế định bao
gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, xác định các điều
kiện lao động an toàn và vệ sinh có tính chất bắt buộc, các biện pháp phòng ngừa,
ngăn chặn hoặc khắc phục những yếu tố nguy hiểm, độc hại trong môi trường lao
lao động chủ yếu bao gồm bốn nhóm quy định sau:
Nhóm quy định về an toàn lao động.
Nhóm quy định về tai nạn lao động.
Nhóm quy định về các quyền và nghĩa vụ của các bên trong an toàn lao
động.
Nhóm quy định đối với một số loại lao động có đặc điểm riêng.
1.3-Khái niệm vệ sinh lao động:
Vệ sinh lao động được hiểu là “tổng thể các tiêu chuẩn môi trường lao động
(ánh sang, chống bụi, nóng lạnh, gió, tiếng ồn, độ ẩm…); bảo hộ an toàn lao dộng,
trang thiết bị bảo hộ lao động, máy móc, thiết bị sản xuất, chế độ ăn uống tối ưu
thích hợp lao động với mỗi loại lao động; vệ sinh cá nhân của người lao động; nhà
ở và các tiện nghi sinh hoạt; quản lý sức khỏe cho người lao động và gia đình,…”
2
Như là một chế định của Bộ luật Lao động, Vệ sinh lao động chủ yếu gồm
bốn nhóm quy định sau:
Nhóm quy định về Vệ sinh lao động.
Nhóm quy định về Bệnh nghề nghiệp.
Nhóm quy định về các quyền và nghĩa vụ của các bên trong an toàn-vệ sinh
lao động.
1
TCVN 3153-79, tr1/5
2
Từ điển bách khoa Việt Nam tập 4, NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội 2005, tr 850
3
Nhóm quy định đối với một số loại lao động có đặc điểm riêng.
II-Đặc điểm của bảo hộ lao động:
Thứ nhất, bảo hộ lao động là hoạt động mang tính chất kỹ thuật đặc thù do
sự phát triển của bảo hộ lao động luôn gắn liền với công nghệ sản xuất. Việc khắc
phục những yếu tố nguy hiểm, độc hại trong quá trình lao động phải gắn liền với
việc thực hiện các biện pháp mang tính khoa học – kỹ thuật. Vì vậy, các quy phạm
đạo của Đảng, giai cấp công nhân được hoàn toàn giải phóng khỏi ách áp bức, bóc
lột, đã trở thành giai cấp lãnh đạo, thành những người chủ đất nước. Nếu để lực
lượng công nhân bị hao mòn, nhiều người lao động sớm bị loại, nằm ngoài sản xuất
thì việc xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, công nhân truyền thống sẽ khó
khăn.
Thể hiện quan điểm coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự
phát triển. Một đất nước có tỷ lệ tai nạn lao động thấp, người lao động khoẻ mạnh,
không mắc bệnh nghề nghiệp là một xã hội luôn coi con người là vốn quý nhất.
Ngược lại, nếu công tác bảo hộ lao động không được thực hiện tốt, điều kiện lao
động quá nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại, dễ xảy ra nhiều tai nạn lao động nghiêm
trọng thì uy tín của chế độ, của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút.
2-Bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động là yêu cầu thiết yếu của sản xuất:
Trong sản xuất nếu người lao động được làm việc trong điều kiện an toàn và
vệ sinh thì họ luôn an tâm, thoải mãi, phấn khởi sản xuất, do đó sẽ có ngày công,
giờ công cao dẫn đến năng suất lao động cao, kế hoạch sản xuất sẽ được hoàn
thành tốt. Vì vậy phúc lợi tập thể tăng lên, có thêm điều kiện để cải thiện đời sống
5
vật chất và tinh thần của cá nhân và đơn vị. Nó còn có tác dụng tích cực bảo đảm
đoàn kết nội bộ để đẩy mạnh sản xuất.
Ngược lại nếu môi trường làm việc có nhiều yếu tố độc hại, nguy hiểm, dễ
xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì sẽ gây ra nhiều hiệu quả cho sản xuất.
Ví dụ giảm sút hoặc và suy yếu lực lượng lao động. Người bị tai nạn, ốm đau
sẽ phải nghỉ việc để cứu chữa, điều trị nên ngày công lao động giảm; nếu bị tàn
phế, mất sức thì khả năng lao dộng đã giảm, lại làm cho xã hội phải lo thêm gánh
nặng, nếu có tai nạn chết thì mất hẳn người lao động và những người có liên quan
cũng mất một số thời gian lao động. Bên cạnh đó chi phí về các thiệt hại do tai nạn,
ốm đau, điều trị, cứu chữa rất lớn. Ngoài ra sẽ kéo theo một số thiệt hại khác như
hư hỏng máy móc, nhà xưởng, nguyên liệu v.v…
Tóm lại, tai nạn bệnh tật xảy ra dù nhiều hay ít đều dẫn tới mất người, mất
của và gây trở ngại cho sản xuất, kinh doanh. Cho nên quan tâm, thực hiện tốt Bảo
Đề nhìn nhận vị trí và tầm quan trọng của điều kiện trong sản xuất, trong
phát triển kinh tế xã hội phải xét nó trong qúa trình phát tiển bền vững-sự phát triển
cân đối giữa 3 yếu tố: Kinh tế-Xã hội-Môi trường.
Điều kiện lao động cùng một lúc tác động lên cả 3 yếu tố phát triển bền
vững.
IV-Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về bảo hộ lao động:
1-Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lí các hoạt động bảo hộ lao động:
7
Xuất phát từ tầm quan trọng của Bảo hộ lao động, Nhà nước xác định việc
thống nhất quản lí các hoạt động bảo hộ lao động là nhiệm vụ chủ yếu của công tác
quản lí nhà nước trong lĩnh vực lao động. Sự tham gia quản lí thống nhất của nhà
nước từ Trung ương đến địa phương trong việc thực hiện bảo hộ lao động góp phần
bảo hộ khả năng thực thi của pháp luật và bảo vệ sức khoẻ người lao động.
Vai trò của Nhà nước trong việc thống nhất quản lí hoạt động bảo hộ lao
động thể hiện ở việc Nhà nước lập chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, ban
hành các văn bản pháp luật, đầu tư nghiên cứu khoa học về bảo hộ lao động, hỗ trợ
phát triển các cơ sở sản xuất trang thiết bị an toàn, vệ sinh lao động. Đặc biệt, vai
trò quản lí của Nhà nước thể hiện rõ trong việc ban hành các văn bản pháp luật về
bảo hộ lao động, hướng dẫn thực hiện, thanh tra và xử lí vi phạm pháp luật. Phần
lớn các qui định về an toàn, vệ sinh lao động và việc đảm bảo các tiêu chuẩn
nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động do Nhà nước ban hành đều là các qui định
cần được thực hiện nghiêm chỉnh tại các doanh nghiệp. Nhà nước cũng có kế hoạch
hỗ trợ các doanh nghiệp khi thực hiện các biện pháp bảo hộ lao động nhằm giảm
bớt chi phí tài chính cho doanh nghiệp và tăng tính chuyên nghiệp của các hoạt
động bảo hộ lao động. Sự hỗ trợ của Nhà nước chủ yếu là tổ chức nghiên cứu, ứng
dụng kĩ thuật bảo hộ lao động, sản xuất các trang thiết bị an toàn, vệ sinh lao động.
Trách nhiệm của các đơn vị là đầu tư kinh phí cho công tác đảm bảo an toàn, vệ
sinh lao động và thực hiện đúng các qui định pháp luật về bảo hộ lao động.
2- Nguyên tắc thực hiện BHLĐ là nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên trong
quan hệ lao động :
hành, bảo quản cho đến khi thanh lí các trang thiết bị, máy móc, dây chuyền phục
9
vụ sản xuất. Các biện pháp đảm bảo an toàn, bảo vệ tính mạng, sức khỏe và nhân
cách của con người cần được thực hiện ở mọi nơi diễn ra hoạt động lao động. Thực
hiện bảo hộ lao động một cách đồng bộ và toàn diện vì thế được coi là nguyên tắc
cơ bản của pháp luật.
Nguyên tắc này đòi hỏi bảo hộ lao động phải được thực hiện đầy đủ, tuân thủ
đúng các tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động do Nhà nước qui định. Chỉ
cần thiếu đi một vài phương tiện đảm bảo an toàn, vệ sinh hay bỏ qua một số thao
tác đơn giản, những hậu qủa nghiêm trọng có thể xảy ra. Vì vậy, nguyên tắc thực
hiện bảo hộ lao động toàn diện và đồng bộ là vấn đề cần được đảm bảo trong suất
quá trình lao động.
10
CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG – SO SÁNH GIỮA
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT LÀO
I-Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực bảo hộ lao động:
1-Hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam:
1.1-Các văn bản luật:
+Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ban hành năm 1992 (đã được
sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết số: 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001
của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10)
Trong đó, Điều 56 của Hiến pháp quy định: Nhà nước ban hành chính sách,
chế độ bảo hộ lao động. Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương,
chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những
người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội
khác đối với người lao động.
Các Điều 39, 61, 63 quy định các nội dung khác về bảo hộ lao động.
+Bộ Luật lao động của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được
Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 quy định
quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn
thuật bảo hộ lao động, xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy phạm an toàn lao động,
vệ sinh lao động đến trách nhiệm tuyên truyền giáo dục công tác bảo hộ lao động
cho người lao động, kiểm tra việc chấp hành luật pháp bảo hộ lao động, tham gia
điều tra tai nạn lao động...
1.2-Hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện công tác bảo hộ lao
động:
12
Các văn bản hướng dẫn bao gồm: các nghị định của Chính phủ, các thông tư,
quyết định của các bộ, ngành chức năng, hệ thống các tiêu chuẩn, quy phạm về an
toàn lao động, vệ sinh lao động, các quy trình về an toàn bao gồm: Tiêu chuẩn, quy
phạm cấp Nhà nước, Tiêu chuẩn, quy phạm cấp ngành; Nội quy, quy định của đơn
vị sản xuất ban hành nhằm đảm bảo an toàn cho người lao động. Trong đó, có thể
kể tới:
-Nghị định 06/CP ngày 20/01/1995: Quy định chi tiết một số điều của Bộ
luật Lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động.
-Nghị định 110/2002/NĐ-CP ngày 27/12/2002: Về việc sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 06/CP ngày 20/01/1995 của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều của Bộ luật Lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động.
-Nghị định 23/CP ngày 18/04/1996: Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Bộ Luật Lao động về những quy định riêng đối với lao động nữ.
-Nghị định 113/2004/NĐ-CP ngày 16/04/2004: Quy định xử phạt hành chính
về hành vi vi phạm pháp luật lao động.
-Danh mục tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn Việt Nam về An toàn sản xuất; Tiêu
chuẩn Việt Nam về An toàn hóa chất; Tiêu chuẩn Việt Nam về An toàn máy cơ
khí; Tiêu chuẩn Việt Nam về vệ sinh lao động; Tiêu chuẩn Việt Nam về thiết bị bảo
hộ lao động, Tiêu chuẩn Việt Nam về An toàn điện, Tiêu chuẩn Việt Nam về An
toàn cháy nổ.
v…v…
2-Hệ thống văn bản pháp luật của Lào:
2.1-Các văn bản luật:
+Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân nước CHDCND Lào ban hành ngày
10/03/2001
+Một số điều quy định liên quan đến công tác bảo hộ lao động của pháp lệnh
chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Lào ban hành ngày 08/03/1995.
2.2-Các văn bản hướng dẫn thực hiện công tác bảo hộ lao động:
2.2.1-Hệ thống các văn bản quy định của Chính phủ và các Bộ, Ngành
chức năng:
-Nghị định 05/QH của quốc hội nước CHDCND Lào, ngày 08/03/1995, quy
định chi tiết một số điều của Bộ lao động về ATVSLĐ.
-Nghị định 02/QH của quốc hội nước CHDCND Lào, ngày 14/12/1994, quy
định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều khoản trong Bộ luật lao động liên
quan tới việc đào tạo và phát triển tay nghề.
-Nghị định 06/QH của quốc hội nước CHDCND Lào, ngày 27/12/2006, quy
định chi tiết hướng dẫn thực hiện trong một số điều khoản trong Bộ luật lao động
liên quan tới thời gian làm việc và nghỉ ngơi.
-Nghị định 02/QH của quốc hội nước CHDCND Lào, ngày 06/05/2003,
hướng dẫn một số điều trong Bộ luật lao động về quy định đối với lao động nữ và
trẻ em.
-Quyết định 481/BTP, bộ tư pháp, ngày 29/11/1999, quy định và hướng dẫn
một số điều về việc chăm sóc sức khoẻ, khám định kỳ hàng năm và tiền bồi thường,
tiền hỗ trợ cho người lao động.
2.2.2-Hệ thống các tiêu chuẩn, quy phạm về ATVSLĐ, hệ thống các quy
trình ATLĐ theo nghề và công nghiệp:
-Tiêu chuẩn, quy phạm cấp Nhà nước, tiêu chuẩn, quy phạm cấp ngành, nội
quy, quy trình của đơn vị sản xuất ban hành trên cơ sở nghiên cứu, vận dụng quy
định chung cho sát thực hơn, nhằm đảm bảo an toàn cho người lao động.
15
3-So sánh:
Từ những dữ kiện trên, ta có thể thấy điểm tương đồng về các quy định bảo
hộ lao động trong pháp luật Việt Nam và pháp luật Lào, đó là: chế độ bảo hộ lao
16
II-Nội dung pháp luật điều chỉnh lĩnh vực bảo hộ lao động:
1-Quy định về an toàn lao động – vệ sinh lao động:
*Hệ thống tiêu chuẩn lao động: Theo quy định của pháp luật Việt Nam; có
hai loại tiêu chuẩn là tiêu chuẩn cấp nhà nước (áp dụng đối với mọi đơn vị sử dụng
lao động) và tiêu chuẩn cấp ngành (áp dụng trong phạm vi mỗi ngành kinh tế kĩ
thuật do đặc thù riêng của ngành đó chi phối). Tiêu chuẩn cấp nhà nước do Bộ khoa
học và công nghệ nghiên cứu, xây dựng và ban hành (có sự phối hợp tham gia của
các cơ quan chức năng như Bộ lao động - thương binh và xã hội, Bộ y tế, Tổng liên
đoàn lao động Việt Nam). Tính đến thời điểm hiện nay, Nhà nước Việt Nam đã
thông qua và ban hành hệ thống tiêu chuẩn về an toàn, vệ sinh lao động với trên
150 loại, được áp dụng trong nhiều ngành kinh tế kĩ thuật khác nhau. Trước đây,
các tiêu chuẩn này được gọi chung là các “qui phạm Nhà nước” như: qui phạm nhà
nước về thiết bị áp lực, qui phạm Nhà nước về thiết bị nâng…Hiện nay, các qui
phạm này được gọi chung là “tiêu chuẩn Việt Nam” (ví dụ tiêu chuẩn Việt Nam về
hệ thống lạnh, tiêu chuẩn Việt Nam về các thiết bị chịu áp lực…) và gần đây được
đổi tên thành “Quy chuẩn kỹ thuật”.
Tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động cấp ngành do các bộ, cơ quan ngang bộ
có trách nhiệm xây dựng, ban hành, hướng dẫn áp dụng tại các đơn vị sử dụng lao
động trong phạm vi ngành đó. Thông thường, các tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao
động do các bộ chuyên ngành ban hành tùy thuộc vào đặc thù nghề nghiệp và điều
kiện lao động của ngành đó. Mục đích của việc áp dụng các tiêu chuẩn an toàn lao
động là hạn chế khả năng phát sinh tai nạn lao động. Việc ban hành tiêu chuẩn lao
động phải có sự tham gia của Bộ lao động - thương binh và xã hội. Mục đích của
việc áp dụng các tiêu chuẩn vệ sinh lao động là hạn chế tỉ lệ người lao động mắc
17
bệnh nghề nghiệp. Việc ban hành các tiêu chuẩn vệ sinh lao động phải có sự tham
gia của Bộ y tế.
Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Lào thì chỉ có một loại tiêu chuẩn
95, 97, 98 BLLĐ Việt Nam).
Khi xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo các công trình, cơ sở để sản xuất, sử
dụng, bảo quản, lưu giữ các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm
ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động, chủ đầu tư hoặc người sử dụng lao động
phải lập báo cáo khả thi về các biện pháp đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao
động. Trong báo cáo khả thi phải có những nội dung như: địa điểm, qui mô công
trình, những yếu tố nguy hiểm, có hại, sự cố có thể phát sinh trong quá trình hoạt
động, các giải pháp phòng ngừa, xử lí. Báo cáo phải được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phê duyệt, được theo dõi và giám sát chặt chẽ trong quá trình thực hiện
(Điều 96 BLLĐ Việt Nam).
Trong trường hợp nơi làm việc, máy móc, thiết bị có nguy cơ gây tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động phải thực hiện ngay những biện
pháp khắc phục hoặc phải ra lệnh ngừng hoạt động tại nơi làm việc và đối với máy,
thiết bị đó cho tới khi nguy cơ được khắc phục. Nơi làm việc có yếu tố nguy hiểm,
độc hại, dễ gây tai nạn lao động phải được người sử dụng lao động trang bị phương
tiện kỹ thuật, y tế và trang bị bảo hộ lao động thích hợp để bảo đảm ứng cứu kịp
thời khi xảy ra sự cố, tai nạn lao động. Người sử dụng lao động phải bảo đảm các
phương tiện bảo vệ cá nhân đạt tiêu chuẩn chất lượng và quy cách theo quy định
của pháp luật. (Điều 99, 100, 101 BLLĐ Việt Nam).
Khi tuyển dụng và sắp xếp lao động, người sử dụng lao động phải căn cứ vào
tiêu chuẩn sức khoẻ quy định cho từng loại việc, tổ chức huấn luyện, hướng dẫn,
thông báo cho người lao động về những quy định, biện pháp làm việc an toàn, vệ
19
sinh và những khả năng tai nạn cần đề phòng trong công việc của từng người lao
động. (Điều 102 BLLĐ Việt Nam).
Theo pháp luật Lào:
Trách nhiệm của người sử dụng lao động trong đảm bảo an toàn lao động –
vệ sinh lao động cũng được quy định trong Bộ luật Lao động của Lào: người sử
dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm nơi làm việc, máy móc thiết bị, dụng cụ,
công đoạn sản xuất liên tục, kể cả việc sử dụng các loại hoá chất để đảm bảo an
Ngoài ra người sử dụng lao động còn phải chấp hành nghiêm chỉnh chế độ
khai báo, điều tra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và định kỳ 6 tháng, hàng năm
báo cáo kết quả tình hình an toàn lao động, vệ sinh lao động.
Còn theo quy định của pháp luật Lào; cụ thể là Bộ luật lao động, Điều 54 có
làm rõ khái niệm về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Trường hợp trong đơn vị lao động xảy ra tai nạn lao động, người sử dụng lao
động phải nhanh chóng giúp đỡ và phù hợp, tiếp theo đó cũng phải báo cáo cho
Công đoàn trong đơn vị lao động của mình biết và lập biên bản về tai nạn lao động
để làm chứng rồi báo cáo cho cơ quan quản lý lao động.
Trong trường hợp tại đơn vị lao động đó chưa có Công đoàn cơ sở ghi biên
bản về xảy ra tai nạn lao động đó thì người sử dụng lao động hoặc người được giao
trách nhiệm phải cử một người đã thấy xảy ra tai nạn lao động đó sẽ làm chứng khi
ghi biên bản.
Theo quy định của pháp luật lao động của Lào, người sử dụng lao động cũng
có trách nhiệm trợ giúp thích hợp cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp; chịu các chi phí thực tế của việc điều trị của người bị tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp.
21
Trường hợp người lao động bị tai nạn lao động nghiêm trọng, bệnh nghề
nghiệp hoặc chết, người sử dụng lao động phải báo cáo cơ quan quản lý lao động
gần nhất trong vòng bốn mươi tám giờ. Nếu người lao động chết, người sử dụng
lao động có trách nhiệm lo chi phí tang lễ cho phù hợp nhưng không thấp hơn mức
sáu tháng tiền lương, hoặc tiền công, tiền thù lao của người đã chết. Đây là quy
định của pháp luật Lào khác với pháp luật Việt Nam.
Ngoài ra, luật Lao động của Lào còn quy định thêm và đây cũng là một điểm
khác biệt với quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể là: trong trường hợp người
sử dụng lao động đã gửi người lao động đi làm việc ở nơi khác mà người lao động
bị chết thì việc chuyển xác hoặc phần còn lại của người chết cho gia đình họ thuộc
trách nhiệm của người sử dụng lao động.
Bên cạnh đó, pháp luật của Lào cũng quy định rõ mức hỗ trợ cho người bị tai
loại:
-Các phương tiện kĩ thuật an toàn lao động, vệ sinh lao động chung: thường
được lắp đặt tại nơi sản xuất, có tác dụng hạn chế các yếu tố nguy hiểm, độc hại
trong môi trường lao động, bảo vệ sức khoẻ chung của mọi người lao động tại nơi
sản xuất. Ví dụ như: phanh hãm, máy hút bụi, quạt thông gió, thiết bị cứu hoả…
Nhìn chung, các thiết bị này được các đơn vị sử dụng lao động lắp đặt khá đầy đủ
tại nơi làm việc nhằm đáp ứng yêu cầu của sản xuất nhưng pháp luật lao động lại
chưa qui định chi tiết và cụ thể vấn đề này trong các văn bản pháp luật về BHLĐ.
-Các phương tiện bảo hộ lao động cá nhân: được trang bị cho từng người lao
động, bao gồm nhiều loại, tuỳ thuộc vào mục đích bảo vệ như: kính mắt, mũ bảo
hiểm, găng tay, quần áo bảo hộ, ủng…Người sử dụng lao động phải thực hiện đầy
đủ các qui định về trang thiết bị bảo vệ cá nhân khi không thể hạn chế hết các yếu
23
tố nguy hiểm, độc hại trong môi trường lao động. Nhà nước qui định khá cụ thể về
danh mục trang thiết bị phương tiện bảo vệ cá nhân tương ứng với những điều kiện
lao động cụ thể. Các trang thiết bị bảo vệ lao động cá nhân phải được cấp phát đầy
đủ, theo đúng định kì cho người lao động. Nghiêm cấm người sử dụng lao động cấp
phát tiền thay cho việc cấp phát phương tiện hay trả tiền để người lao động tự mua.
*Theo quy định của pháp luật Lào:
Có thể nói, quy định của pháp luật Lào về vấn đề này còn khá sơ sài, chưa
được cụ thể và chi tiết, cũng như chưa có nhiều văn bản hướng dẫn cụ thể về trang
thiết bị, phương tiện bảo hộ lao động.
Theo quy định của pháp luật Lào:
Người sử dụng lao động phải cung cấp thiết bị an toàn lao động cho người
lao động , đảm bảo vệ sinh nơi làm việc phải có ánh sang và thông gió cho không
khí, có nhiệt động, có độ rung, có tiếng ổn, có mùi và bụi không quá mức đã được
quy đinh. (Điều 18 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân của Lào).
Những vấn đề liên quan đến trang thiết bị phương tiện bảo hộ lao động cho
người lao động cần phải quản lý chặt chẽ, bao gồm:
- Lắp đặt ánh sáng trung tâm hoặc tạo nguồn ánh sáng tự nhiên, giới hạn
nhọc, độc hại, nguy hiểm, việc khám sức khoẻ sẽ góp phần hạn chế tình trạng
người lao động không đủ sức khỏe làm việc hoặc mắc một số bệnh không thể làm
việc trong điều kiện lao động đó.
-Khám sức khoẻ định kì cho người lao động (kể cả người học nghề, tập
nghề) ít nhất 1 lần/ 1 năm, đối với những người làm công việc nặng nhọc, độc hại ít
nhất 6 tháng/1 lần. Các cơ sở sản xuất phải có hồ sơ quản lí sức khoẻ cá nhân và hồ
sơ theo dõi tổng hợp về sức khoẻ người lao động. Những người mắc các bệnh mãn
tính phải được theo dõi, điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng và sắp xếp công
25