Ch ng I Nh ng v n lý lu n chung v b o hi mươ ữ ấ đề ậ ề ả ể
h ng hoá xu t nh p kh u v công tác giám nhà ấ ậ ẩ à đị
b i th ngồ ườ
I. SỰ CẦN THIẾT KH CH QUAN V LÁ À ỊCH SỬ PH T TRIÁ ỂN CỦA BẢO HIỂM
H NG HO XUÀ Á ẤT NHẬP KHẨU .
1. Sự cần thiết khách quan.
Như chúng ta đã biết, dịch vụ vận chuyển nói chung và vận chuyển hàng
hoá xuất nhập khẩu (XNK) bằng đường biển nói riêng ngày càng đóng vai trò
quan trọng trong thương mại quốc tế. Có thể nói “không có thương mại nếu
không có vận chuyển”. Có nhiều phương tiện vận chuyển hàng hoá XNK bằng
đường biển, đường sắt ,đường hàng không…Trong đó ,vận chuyển bằng đường
biển chiếm khoảng 90 % tổng khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu của thế giới.
Nhiều nước ở vị trí không tiếp giáp với biển cũng phải thông qua cảng của nước
khác để vận chuyển hàng hoá bằng đường biển như Cộng hoà Séc,
Hunggary,Lào…Bởi vì vận chuyển bằng đường biển có rất nhiều ưu điểm :
- Có thể vận chuyển được nhiều chủng loại hàng hoá với khối lượng lớn,
mà các phương tiện vận tải khác như :Đường bộ ,đường sông, đường hàng
không…không thể đảm nhận được, chẳng hạn như các loại hàng hoá siêu
trường, siêu trọng.
- Các tuyến vận chuyển đường biển rộng lớn nên trên một tuyến có thể tổ
chức được nhiều chuyến tàu trong cùng một lúc cho cả hai chiều.
- Việc xây dựng và bảo quản các tuyến đường biển dựa trên cơ sở lợi
dụng điều kiện thiên nhiên của biển, do đó không phải đầu tư nhiều về vốn,
nguyên vật liệu, sức lao động. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho giá
thành vận chuyển bằng đường biển thấp hơn so với các phương tiện vận tải khác
.
- Vận chuyển bằng đường biển góp phần phát triển tốt mối quan hệ kinh
tế với các nước ,thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại của nhà nước, góp phần
tăng thu ngoại tệ …
Vì vậy, hoạt động vận chuyển bằng đường biển ngày càng phát triển
mạnh mẽ. Tuy nhiên cũng có một số nhược điểm sau:
mại và có ảnh hưởng sâu sắc tới vấn đề kinh tế-xã hội cho cả hai nước xuất và
nhập .Ngoài ra, các nguyên nhân khác như: Trách nhiệm của người chuyên chở
đường biển rất hạn chế và việc khiếu nại đòi bồi thường rất khó khăn; Có bảo
hiểm mới bảo vệ được lợi ích của doanh nghiệp trong trường hợp có tổn thất và
tạo ra tâm lý an tâm trong kinh doanh.Vì vậy bảo hiểm hàng hoá XNK vận
chuyển bằng đường biển là sự cần thiết khách quan ,đến nay đã trở thành tập
quán thương mại quốc tế.
2. Lịch sử phát triển của bảo hiểm h ng hoá xuà ất nhập khẩu:
2.1. Trên thế giới
Bảo hiểm hàng hải đã có lịch sử rất lâu đời. Một trong những đơn bảo
hiểm đầu tiên mà người ta tìm thấy là đơn bảo hiểm cấp vào năm 1347 tại
Genoa(Italia) cho tàu Santaclara đi đến quần đảo Magioca thuộc Tây Ban
Nha.Người ta cho rằng bảo hiểm hàng hải ra đời bắt đầu từ những người cho
vay nặng lãi sống ở miền Bắc Italia.Những người này thường cho chủ tàu vay
nợ với điều kiện là nếu đi tàu trót lọt thì chủ tàu phải trả một khoản lãi rất nặng.
Ngược lại, nếu tàu bị đắm, mất hết thì được xoá nợ. Lối cho vay này gọi là vay
“được ăn cả ngã về không” hay cho vay kiêm bảo hiểm. Bảo hiểm sau đó phát
triển sang Anh. Nước Anh là nước có nền ngoại thương phát triển nên bảo hiểm
cũng phát triển sớm và đầy đủ hơn. Bảo hiểm ra đời và phát triển cùng với sự
phát triển của hàng hoá và ngoại thương. Khoảng thế kỷ 5 trước công nguyên,
vận chuyển hàng hoá bằng đường biển đã ra đời và phát triển. Người ta đã biết
tránh tổn thất toàn bộ một lô hàng bằng cách chia nhỏ, phân tán chuyên chở trên
nhiều thuyền khác nhau. Đây có thể nói là hình thức sơ khai của bảo hiểm hàng
hoá.
Năm 1182 ở Lomborde-Bắc ý, hợp đồng bảo hiểm, người bảo hiểm đã ra
đời, trong đó người bán đơn này cam kết với khách hàng sẽ thực hiện nội dung
đã ghi trong đơn. Từ đó hợp đồng bảo hiểm đã ra đời với tư cách như là một
nghề riêng độc lập.
Năm 1452 tại Venise –ý đạo luật đầu tiên về bảo hiểm hàng hải đã ra đời.
Sự phát triển của thương hàng hải đã dẫn đến sự ra đời và phát triển mạnh mẽ
- Có sự chuyển giao quyền sở hữu lô hàng XNK từ người bán sang người mua
- Hàng hoá XNK thường được vận chuyển qua biên giới quốc gia, phải
chịu sự kiểm soát của hải quan, kiểm dịch …tuỳ theo quy định của mỗi nước.
Đồng thời để được vận chuyển ra (hoặc vào ) qua biên giới phải mua bảo hiểm
theo tập quán thương mại quốc tế. Người tham gia bảo hiểm có thể là người bán
hàng (người xuất khẩu) hoặc người mua hàng (người nhập khẩu). Hợp đồng bảo
hiểm (HĐBH) thể hiện quan hệ giữa công ty bảo hiểm và người mua bảo hiểm
đối với hàng hoá được bảo hiểm. Nếu người bán hàng mua bảo hiểm thì phải
chuyển nhượng lại cho người mua hàng để khi hàng về đến nước nhập, nếu bị
tổn thất có thể đòi công ty bảo hiểm bồi thường .
- Hàng hoá XNK thường được vận chuyển bằng các phương tiện khác
nhau theo các phương thức vận chuyển đa phương tiện, trong đó có tàu biển.
Người vận chuyển hàng đồng thời cũng là người giao hàng cho người mua .
Quá trình XNK hàng hoá có liên quan đến nhiều bên, trong đó có bốn bên
chủ yếu là: Người bán, Người mua, Người vận chuyển và Người bảo hiểm. Vì
vậy phải phân định rõ ràng trách nhiệm các bên liên quan.
2.Trách nhiệm của các bên liên quan
Hoạt động XNK hàng hoá thường được thực hiện thông qua ba loại hợp đồng:
- Hợp đồng mua bán
- Hợp đồng vận chuyển
- HĐBH
Ba hợp đồng này là cơ sở pháp lý để phân định trách nhiệm các bên liên
quan và trách nhiệm này phụ thuộc vào điều kiện giao hàng của hợp đồng mua
bán. Theo các điều kiện thương mại quốc tế "INCOTERM2000” (International
Commercial terms) có 13 điều kiện giao hàng, được phân chia thành 4 nhóm
E,F,C,D,như sau:
- Nhóm E: EXW (ex-work) giao hàng tại cơ sở của người bán .
- Nhóm F: Cước vận chuyển chính chưa trả,gồm:
+ FCA(Free carrier ) giao hàng cho người vận tải.
+ FAS (Free alongside ship) giao hàng dọc mạn tàu.
- Người bán (Người xuất khẩu):Chuẩn bị hàng hoá theo đúng hợp đồng
về số lượng ,chất lượng, loại hàng, bao bì đóng gói, thời hạn tập kết hàng ở
cảng, thủ tục hải quan, kiểm dịch …
Nếu bán theo giá CIF, người bán phải mua bảo hiểm cho hàng hoá ,sau đó
ký vào hậu đơn bảo hiểm đó để chuyển nhượng quyền lợi bảo hiểm cho người
mua.
- Người mua (người nhập khẩu ): Có trách nhiệm nhận hàng của người
chuyên chở theo đúng số lượng chất lượng đã ghi trong hợp đồng vận chuyển
và hợp đồng mua bán, lấy giấy chứng nhận kiểm đếm, biên bản kết toán giao
nhận hàng với chủ tàu,biên bản hàng hoá hư hỏng đổ vỡ do tàu gây nên (nếu
có).
Nếu sai lệch về số lượng, chất lượng với hợp đồng mua bán, nhưng đúng
với hợp đồng vận chuyển thì người mua bảo lưu quyền khiếu nại đối với người
bán. Nếu phẩm chất, số lượng sai lệch so với biên bản giao hàng thì người mua
căn cứ vào hàng hư hỏng, đổ vỡ do tàu gây nên mà khiếu nại người vận
chuyển .
Ngoài ra, người mua còn có trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hoá
hoặc nhận từ người bán chuyển nhượng lại .
- Người vận chuyển; Có trách nhiệm chuẩn bị phương tiện vận chuyển
theo yêu cầu kỹ thuật thương mại và kỹ thuật hàng hải, giao nhận hàng đúng
quy định theo hợp đồng vận chuyển .Theo tập quán thương mại quốc tế, tàu chở
hàng cũng phải được bảo hiểm.
Người vận chuuyển còn có trách nhiệm cấp vận đơn cho người gửi hàng.
Vận đơn (Bill of lading) là một chứng từ vận chuyển hàng trên biển do người
vận chuyển cấp cho người gửi hàng nhằm nói lên quan hệ pháp lý giữa người
vận chuyển, người nhận hàng và người gửi hàng .Có nhiều loại vận đơn, nhưng
ở đây cần quan tâm đến vận đơn hoàn hảo (clean B/L) và vận đơn không hoàn
hảo(unclean B/L).
- Người bảo hiểm có trách nhiệm đối với hàng hoá được bảo hiểm .Chẳng
hạn, kiểm tra chứng từ về hàng hoá, kiểm tra hành trình và bản thân con tàu vận
tranh ,đình công,bạo loạn…(gọi chung là rủi ro chiến tranh )thường không được
nhận bảo hiểm .Trong trường hợp chủ hàng yêu cầu, rủi ro chiến tranh sẽ được
nhận bảo hiểm kèm theo rủi ro thông thường được bảo hiểm với điều kiện trả
thêm phụ phí đặc biệt .
Các rủi ro được bảo hiểm phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra tổn thất
.Việc phân biệt nguyên nhân trực tiếp hay nguyên nhân gián tiếp có vai trò quan
trọng để xác định rủi ro gây ra tổn thất có phải là rủi ro được bảo hiểm hay
không. Những tổn thất nào có nguyên nhân trực tiếp là rủi ro được bảo hiểm gây
ra mới được bồi thường.
1.2. Tổn thất:
Tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá XNK là những thiệt hại, hư hỏng của
hàng hoá được bảo hiểm rủi ro gây ra.
Căn cứ vào quy mô, mức độ tổn thất có thể chia ra tổn thất bộ phận
(TTBP) và tổn thất toàn bộ (TTTB).
- TTBP là một phần của đối tượng được bảo hiểm theo một hợp đồng bảo
hiểm (HĐBH) bị mất mát, hư hỏng ,thiệt hại ,TTBP có thể là tổn thất về số
lượng, trọng lượng ,thể tích, phẩm chất hoặc giá trị .
Ví dụ :Xi măng bị mất 2 bao(100 kg), gạo bị ướt giảm giá trị thương mại
20%, chất lỏng (xăng,dầu) rò rỉ,bay hơi…
- TTTB là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theo một HĐBH bị hư hỏng,
mất mát, thiệt hại .
Có hai loại TTTB là TTTB thực tế và TTTB ước tính.
+ TTTB thực tế là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theo một HĐBH bị
hư hỏng, mất mát, thiệt hại bị biến chất, biến dạng không còn như lúc mới được
bảo hiểm hay bị mất đi, bị tước đoạt không lấy lại được nữa. Chỉ có “TTTB
thực tế” trong 4 trường hợp sau:
*Hàng hoá bị huỷ hoại hoàn toàn;
*Hàng hoá bị tước đoạt không lấy lại được ;
*Hàng hoá không còn là vật thể bảo hiểm ;
*Hàng hoá ở trên tàu mà tàu được tuyên bố mất tích.
biển.
Các thiệt hại, chi phí hoặc h nh à động được coi l TTC khi có các à đặc trưng
sau:
- H nh à động TTC phải l h nh à à động tự nguyện, hữu ý của những
người trên t u theo là ệnh của thuyền trưởng hoặc người thay mặt thuyền
trưởng;
- Hy sinh hoặc chi phí phải đặc biệt, bất thường;
- Hy sinh, hoặc chi phí phải hợp lý v vì an to n chung cho tà à ất cả các
quyền lợi trong h nh trình ;à
- Nguy cơ đe doạ to n bà ộ h nh trình phà ải nghiêm trọng v thà ực tế;
- Mất mát,thiệt hại hoặc chi phí phải l hà ậu quả trực tiếp của h nh à động
TTC;
- TTC phải xảy ra trên biển.
TTC bao gồm hai bộ phận chủ yếu đó l hy sinh TTC v chi phí TTC.à à
+ Hy sinh TTC l nhà ững thiệt hại hoặc chi phí do hậu quả trực tiếp của
một h nh à động TTC .Ví dụ, việc vứt bỏ bớt h ng vì lý do an to n cà à ủa
t u ,à đốt vật phẩm trên t u à để thay nhiên liệu …
+ Chi phí TTC l nhà ững chi phí phải trả cho người thứ ba trong việc
cứu t u v h ng thoát nà à à ạn hoặc chi phí l m cho t u tià à ếp tục h nh trình.à
Chi phí TTC bao gồm chi phí cứu nạn; chi phí l m nà ổi t u khi à đã bị
mắc cạn,chi phí thuê kéo ,lai,dắt t u khi bà ị nạn;chi phí tại cảng lánh nạn như:
Chi phí ra v o cà ảng,chi phí xếp dỡ,nhiên liệu …vì an to n chung hoà ặc để
sửa chữa tạm thời ;chi phí tái xếp h ng ,là ưu kho h ng hoá; tià ền lương cho
thuyền trưởng, thuyền viên; lương thực,thực phẩm,nhiên liệu tiêu thụ tại
cảng lánh nạn.
*Các thủ tục giấy tờ liên quan đến TTC: Khi xảy ra TTC, chủ t u hoà ặc
thuyền trưởng phải tiến h nh mà ột số công việc sau:
- Tuyên bố TTC ;
- Mời giám định viên để giám định tổn thất của t u v h ng (nà à à ếu có);
- Gửi cho các chủ h ng bà ản cam đoan đóng góp TTC để chủ h ng và à