LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI - Pdf 23

CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM VẬT CHẤT
XE CƠ GIỚI
1.1. Sự cần thiết khách quan và tác dụng của bảo hiểm vật chất xe cơ giới
1.1.1. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
Trong mỗi nền kinh tế, giao thông vận tải đóng vai trò then chốt trong
vận chuyển, lưu thông hàng hoá, con người. Kinh tế càng phát triển thì đi liền
với đó là nhu cầu về giao thông vận tải ngày càng tăng cao. Ngày nay, các
hình thức vận chuyển rất đa dạng và phong phú, có thể bằng đường sắt, đường
thuỷ, đường hàng không và đường bộ. Trong đó, nhu cầu sử dụng đường bộ
và đi kèm theo là xe cơ giới đã trở nên phổ biến. Việc sử dụng xe cơ giới để
làm phương tiện đi lại của các cá nhân, các tổ chức và các doanh nghiệp cũng
ngày càng tăng lên. Xe cơ giới là một trong những loại phương tiện có tính
cơ động cao, tính việt giã tốt và tham gia triệt để vào quá trình đi lại và vận
chuyển. Việc phát triển, nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ là một
trong những ưu tiên của Chính phủ các nước
Nguyên lý vận hành của xe cơ giới dựa trên sức mạnh của động cơ với
tốc độ nhanh, dẫn đến xac suất rủi ro cao, kéo theo số vụ tai nạn giao thông
ngày càng nhiều với mức độ thiệt hại ngày càng nghiêm trọng. Theo số liệu
thống kê của cục cảnh sát giao thông, trong số các loại phương tiện giao
thông đường bộ thì mức độ gây tai nạn giao thông ở xe cơ giới cao hơn các
loại phương tiện khác . Xe cơ giới vẫn là loại phương tiện có giá trị tài sản lớn
đối với các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp, do vậy khi gặp tai nạn thiệt
hại mà chủ xe phải gánh chịu sẽ rất lớn, ảnh hưởnh đến quá trình đi lại và
kinh doanh, gây khó khăn về mặt tài chính cho họ, nên việc bù đắp bằng tài
chính kịp thời là một nhu cầu hết sức cần thiết.
Cao học viên: Nguyễn Thành Vinh Lớp CH 16A
1
Bảng 1.1: Số xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ Việt Nam
(2004-2008):
Năm

(chiếc)
Tăng
(Giảm)
tương
đối (%)
2004
774.824 - - 13.375.992 - - 14.150.816 - -
2005 891.104 116.280 15,0 16.086.644 2.710.652 20,3 16.997.748 2.846.932 20,1
2006 1.026.512 135.408 15,2 18.901.206 2.814.562 17,5 19.927.718 2.929.970 17,2
2007 1.183.260 156.748 15,3 22.350.676 3.449.470 18,2 23.533.936 3.606.218 18,1
2008 1.352.510 169.250 14,3 23.850.127 1.499.451 6,7 25.202.637 1.668.701 7,1
( Nguồn: Báo cáo của ủy ban an toàn giao thông)
Qua bảng trên có thể nhận thấy số lương xe cơ giới tăng khá nhanh qua
các năm. Nếu năm 2004 số lượng xe ô tô mới là 774.824 xe thì năm 2008 đã
là 1.352.510 xe (gấp 1,75 lần); Số lượng xe máy tăng nhanh hơn: năm 2004 là
13.375.992 xe thì năm 2008 đã là 23.850.127 xe (gấp 1.78 lần).
Trong khi đó, Xe cơ giới tham gia giao thông phụ thuộc vào nhiều yếu
tố như: cơ sở hạ tầng, điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu. Ơ nước ta hiện nay
các tuyến đường bộ chất lượng vẫn chưa được cao, hơn nữa điều kiện thời tiết
diễn biến phức tạp do vậy nguy cơ xẩy ra tai nạn giao thông vẫn còn cao.
Mặt khác xe cơ giới chịu ảnh hưởng rất nhiều vào trình độ cũng như là
ý thức chấp hành luật lệ giao thông của lái xe. Xem xét nguyên nhân gây tai
ra các vụ tai nạn giao thông đường bộ trong năm các năm cho thấy, nguyên
nhân do lỗi của chủ phương tiện chiếm tới 70%, 30% còn lại là do các nguyên
nhân khác. Hầu hết các lái xe chạy quá tốc độ, phóng nhanh, vượt ẩu…
Những điều trên thực sự là mối đe doạ lớn về tính mạng và tài sản của
các chủ phương tiện tham gia giao thông nói riêng và toàn xã hội nói chung.
Để minh hoạ cho điều này chúng ta xem bảng dưới đây:
Cao học viên: Nguyễn Thành Vinh Lớp CH 16A
2

Tăng
(giảm)
tương
đối
Tăng
(giảm)
tuyệt
đối
Tăng
(giảm)
tương
đối
2004 29.135 _ _ 9.103 _ _ 27.102 _ _
2005 29.083 - 52 - 0,18 11.214 2.111 23,19 28.326 1.224 4,52
2006 30.125 1.042 3,58 12.111 891 8,00 28.965 639 2,26
2007 31.273 1.148 3,81 12.834 723 5,97 29.273 308 1,06
2008 32.277 1.004 3,21 13.469 635 4,95 29.491 218 0,74
(Nguồn: Báo cáo của Ủy ban an toàn giao thông)
Theo bảng số liệu trên, số vụ tai nạn giao thông hầu như không ngừng
tăng lên qua các năm, kéo theo đó là những thiệt hại về vật chất và con người.
Năm 2008 là 32.277 vụ tăng gấp 1,11 lần so với năm 2004; Số người chết
tăng gấp 1,48 lần; Số người bị thương tăng gấp 1,09 lần. Riêng năm 2005 tuy
số vụ tai nạn giao thông có giảm so với năm 2004 là 52 vụ nhưng những thiệt
hại về con người lại tăng lên đột biến; số người chết tăng 2.111 người và số
Cao học viên: Nguyễn Thành Vinh Lớp CH 16A
3
người bị thương tăng 1.224 người. Điều đó chứng tỏ mức độ nghiêm trọng
của các vụ tai nạn xảy ra trong năm này là rất cao.
Trước tình hình tai nạn giao thông gia tăng cả về số vụ và số người
chết, gây tổn thất không nhỏ về người và tài sản cho các chủ phương tiện

phục hậu quả. Tuy nhiên nếu tham gia bảo hiểm, các chủ xe sẽ nhận được một
khoản tiền bồi thường đấy đủ, nhanh chóng từ các nhà bảo hiểm, tình trạng
khó khăn ban đầu về tài chính do rủi ro gây lên sẽ nhanh chóng được giải
quyết, nhờ đó các chủ xe có thể trang trải được các chi phí bất ngờ phát sinh
vượt qúa khả năng tài chính, sớm ổn định đời sống. Từ đó, họ có thể khôi
phục sản xuất kinhdoanh và các hoạt động khác một cách bình thường.
Thứ hai: Bảo hiểm xe cơ giới góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất,
giúp cho cuộc sống của con người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm bớt
nỗi lo cho mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp.
Vai trò của bảo hiểm nói chung và bảo hiểm xe cơ giới nói riêng không
chỉ dừng lại ở việc bồi thường tổn thất, khắc phục hậu quả tai nạn mà còn
được thể hiện rất rõ trong việc đề phòng, hạn chế tổn thất, giảm thiểu tai nạn
giao thông. Khi đã tham gia bảo hiểm, cơ quan hoặc công ty bảo hiểm sẽ cùng
với người tham gia thực hiện các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất xảy
ra. Những nguy nan do cơ sở hạ tàng yếu kém đã được các doanh nghiệp bảo
hiểm hỗ trợ, đóng góp tài chính một cách tích cực để thực hiện các biện pháp
phòng tránh tai nạn, mua sắm thêm các dụng cụ phòng cháy chữa cháy, cùng
nghành giao thông làm các biển báo chỉ đường, đường phụ, đường lánh
nạn...từ đó đã làm giảm nguy cơ gây tai nạn. Đồng thời, doanh nghiệp bảo
hiểm cũng tăng cường thông tin, khuyến khích các chủ xe nâng cao ý thức đề
phòng, hạn chế rủi ro và tổn thất. Chẳng hạn, các doanh nghiệp bảo hiểm có
thể phối hợp với các ban nghành chức năng có liên quan để thực hiện tuyên
Cao học viên: Nguyễn Thành Vinh Lớp CH 16A
5
truyền luật an toàn giao thông Tính trung bình, hàng năm, các doanh nghiệp
bảo hiểm đã đóng góp hàng chục tỷ đồng cho công tác đề phòng và hạn chế
tai nạn. Ngoài ra, các doanh nghiệp bảo hiểm cũng dành cho các chủ xa, lái xe
ít để xảy ra tai nạn giao thông, thực hiện đề phòng hạn chế tổn thất tôt một
mức phí ưu đãi
Thứ ba: Góp phần ổn định chi tiêu, tăng thu cho ngân sách Nhà nước

(có thể lượng hoá bằng tiền); xe có giá trị sử dụng; xe có đầy đủ các điều kiện
về tiêu chuẩn kỹ thuật và pháp lý để được lưu hành; và xe cơ giới phải là một
chỉnh thể thống nhất với đầy đủ các bộ phận cấu thành
Đối tượng bảo hiểm vật chất xe cơ giới ở đây có thể là ôtô hoặc môtô.
Nếu đối tượng là môtô thì chủ xe phải tham gia bảo hiểm cho toàn bộ xe. Nếu
đối tượng bảo hiểm là ôtô thì khi tham gia bảo hiểm vật chất xe cơ giới, các
chủ xe có thể tham gia bảo hiểm cho toàn bộ xe hoặc chỉ tham gia bảo hiểm
cho từng tổng thành riêng biệt
Về mặt kỹ thuật xe cơ giới, xe ôtô được chia thành 7 tổng thành cơ bản:
- Tổng thành thân vỏ, bao gồm: cabin toàn bộ, calang, cabô, chắn bùn,
toàn bộ cửa và kính, toàn bộ đèn và gương, toàn bộ phần vỏ kim loại, các cần
gạt và bàn đạp ga, cần số, phanh chân, phanh tay...;
- Tổng thành hệ thống lái, bao gồm: vôlăng lái, trục tay lái, thanh kéo
ngang, thanh kéo dọc, phi de;
- Tổng thành hộp số, bao gồm: hộp số chính, hộp số phụ (nếu có);
- Tổng thành động cơ;
- Tổng thành trục trước (cần trước), bao gồm: dầm cầu trục lắp hệ
thống treo nhíp, mayơ nhíp, cơ cấu phanh, nếu là cần chủ động thì có thêm
cần visai với vỏ cần;
Cao học viên: Nguyễn Thành Vinh Lớp CH 16A
7
- Tổng thành trục sau, bao gồm: vỏ cầu toàn bộ, một cầu, visai, cụm
mayơ sau, cơ cấu phanh, xilanh phanh, trục lắp ngang, hệ thống treo cầu sau,
nhíp...;
- Tổng thành bánh xe, bao gồm: lốp, săm (kể cả săm lốp dự phòng);
Ngoài ra, với các xe chuyên dụng như xe cứu hoả, xe cứu thương, xe
chở container... thì có thêm tổng thành chuyên dụng.
Trong tất cả các tổng thành trên, tổng thành thân vỏ thường được chủ
xe ôtô lựa chọn tham gia bảo hiểm nhiều nhất vì đây là phần dễ tổn thương
nhất khi gặp phải rủi ro tai nạn giao thông.

- Tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gây nên;
Ngoài việc được bồi thường những thiệt hại vật chất xẩy ra cho chiếc
xe được bảo hiểm, nhà bảo hiểm còn thanh toán cho chủ xe tham gia bảo
hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý nhằm:
- Ngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh thêm khi xe bi thiệt hại do
các rủi ro được bảo hiểm;
- Chi phí bảo vệ xe và kéo xe thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất;
- Giám định tổn thất nếu thuộc trách nhiệm của bảo hiểm
Tuy nhiên, trong mọi trường hợp tổng số tiền bồi thường của công ty
bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm đã ghi trên đơn hay giấy chứng
nhận bảo hiểm. đồng thời công ty bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi
thường những thiệt hại vật chất của xe bị gây ra bởi:
- Hao mòn tự nhiên, mất giá, giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết
tật và hư hỏng do sửa chữa gây nên.
- Hư hỏng về điện hoặc bộ phận máy móc, thiết bị, săm nốp bị hư hỏng
ma không do tai nạn gây ra.
- Mất cắp các bộ phận của xe.
Cao học viên: Nguyễn Thành Vinh Lớp CH 16A
9
Để tránh những “nguy cơ đạo đức” lợi dung bảo hiểm, những hành vi
vi phạm pháp luật, luật lệ giao thông, hay một số những rủi ro đặc biệt khác,
những thiệt hại tổn thất xẩy ra bởi những nguyên do sau cũng không đươc bồi
thường:
- Hành động cố ý của chủ xe, lái xe;
- Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để lưu hành theo
pháp luật về an toàn giao thông đường bộ;
- Chủ xe (lái xe) vi phạm nghiêm trọng luật an toàn giao thông đường
bộ như:
. Xe không có giấy phép lưu hành;
. Lái xe không có bằng lái, hoặc không có những giấy tờ hợp lệ;

vào khấu hao và giá trị ban đầu (giá trị mua mới) của chiếc xe theo công thức:
G
BH
= G

- G
KH
Trong đó:
G
BH
: Giá trị bảo hiểm của chiếc xe.
G

: Giá trị ban đầu của chiếc xe, giá trị mua mới.
G
KH
: Giá trị được khấu hao của chiếc xe (theo năm).
G
KH
= G

* Tỷ lệ khấu hao*Số năm sử dụng
Để đánh giá chính xác giá trị bảo hiểm cần phải kiểm tra xe trước khi
nhận bảo hiểm sau đó sẽ đánh giá giá trị thực tế của xe. Hai bên sẽ cùng nhau
tiến hành kiểm tra xác nhận tình trạng xe tại thời điểm tham gia bảo hiểm và
cùng nhau thảo luận để xác định giá trị xe, trong nhiều trường hợp cụ thể
doanh nghiệp bảo hiểm cần phải thực hiện giám định tình trạng thực tế của xe
trong quá trình mà người chủ xe đã sử dụng chiếc xe đó
Cao học viên: Nguyễn Thành Vinh Lớp CH 16A
11

giá trị bảo hiểm
Cao học viên: Nguyễn Thành Vinh Lớp CH 16A
12
-Bảo hiểm ngang gia trị (bảo hiểm đúng giá trị): số tiền bảo hiểm bằng
giá trị bảo hiểm
-Bảo hiểm trên giá trị: số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm.
Trường hợp bảo hiểm toàn bộ xe, số tiền bảo hiểm chính là giá trị thực
tế của xe vào thời điểm ký kết hợp đồng. Đây còn gọi là trường hợp bảo hiểm
đúng giá trị.
Trường hợp chủ xe tham gia bảo hiểm bộ phận, số tiền bảo hiểm sẽ
được xác định căn cứ vào tỷ lệ giữa giá trị của bộ phận được bảo hiểm và giá
trị toàn bộ xe. tỷ lệ này là khác nhau ở những chủng loại xe khác nhau, và các
doanh nghiệp bảo hiểm thường có những bảng tỷ lệ về giá trị của các bộ phận
so với giá trị từng loại xe. Trong số các tổng thành của xe thì tổng thành thân
vỏ xe thường chiếm tỷ lệ lớn về mặt giá trị cũng như chịu ảnh hưởng nhiều
nhất bởi hậu quả của những vụ tai nạn. Vì thế nếu chọn một tổng thành để
tham gia bảo hiểm thì chủ xe thường chọn tổng thành này
Thông thường, số tiền bảo hiểm do công ty bảo hiểm và người tham
gia bảo hiểm thoả thuận tức là số tiền bảo hiểm do người bảo hiểm yêu cầu và
người được bảo hiểm chấp nhận. Trong trường hợp là xe ôtô hoặc các loại xe
cơ giới có gía trị cao người ta thường tham gia dưới giá trị bảo hiểm hoặc
ngang giá trị bảo hiểm.
1.2.4. Phí bảo hiểm
* Phí bảo hiểm:
Phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới là khoản tiền nhất định mà những
người tham gia (chủ xe, lái xe) phải nộp cho nhà bảo hiểm sau khi ký hợp
đồng bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực khi người tham gia nộp
phí theo đúng quy định, trừ khi có thỏa thuận khác
Doanh nghiệp bảo hiểm và chủ xe cơ giới có thể thực hiện bảo hiểm
theo biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm tối thiểu do Bộ Tài Chính quy

14
Xe dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì khả năng gặp rủi ro cao hơn
rất nhiều so với xe sử dụng cho cá nhân, gia đình hoặc cơ quan hành chính sự
nghiệp. Xe lăn bánh trên đường càng nhiều thì xác suất rủi ro xảy ra càng lớn.
• Tình hình bồi thường tổn thất những năm trước: nếu những năm
trước đó tổn thất xảy ra lớn và thường xuyên thì phí bảo hiểm sẽ tăng và
ngược lại.
• Tuổi tác, kinh nghiệm của lái xe, của người yêu cầu bảo hiểm và
người thường xuyên sử dụng chiếc xe được bảo hiểm: số liệu thống kê cho
thấy rằng các lái xe trẻ tuổi bị tai nạn nhiều hơn so với các lái xe lớn tuổi.
Trong thực tế, các công ty thường áp dụng giảm phí bảo hiểm cho các lái xe
trên 50 tuổi do kinh nghiệm cho thấy những lái xe này ít gặp tai nạn hơn so
với các lái xe trẻ tuổi. Tuy nhiên, với những lái xe quá lớn tuổi (thường từ 60
tuổi trở lên) phải xuất trình giấy chứng nhận sức khoẻ phù hợp để có thể lái
xe thì công ty bảo hiểm mới nhận bảo hiểm. Ngoài ra, để hạn chế tai nạn công
ty bảo hiểm thường yêu cầu người được bảo hiểm tự chịu một phần tổn thất
xảy ra đối với xe của mình (hay còn gọi là mức miễn thường). Đối với những
lái xe trẻ tuổi mức miễn thường này thường cao hơn so với các lái xe lớn tuổi.
• Biểu phí đặc biệt: khi khách hàng có số lượng xe tham gia bảo
hiểm nhiều, các công ty bảo hiểm thường có thể áp dụng biểu phí riêng cho
khách hàng đó. Việc tính toán biểu phí riêng cũng tương tự như cách tính phí
được đề cập ở trên, chỉ khác là dựa trên số liệu về bản thân khách hàng đó. Cụ
thể:
+ Số lượng xe của công ty tham gia bảo hiểm.
+ Tình hình bồi thường tổn thất của công ty bảo hiểm cho khách hàng ở
những năm trước đó.
+ Tỷ lệ phí theo quy định của công ty.
Cao học viên: Nguyễn Thành Vinh Lớp CH 16A
15
Trng hp mc phớ c bit thp hn mc phớ quy nh chung ca

Xe hot ng t 3 n 6 thỏng úng 60% phớ c nm;
Xe hot ng t trờn 6 n 9 thỏng úng 90% phớ c nm;
Xe hot ng 9 thỏng tr lờn úng 100% phớ c nm.
Hon phớ bo him: Cú nhng trng hp ch xe ó úng phớ bo
him c nm, nhng trong nm ú xe khụng hot ng mt thi gian di vỡ
mt lý do no ú, vớ d nh ngng hot ng tu sa. Trong trng hp ny
Cao hc viờn: Nguyn Thnh Vinh Lp CH 16A
16
thông thường công ty bảo hiểm sẽ hoàn lại phí bảo hiểm cho những tháng
ngừng hoạt động đó cho chủ xe. Số phí hoàn lại được tính như sau:
l¹i hoµn
PhÝ

= Phí cả năm*
th¸ng 12
n¨mtrong déng ho¹t kh«ngxe th¸ng Sè
*
l¹i hoµn
lÖ Tû
Mỗi công ty bảo hiểm có tỷ lệ hoàn phí là khác nhau. Nhưng thông
thường tỷ lệ này là 80%.
Nếu chủ xe muốn huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm khi chưa hết hạn hợp
đồng thì thông thường công ty bảo hiểm cũng hoàn lại phí bảo hiểm cho thời
gian còn lại đó theo công thức trên, nhưng với điều kiện là chủ xe chưa có lần
nào được công ty bảo hiểm trả tiền bảo hiểm.
Phí bảo hiểm vật chất phải đóng cho mỗi đầu xe đối với mỗi loại xe
gồm hai phần: phí thuần (f) và phụ phí (d):
P = f + d
Thực chất phí thuần chính là số tiền bồi thường bình quân cho mỗi đầu
phương tiện tham gia bảo hiểm gặp rủi ro gặp rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm

P = R* S
BH
Trong đó: R là tỷ lệ phí
Ở nước ta, tỷ lệ phí này là do Bộ Tài Chính đưa ra và các công ty bảo
hiểm đều áp dụng thống nhất.
Phí bảo hiểm vật chất xe ô tô như sau:
Bảng 1.3: Biểu phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới:
Giá trị thực tế của xe
Tỷ lệ phí (%)
BH toàn bộ xe BH thân vỏ xe
1.Xe sử dụng dưới 3 năm (Giá trị
còn lại trên 70% giá trị xe mới)
1,5 2,5
2.Xe sử dụng từ 3 – 6 năm (Giá trị
còn lại 50% - 70%)
1,7 2,7
3. Xe sử dụng trên 6 năm (Giá trị
còn lại < 50%)
1,9 2,9
(Nguồn: Từ biểu phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới của công ty Pjico)
1.2.5. Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất
Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là nghiệp vụ bảo hiểm tài sản nhưng do
đặc điểm riêng của xe cơ giới là vận chuyển bằng đường bộ tham gia vào quá
trình vận chuyển, hoạt động của xe cơ giới phụ thuộc rất lớn vào địa hình,
tình hình thời tiết và chất lượng kỹ thuật của xe nên là một nguồn nguy hiểm
cao độ hay nói cách khác khả năng xảy ra tai nạn là rất lớn. Xác suất xảy ra
rủi ro cao hơn nhiều so với các đối tượng tài sản khác. Vì vậy, khi triển khai
nghiệp vụ này, các công ty bảo hiểm đều chú ý đến việc đề phòng tai nạn xảy
ra và cách khắc phục hậu quả khi tai nạn xảy ra. Hàng năm các công ty
Cao học viên: Nguyễn Thành Vinh Lớp CH 16A

chọn đội ngũ giám định viên co kinh nghiệm và có trình độ cao, trước hết, họ
phải có trình độ hiểu biết chuyên sâu về nghiệp vụ bảo hiểm chuyên môn kỹ
thuật sửa chưã xe, về tình hình thị trường của các vật tư thay thế và nơi sửa
chữa thích hợp. Họ phải có hiểu biết về luật lệ an toàn giao thông đường bộ.
Ngoài ra họ phải có khả năng đàm phán thuyết phục khi có các tranh chấp xẩy
ra.
Khi giám định các giám định viên phải thưc hiện các bước sau
. Tiếp nhận các thông tin về tai nạn: số xe, chủ xe, thơi gian, địa điểm
xẩy ra tai nạn, đánh gia sơ bộ thiệt hại và giải quết bước đầu để tránh tình
trạng ách tắc giao thông
. Phải có dự kiến và phương án chuẩn bị giám định: thống nhất với chủ
xe về thời gian, địa điểm giám định, phương tiện giám định
. Giám định viên kiểm tra tính hợp lệ của các giấy tờ của các chủ xe
như giấy chứng nhận bảo hiểm, bằng lái xe, giấy đăng ki xe, giấy phép lưu
hành. Trong quá trình giám định phải có mặt và kí xác định của các chủ xe.
. Phân loại, xác định chính xác những thịêt hại thuộc trách nhiệm bảo
hiểm.
. Đánh giá thiệt và chọn phương án khác phục thiệt hại
. Hoàn chỉnh hồ sơ: thu thập hoặc hướng dẫn chủ xe thu thập hồ sơ tai nạn
. Chuyển giao hồ sơ cùng với biên bản giám định chính thức có đầy đủ
chữ kí của các bên cho cán bộ bồi thường để tính toán,duyệt bồi thường trong
những trường hợp đặc biệt, nếu vụ tai nạn xẩy ra quá xa giám định viên hoạc
ở nhửng nơi hiểm trở. Các giám định viên có thể căn cứ vào biên bản của các
cơ quan chức năng.
* Bồi thường:
Bồi thường thiệt hại là khâu công việc rất quan trọng trong quy trình
triển khai một sản phẩm bảo hiểm. Bởi đây là khâu quan trọng thể hiện trách
Cao học viên: Nguyễn Thành Vinh Lớp CH 16A
20
nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm đối với khách hàng cũng như thể hiện

thành nhất định thì số tiền bồi thường được tính dựa trên cơ sở thực tế của
tổng thành đó.
(2) Trường hợp xe tham gia bảo hiểm trên giá trị thực tế.
Để tránh việc trục lợi bảo hiểm, công ty bảo hiểm chỉ chấp nhận số
tiền bảo hiểm nhỏ hơn hoặc bằng giá trị bảo hiểm. Tuy nhiên, nếu người tham
gia bảo hiểm cố tình hoặc vô tình tham gia với số tiền bảo hiểm lớn hơn giá
trị bảo hiểm thì số tiền bồi thường cũng chỉ bằng giá trị thiệt hại thực tế và
luôn nhỏ hơn hoặc bằng giá trị thực tế của xe.
Tuy nhiên, trường hợp công ty bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm trên giá
trị thực tế, được gọi là “giá trị thay thế mới”. Khi tổn thất toàn bộ xảy ra công
ty bảo hiểm sẽ bồi thường đúng bằng số tiền bảo hiểm. Trong trường hợp này
chủ xe phải đóng phí bảo hiểm khá cao theo các điều kiện bảo hiểm rất
nghiêm ngặt.
(3) Trường hợp tổn thất bộ phận:
- Nếu xe tham gia bảo hiểm với số tiền bảo hiểm bằng hoặc thấp hơn
giá trị thực tế thì số tiền bồi thường được tính theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm
với giá trị thực tế của xe nhưng bị giới hạn bởi giá trị của bộ phận đó quy định
trong “Bảng tỷ lệ tổng thành xe”.
- Nếu xe được bảo hiểm trên giá trị thực tế thì công ty bảo hiểm sẽ bồi
thường theo giá trị thiệt hại thực tế của bộ phận đó ngay trước khi xe bị tại
nạn nhưng bị giới hạn bởi giá trị của bộ phận đó quy định trong “Bảng tỷ lệ
tổng thành xe”.
- Trong quá trình sửa chữa, khắc phục tổn thất, nếu phải thay thế bộ
phận mới thì số tiền bồi thường tối đa của công ty bảo hiểm không vượt quá
giá trị thực tế của bộ phận đó ngay trước khi xe bị tổn thất.
(4) Trường hợp tổn thất toàn bộ:
Cao học viên: Nguyễn Thành Vinh Lớp CH 16A
22
Xe được coi là tổn thất toàn bộ khi bị mất cắp, bị cướp, mất tích sau 60
ngày không tìm lại được, giá trị thiệt hại bằng hoặc trên 80% giá trị thực tế

- Sủa chữa xe bị thiệt hại: trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới,các công ty
bảo hiểm thương sử dụng phương thức này theo đó các công ty bảo hiểm sẽ tư
vấn cho chủ xe nơi sửa chữa và chịu trách nhiệm về những khoản chi phí do
sửa chữa các bộ phận đó
-Thay thế : Đây là phương thức bồi thường khá phức tạp và ít được các
công ty bảo hiểm áp dụng
Dù bồi thương theo phương thức nào thì sau khi bồi thường các công ty
bảo hiểm đều có quyền thu hồi lại những phần hư hỏng đã được thay thế
1.3. Hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới
* Khái niệm: Hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới là một văn bản
pháp lý qua đó bên bảo hiểm cam kết bồi thường cho bên đươc bảo hiểm khi
có rủi ro xẩy ra gây tổn thất cho chiếc xe và ngược lại, bên được bảo hiểm
cam kết trả phí phù hợp với mức trách nhiệm và rủi ro mà bên bảo hiểm đã
nhận.
* Trách nhiệm của các bên trong hợp đồng bảo hiểm:
- Bên tham gia bảo hiểm:
+Người tham gia bảo hiểm phải có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm đầy
đủ, theo thời gian và phương thức đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
+Phải trung thực khi khai báo các rủi ro theo yêu cầu của công ty bảo
hiểm.
+ Có trách nhiệm cung cấp các thông tin liên quan đến mức độ trầm
trọng của rủi ro để hai bên phối hợp kiểm soát. Cụ thể phải thông báo các
trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của
công ty bảo hiểm .
Cao học viên: Nguyễn Thành Vinh Lớp CH 16A
24
+ Khi công ty yêu cầu người mua bảo hiểm thực hiện các biện pháp hạn
chế tổn thất thì bên mua phải có phương thức áp dụng kịp thời.
+ Khi xe bị tai nạn phải tìm mọi cách cứu chữa, hạn chế thiệt hại về
người và tái sản đồng thời phải thông báo ngay cho công ty bảo hiểm và công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status