Lý luận chung về bảo hiểm nhân thọ - Pdf 10

Lời mở đầu
Giao thông vận tải là ngành kinh tế - kỹ thuật có vị trí quan trọng ảnh hởng
trực tiếp hoặc gián tiếp đến hầu hết các ngành kinh tế, xã hội an ninh quốc phòng.
Giao thông vận tải là một bộ phận của kiến trúc hạ tầng kinh tế. Sự nghiệp công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc có kiên quan chặt chẽ với sự phát triển của
ngành giao thông vận tải. Bởi vậy có thể nói giao thông vận tải là huyết mạch của
nền kinh tế, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lợc phát triển kinh tế xã
hội của đất nớc.
Giao thông vận tải nớc ra gồm các hình thức chủ yếu: Vận tải đờng bộ, đờng
thuỷ, đờng sắt và hàng không. Trong đó vận tải đờng bộ bằng xe cơ giới là hình
thức phổ biến nhất, đợc sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế. Với tốc độ vận chuyển
nhanh hoàn thành quá trình vận chuyển một cách triệt để, chi phí vận chuyển tơng
đối thấp nên vận chuyển bằng xe cơ giới tiện lợi hơn rất nhiều so với vận chuyển
bằng các hình thức khác. Hơn nữa vận chuyển bằng xe khác nhau có khả năng
chuyên trở hàng hoá, con ngòi tới mọi lúc, mọi lúc kể cả những điểm mà vận tải
đờng sắt, hàng không không tới đợc.
Tuy nhiên, do đặc điểm hoạt động của ngành vận tải là ngành sản xuất mang
tính xã hội cao. Quá trình sản xuất tiến hành ngoài Công ty, chủ yếu là sự tiếp xúc
giữa lái xe với xã hội, sự quản lý của Công ty chỉ trong một chừng mực nhất định.
Vì vậy hình thức vận tải bằng xe cơ giới thờng gặp rủi ro về tai nạn giao thông,
cần phải có sự giáo dục, giúp đỡ của các ngành chức năng và toàn xã hội.
Cùng với sự biến động của nền kinh tế thị trờng, vận chuyển bằng xe cơ giới
cũng không ngừng phát triển, lợng xe lu hành tăng lên một cách đáng kể. Bên
cạnh đó, chất lợng hệ thống đờng bộ ở đất nớc ta còn kém, việc tu sửa lại
đờng xá cháp vá chật hẹp, chịu ảnh hởng nhiều của điều kiện mà chúng ta cha có
đủ biện pháp tối u để hạn chế, ngăn ngừa rủi ro.
Hơn thế nữa, mặc dù lợng xe lu hành ngày một tăng nhng vẫn không theo kịp
với sự phát triển của cơ chế thị trờng nên vẫn phải sử dụng những xe hết thời hạn
sử dụng hoặc không đảm bảo độ an toàn. Lái xe không nghiêm túc chấp hành luật
lệ an toàn giao thông.
Từ những đặc điểm trên, với phơng châm "lá lành đùm lá rách" khi hoạn nạn,

bao thảm hoạ, nào là động đất, núi lửa, sóng thần, bão tố, dịch bệnh rồi thì chiến
tranh, tai nạn giao thông, phóng xạ, ô nhiễm, hoả hoạn. v.v Các hiện t ợng này
luôn bất động và phát triển không theo một trình tự chu kỳ. Vì thế để đấu tranh
cho sự tồn tại và phát triển của mình, con ngời đã có những biện pháp đấu tranh
nhằm chinh phục và cải tạo thiên nhiên. Đồng thời con ngời phải tìm biện pháp đề
phòng, ngăn ngừa những tai nạn xấu có thể xảy ra.
Tuy nhiên, kết quả đấu tranh còn phụ thuộc vào trình độ khoa học - kỹ thuật
và tiềm lực phát triển của mỗi nớc cũng nh sự phát triển của lực lợng sản xuất xã
hội. Song cho dù kha học - kỹ thuật có phát triển mức nào chăng nữa thì con ngời
vẫn tồn tại trong lòng thiên nhiên, gánh chịu hậu quả do thiên nhiên gây ra với
mức độ ngày càng giảm.
Để khắc phục hậu quả của thiên tai và tai nạn, đảm bảo ổn định sản xuất và
đời sống, mỗi gia đình, đơn vị sản xuất kinh doanh hay Nhà nớc chỉ có một khoản
dự trữ lớn để bù đắp thiệt hại và trang trải chi phí cho phần trách nhiệm phát sinh.
Biện pháp tạo bảo hiểm bằng cách tiết kiệm tiền, dự trữ hiện vật hàng hoá của từng
gia đình, từng doanh nghiệp tỏ ra kém hiệu quả về mặt kinh tế, nhất là khi xẩy ra
thiệt hại lớn. Dự trữ lớn của Nhà nớc thì lại không thể trang trải tổn thất nhỏ lẻ,
phân tán của từng cá nhân gia đình hay một doanh nghiệp bị thất bại nhất là trong
bối cảnh này nớc ta đang chuyển dần sang nền kinh tế thị trờng, doanh nghiệp
phải tự chủ và bảo toàn vốn của mình hay bị thiên tai và tai nạn bất ngờ gây thiệt
hại. Biện pháp hữu hiệu nhất khắc phục đợc hai nhợc điểm trên là tổ chức bảo
hiểm nh một dịch vụ tài chính có tính chất chuyên nghiệp - bảo hiểm thơng mại
(hay còn gọi là bảo hiểm rủi ro)
Đối tợng của bảo hiểm thơng mại là: con ngời, tài sản và trách nhiệm. Quỹ
bảo hiểm đợc lập ra từ sự đóng góp cá nhân, đơn vị tham gia baỏ hiểm. Ngoài ra
còn dùng để chi lập quỹ dự trữ, chi cho việc quản lý của doanh nghiệp, chi thực
hiện nghĩa vụ đói với ngân sách Nhà nớc. trong những trờng hợp cụ thể đợc chi
dùng cho việc tiến hành các biện pháp để phòng hạn chế tổn thất. Nh vậy có thể
nói bảo hiểm có một sức mạnh tài chính để trở thành tấm lá chắn về kinh tế trớc sự
tàn phá của hiểm hoạ bất ngờ.

Vụ tai nạn xe khách mang biển số 63A - 53 - 89, bị mất phanh khi xuống dốc
tại đèo Cù Mông, xe đâm vào vách đá làm 36 ngời chết, 47 ngời bị thơng.
Vụ tai nạn tại đèo Cả tỉnh Khánh Hoà, xe 75B - 18 - 91 của HTX ô tô Huế
tỉnh Thừa Thiên Huế so va chạm với một xe đã bốc cháy dữ dội rồi lao xuóng
biển, 29 hành khách trên xe chết và 11 ngời bị thơng nặng, xe bị phá huỷ hoàn
toàn.
Vụ tai nạn xe khách mang biển số 37H -17 - 00, lái xe đã tự ý trao tay lái cho
chủ xe không có bằng lái nên làm chết 6 ngời đi xe máy đang đi ngợc đờng.
Qua những số liệu trên cho thấy những vụ tai nạn để lại hậu quả rùng rợn nh
thế thiết nghĩ nếu không có bảo hiểm trách nhiệm dân sự thì làm sao có thể kéo lại
đợc phần nào mất mát và thiệt hại khủng khiếp ấy.
Nh vậy, cũng nh các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ khác, hoạt động
GTVT cần đợc bảo hiểm hay nói một cách khác hoạt động GTVT không thể tách
rời bảo hiểm. Vì thế sự ra đời của loại hình bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ
xe cơ giới đối với ngời thứ ba là đòi hỏi tất yếu.
Trên thế giới, nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với ngời thứ
ba đợc ra đời ở thế kỷ XIX gắn kèm với sự phát minh và sử dụng xe hơi.
Tốc độ phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm này rất mạnh mẽ, nhất là đối với
các nơc phát triển nh: Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật v.v Doanh thu của nó chiếm tỷ
trọng lớn (trên dới 30% ) Trong tổng doanh thu toàn bộ hoạt động bảo hiểm. Hiện
nay hầu hết các nớc trên thế giới đều có qui định đây là loại bảo hiểm "bắt buộc"
ở Việt Nam do những đặc điểm trên, đặc biệt là do tổ chức hoạt động của xe
cơ giới là nguồn nguy hiểm cực độ, thực tế đã gây ra tai nạn thờng xuyên không
thể lờng trớc đợc. Hơn thế nữa, để đảm bảo quyền lợi cho ngời bị nạn khi có thiết
hại xảy ra ngày 10/3/1998 Hội đồng Bộ trởng đã ra nghị định số 30/HĐBT qui
định bắt buộc tất cả các chủ xe cơ giới đăng ký hoạt động trên lãnh thổ các nớc
CHXHCN Việt Nam đều phải tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe
tại Bảo Việt.
Trách nhiệm dân sự của chủ xe ở đây là phần trách nhiệm bồi thờng những
hậu quả đợc tính bằng tiền theo qui định của luật pháp hoặc phán quyết của toà án

kinh tế không thể lờng trớc nổi, cần thiết phải có một biện pháp kinh tế thành lập
quỹ dự trữ bồi thờng trách nhiệm dân sự của chủ xe.
- Bồi thờng chủ động, kịp thời cho chủ xe khi phát sinh trách nhiệm dân sự.
Khi tai nạn giao thông xảy ra, trong đó lỗi của lái xe thì Công ty bảo hiểm (Nơi
mà chủ xe tham gia bảo hiểm) sẽ thông qua hoạt động nghiệp vụ của mình tiến
hành việc chi bồi thờng cho các chủ xe một cách kịp thời, giúp các chủ xe có thêm
điều kiện vật chất để nhanh chóng khắc phục hậu quả xẩy ra không khải chi ra
những khoản chi bất thờng gây mất cân đối về mặt tài chính.
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe ra đời đã có tác dụng:
- Đề ra các biện pháp để phòng ngừa và ngăn ngừa tai nạn tích cực giảm số
vụ tai nạn có thể xẩy ra. Bằng cách thông qua công tác bảo hiểm trách nhiệm chủ
xe, thúc đẩy các lái xe thực hiện tốt biện pháp an toàn nhằm giảm một cách tối đa
các tổn thất có thể xẩy ra. Bên cạnh đó thông qua việc thu phí bảo hiểm để có
nguồn chi vào việc ngăn ngừa các tai nạn xảy ra, cụ thể là đợc thực hiện thông qua
việc chi đề phòng, hạn chế tổn thất nh: chi làm đờng lánh nạn, mở rộng hoặc làm
thêm đờng xá.v.v
Trong điều kiện cơ chế quản mới hiện nay, các đơn vị đợc giao vốn và tự cân
đối về mặt tài chính. Vì vậy, đối với các chủ xe, khoản chi bồi thờng cho ngời bị
nạn khi không may xe gây tai nạn cho ngời khác là rất lớn. Song nếu chủ xe đã
tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự, mà gặp phải tai nạn gây thiệt hại cho ngời
thứ ba thì các chủ xe đã có nguồn để bì đắp sự thiệt hại. Đó chính là số tiền bồi
thờng giúp cho các đơn vị, chủ thể ổn định và phát huy quyền tự chủ về tài chính
khi không may xẩy ra tai nạn mất ngờ phát sinh trách nhiệm của xe, làm thiệt hại
kinh tế của chủ xe.
Bên cạnh các tác dụng trên, bảo hiểm TNDS còn hỗ trợ chủ xe trong việc th-
ơng lợng, hoà giải với nạn nhân, xoa dịu, làm bớt căng thẳng giữa lái xe với nạn
nhân.
Đồng thời với ngời bị nạn, bảo hiểm trách nhiệm dân sự cũng giúp cho họ
giảm bớt những khó khăn ban đàu, có sự giải quyết thích đáng khi tai nạn xẩy ra.
Với những tác dụng trên, một lần nữa lại khẳng định sự cần thiết khách quan

3- Mối quan hệ nhân của giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại đã xẩy ra:
Thiệt hại xẩy ra: thiệt hại xẩy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp
luật. Ngợc lại hành vi pháp luật là nguyên nhân trực tiếp, có ý nghĩa quyết định
gây ra thiệt hại. Không có hành vi trái pháp luật, chắc chắc không có thiệt hại.
Trờng hợp hành vi trái pháp luật không phải là nguyên nhân chính gây ra
thiệt hại nhng lại là nguyên nhân trực tiếp, gây ra tai nạn thì cũng đợc coi là có
mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của thiệt hại thức tế.
Ví dụ: Một số ô tô đang chạy trên đờng, đội nhiên thấy xuất hiện xe máy
trong ngõ hẻm lao ra. Buộc ngời lái xe ô tô đánh tay lái về phía lề đờng bên phải
để tránh chiếc xe máy. Nhng không may đã gây tai nạn cho ngời đi xe đạp trong
sát lề đờng. Trờng hợp vụ tai nạn đó ngời lái xe máy là nguyên nhân quyết định,
gây ra tai nạn. Do với hành vi của ngời lái xe ô tô và với thiệt hại của ngời lái xe
đạp vẫn có mối quan hệ nhân quả.
4- Ng ời gây tai nạn có lỗi:
Khi xẩy ra tai nạn, chủ xe (lái xe) phải nhận thức đợc hành vi của mình là trái
pháp luật. Hành vi đó có thể do lỗi cố ý, lỗi vô ý hoặc thiếu tinh thần trách nhiẹm.
Mức độ lỗi đó sẽ là cơ sở để tính toám trách nhiệm bồi thờng cho nạn nhân.
Tuy nhiên, không phải bất kỳ vụ tai nạn nào ngời lái xe cũng có lỗi. Thực tế
có những vụ tai nạn xảy ra không do lỗi của ai. Nguyên nhân tai nạn là do sự hoạt
động của nguồn nguy hiểm cao độ.
Ví dụ: Xe đang chạy bị mất phanh đâm xuống vực hoặc va vào vách đá.v.v
Tóm lại, khi có tai nạn xẩy ra, trách nhiệm dân sự của chủ xe hay trách
nhiệm bồi thờng của bảo hiểm chỉ phát sinh khi vụ tai nạn có ít nhất 3 điều kiện.
- Thiệt hại thực tế
- Hành vi trái pháp luật
- Mối quan hệ nhân quả giữa chúng
Ba điều kiện đó phải xẩy ra đồng thời trong một vụ tai nạn. Không phát sinh
trách nhiệm bồi thờng của bảo hiểm nếu thiếu một trong 3 điều kiện trên. Còn
điều kiện thứ t có thể có, có thể không xẩy ra nhng vẫn phát sinh trách nhiệm bồi
thờng.

Ngoài những điều khoản chủ yếu trên, quy tắc còn có một số điều khoản phụ.
3- Ngời đợc bảo hiểm
Đối với bảo hiểm trách nhiệm dân sự cũng nh bảo hiểm tài sản, ngời đợc bảo
hiểm bao giờ cũng là ngời đợc bồi thờng.
Trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe, khi xe gây thiệt hại cho bên thứ
ba, ngời đợc bảo hiểm bồi thờng là chủ xe hoặc ngời đại diện cho chủ xe. Đại diện
chủ xe uỷ quyền.
Chủ xe là ngời đợc pháp luật Nhà nớc công nhận có đủ các quyền hạn sau
- Quyền sở hữu xe
- Quyền quản lý xe
- Quyền cho thuê xe
- Quyền bán hoặc nhợng xe
Nh vậy, lái xe không phải là chủ xe. Trớc pháp luật Nhà nớc, lái xe không đủ
t cách pháp nhân là ngời tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự trớc Nhà nớc về sự
hoạt động xe của mình. Lái xe chỉ là ngời đợc chủ xe uỷ quyền điều khiển xe hoặc
là ngời làm công ăn lơng cho chủ xe. Do đó lái xe cũng phải là ngời đợc bảo vệ
trực tiếp mà chính chủ xe mới là ngời đợc bảo hiểm về mặt trách nhiệm dân sự.
Khái niệm bên thứ ba trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe là phía
nạn nhân trong vụ tai nạn. Bên thứ ba có thể là ngời trực tiếp bị tai nạn, hoặc
những ngời có tài sản, hành lý bị tai nạn, hoặc những ngời có tài sản, hành lý bị
thiệt hại do hậu quả của vụ tai nạn gây ra. Hoặc không phải bất kỳ ngời nào là nạn
nhân trong vụ tai nạn cũng thuộc bên thứ ba. Trong lúc bảo hiểm trách nhiệm dân
sự của chủ xe có quy định loại trừ những ngời không thuộc ngời thứ ba, đó là:
- Thân nhân của chủ xe
- Thân nhân của ngời lái xe
- Ngời làm công cho chủ xe hoặc những ngời ở trên xe
- Của cải và tài sản của các đối tợng trên thị trờng bị thiệt hại cũng nh những
tài sản của những ngời khác đang đợc giam giữ tại chủ xe.
Tất cả các đối tợng trên đây khi bị tai nạn gây thiệt hại không thuộc về bên
thứ ba.

- Tai nạn xẩy ra do lái xe có hành động cố ý gây ra tai nạn. Hoặc lái xe
không đủ điều kiện hợp pháp để lu hành xe nh lái xe đang trong tình trạng say rợu
hay sử dụng quá nhiều chất kích thích.
- Nạn nhân tự mình lao vào xe đang chạy hoặc nhảy lên nhảy xuống khi xe
cha dừng bánh.
- Các vật dụng chuyên chở trên xe rơi xuống đờng hoặc va quyệt gây tai nạn
làm thiệt hại cho phía ngơì đi đờng. Trờng hợp này tai nạn sẩy ra không do sự hoạt
động của xe mà do bốc xếp hay không đảm bảo đủ yêu cầu vận chuyển. Trách
nhiệm đó thuộc lỗi ngời chuyên chở không thuộc chủ xe.
- Tai nạn xẩy ra do xe không đảm bảo kỹ thuật và thiết bị an toàn để lu hành
teo quy định trong điều lệ trật tự an toàn giao thông đờng bộ nh: Phanh xe hỏng,
vô lăng không đièu khiển đợc, xe đi đêm không có đèn, xe đang trong thời gian
sửa chữa hoặc chậy thử .
- Xe chuyên chở quá trọng tải, chạy quá tốc độ quy định gây thiệt hại đến đ-
ờng xá, cầu cống và ngời thứ ba.
Những thiệt hại này thuộc rủi ro biết trớc xẩy ra nhng cố tình vi phạm.
Ngoài những nguyên nhân gây tai nạn trên, thiệt hại của ngời theo quy định
không thuộc ngời thứ ba hoặc những thiệt hại xẩy ra ngoài lãnh thổ nớc CHXHCN
Việt Nam (Trừ những trờng hợp có thoả thuận riêng với cơ quan bảo hiểm Nhà n-
ớc ) cũng không thuộc trách nhiệm bảo hiểm.
5. Số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm
5.1. Số tiền bảo hiểm:
Là giới hạn trách nhiệm bồi thờng tối đa của bảo hiểm đối với các trờng hợp
trách nhiệm dân sự phát sinh.
Bộ Tài chính quy định hạn mức trách nhiệm tối thiểu bắt buộc cho mọi chủ
xe. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp bảo hiểm có thể đa ra các mức trách nhiệm tự
nguyện cao hơn mức bắt buộc đó để các chủ xe lựa chọn. Việc quy định trách
nhiệm cao hay thấp phụ thuộc vào các yếu tố nh: nhu cầu bảo hiểm và khả năng
tài chính của các chủ xe, tình hình thực tế tai nạn, loại phơng tiện và thậm chí cả
khả năng đảm bảo của nhà bảo hiểm. Nhà bảo hiểm có thể quy định mức một số

thu, dùng để chi cho quản lý kinh doanh và các khoản chi khác (hoa hồng, giám
định )
Phí thuần đợc xác định dựa trên xác suất xẩy ra rủi ro và thiệt hại bình quân
trên số xe hoạt động đã đợc thống kê trong khoảng thời gia trớc đó.
F = + d
Trong đó: F - Số phí thu một đầu xe
- Thực phí
d - Phụ phí
Tuỳ theo mỗi nghiệp vụ bảo hiểm ở các thời kỳ khác nhau quá trình khai thác
và quản lý nghiệp vụ khác nhau, phụ phí (d) chiếm tỷ lệ khác nhau. Nhng thông
thờng chiếm từ 20 - 30%
Thực phí đợc xác định theo công thức:

=
n
i
SiTi
1

=
n
i
Ci
1
=
Trong đó:
Si: số vụ tai nạn xẩy ra có phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe trong năm
thứ i
Ti: Thiệt hại bình quân đối với mõi vụ tai nạn cùng năm
Ci: Số xe hoạt động thực tế mỗi năm

Biểu phí bắt buộc taị Công ty bảo hiểm Hà Nội.
* Mức trách nhiệm dân sự của chủ xe đối với ngời thứ ba
Về ngời : 7 triệu đồng/ ngời/ vụ.
Về tài sản : 40 triệu đồng / vụ
Phí đóng là: 65.000 đồng
Ngoài ra Công ty bảo hiểm còn mở thêm các hạn mức trách nhiệm cao hơn,
tơng ứng với các vức phí cao hơn.
Chẳng hạn cũng ví dụ trên chủ xe còn có thể tham gia hai hạn mức trách
nhiệm sau:
* Mức chọn 1:
Về ngời: 10 triệu đồng/ngời/ vụ
Về tài sản : 60 triệu đồng/ vụ
Phí đống: 80.000 đồng
* Mức chọn 2:
Về ngời: 15 triệu đồng / ngời / vụ
Về tài sản: 69 triệu đồng / vụ
Phí đóng : 85.000 đồng

* Mức chọn 2:
Về ngời: 15 triệu đồng/ ngời/vụ
Về tài sản: 60 triệu đồng/vụ
Phí đóng: 85.000đ
Trên cơ sở mức trách nhiệm bảo hiểm và mức phí bảo hiểm mà Bảo Việt đề
ra chủ xe phải có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm đầy đủ và đúng kỳ hạn.
5.3. Trách nhiệm đóng phí và thời gian thu nộp phí
Nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm là trách nhiệm của những ngời đứng tên chủ xe
trong giấy phép lu hành xe. Những xe không đợc cấp giấy phép lu hành, nghĩa vụ
nộp phí thuộc về trách nhiệm của ngời quản lý chiếc xe đó. Đối với những xe lần
đầu tiên đa ra sử dụng, nghĩa vụ nộp phí thuộc ngời đứng tên cho chủ xe không có
biển đăng lý, nghĩa vụ nộp phí thuộc về ngời đã mua xe.

ngoài khi vào Việt Nam tham quan hay công tác có mang theo. Thời gian xe hoạt
động trên lãnh thổ nớc CHXHCN Việt Nam dài hơn so với thời gian đã nộp phí thì
chủ xe phải nộp thêm phí bảo hiểm cho những ngày kéo dài đó.
Trờng hợp chủ xe nớc ngoài khi vào lãnh thổ nớc ta có thể chứng minh đợc
cơ quan bảo hiểm nớc họ đã nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với những thiệt
hại do hoạt động xe của họ gây ra, đồng thời uỷ quyền cho Bảo Việt bồi thờng
thiệt hại do sự lu hành xe đó gây ra trong thời gianm hoạt động của xe nớc ngoài
vợt quá thời hạn uỷ nhiệm, chủ xe phải có trách nhiệm nộp phí cho những ngày
kéo dài vào ngày dầu tiêu của thời gian đó.
Phí bảo hiểm thu trên cơ sở biểu phí của Bộ tài chính ban hành, nguyên tắc
thay bằng USD hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi trờng hợp chủ xe thật sự khó khăn
ngoại tệ thì Bảo Việt có thể thu bằng đồng Việt Nam chuyển đổi trên cơ sở biểu
phí ngoại tệ do Bộ Tài chính ban hành, theo tỷ giá ngân hàng công bố tại thời
điểm thu phí.
5.4. Mức tăng, giảm phí:
Để động viên các chủ xe tăng cờng công tác đề phòng và hạn chế tai nạn.
Bộ tài chính cho phép tăng giảm phí tuỳ theo mức độ tổn thất của từng xe chủ xe.
Công ty phải thống kê, theo dõi số xe số phí bảo hiểm, tình hình tai nạn, bồi thờng
của từng chủ xe xét theo từng năm thì mới có điều kiện để thực hiện tăng giảm
phí.
Đối với xe trong nớc chỉ áp dụng tăng giảm phí với những chủ xe có ít nhát
từ 10 xe trở lên.
Chủ xe là ngời nớc ngoài, áp dụng tăng giảm phí đối với từng chủ không kể
đến số lợng tham gia bảo hiểm nhiều hay ít.
Tỷ lệ tổn thất đợc xác định trên cơ sở số tiền bồi thờng và số phí thu của
chủ xe trong năm trớc của năm bảo hiểm nhiều hay ít.
Tỷ lệ tổn thất đợc xác định trên cơ sở số tiền bồi thờng và số phí thu của
chủ xe trong năm trớc của năm bảo hiểm. Khi tính toán số tiền bồi thờng chú ý
bao gồm cả số tiền bồi thờng thiệt hại xe gây ra tai nạn ở các tỉnh khác gây ra vào
đầu tháng 12 để các Công ty Bảo hiểm có điều kiện tính phí cho cả năm bảo hiểm

nhất biết:
+ Ngày, giờ, địa điểm xẩy ra tai nạn
+ Số đăng ký xe gây tai nạn
+ Họ tên ngời lái xe.
+ Tên nạn nhân và địa chỉ .
+ Mức độ nghiêm trọng của vụ tai nạn
+ Nguyên nhân xẩy ra tai nạn và mức độ xử lý ban đầu của ngời chủ xe (lái
xe) .
Mặt khác chủ xe có nghĩa vụ hoàn lại tiền cho cơ quan boả hiển khi cơ quan
bảo hiểm đã gaỉi quyết trong một số trờng hợp chủ xe hoặ lái xe vi phạm luật lệ
giao thông cũng nh những quy định khác của bảo hiểm.
Ngoài trách nhiệm của những ngời tham gia bảo hiểm, chủ xe có những
quyền lợi trong hợp đồng nh:
+ Quyền tham gia phân phối quỹ bảo hiểm, tức là quyền hởng bồi thờng khi
có tai nạn rủi ro đợc bảo hiểm xảy ra.
+ Quyền yêu cầu của cơ quan bảo hiểm bổ xung, sửa đổi hợp đồng và mở
rộng phạm vi trách nhiệm của bảo hiểm.
+ Quyền bổ xung và khiếu nại đòi bồi thờng trong thời hạn 2 năm kể từ khi
có tai nạn xẩy ra. Quá thời hạn, nếu chủ xe không có yêu cầu gì thì trách nhiệm
bảo hiểm mới kết thúc.
7. Công tác giám định và bồi thờng.
7.1. Công tác giám định:
Để đảm bảo tính trung thực, khách quan cho cả 3 bên : Ngời bị nạn, chủ xe,
(lái xe) và bảo hiểm , cơ quan bảo hiểm đã xúc tiến việc giám định nguyên nhân
và hậu quả vụ tai nạn. Qua đó xác định phạm vi trách nhiệm của bảo hiểm nấu xét
thấy tai nạn thuộc phạm vi trách nhiệm của bảo hiểm, cơ quan bảo tiếp tục xúc
tiến các công việc sau:
- Phối hợp với cảnh sát giao thông tiến hành giám định hiện trờng sau khi
xẩy ra tai nạn, mức độ nỗi của các bên có liên quan trong vụ tai nạn.
- Tranh thủ ý kiến của chủ xe và lời khai của nhân chứng qua tờ khai tai nạn

Khi quá mức bồi thờng không còn phù hợp với thực tế thì hai bên có quyền
yêu cầu toà án hoặc cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thờng.
* Tính toán mức bồi thờng của ngời gây thiệt hại:
+ Mức bồi thờng thiệt hại phụ thuộc vào mức độ lỗi của ngời gây thiệt hại
và thiệt hại của nạn nhân. Trờng hợp tai nạn xảy ra hoàn toàn do lỗi của ngời gây
thiệt hại thì họ có nghĩa vụ bồi thờng toàn bộ thiệt hại cho nạn nhân.
+ Trờng hợp cả bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại cùng có lỗ thì bên gây
thiệt hại vẫn phải bồi thờng phù hợp với mức độ lỗi của họ. Nếu thiệt hại xảy ra
hoàn toàn do lỗi của một ngời nào khác thì ngời này phải bồi thờng. Nếu lỗi của

Trích đoạn Về thuận lợi: Về khó khăn: Khâu khai thá c: Công tác đề phòng, hạn chế tổn thất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status