CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH - Pdf 64

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH
1.1.SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH
1.1.1. Sự ra đời của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Bảo hiểm là một hoạt động tài chính, có tính chất chuyên ngành mà thông qua các hoạt
động này các cá nhân và tổ chức kinh tế xã hội cùng tham gia đóng góp một khoản tiền
nhất định để tạo lập nên quĩ bảo hiểm và khoản đóng góp đó gọi là phí bảo hiểm. Khi
không may gặp phải những rủi ro, tổn thất ngoài mong đợi của các thành viên đóng góp
thì lúc đó quĩ bảo hiểm sẽ phát huy tác dụng của nó là giúp đỡ các thành viên này nhanh
chóng ổn định sản xuất và đời sống, tiếp tục công việc kinh doanh một cách bình
thường. Ngày nay, hoạt động bảo hiểm chủ yếu được thực hiện thông qua hoạt động
kinh doanh bảo hiểm của các tổ chức bảo hiểm.
Nhìn lại sự ra đời và phát triển của bảo hiểm, chúng ta thấy bảo hiểm có nguồn gốc từ
rất xa xưa trong lịch sử nền văn minh nhân loại. Tuy vậy, khi mới ra đời thì các nghiệp
vụ bảo hiểm không phong phú, đa dạng như ngày nay. Xã hội ngày càng phát triển, hoạt
động kinh doanh ngày càng hoàn thiện đã dần dần làm nảy sinh nhiều nhu cầu bảo hiểm
mới. Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là một trong các nghiệp vụ bảo hiểm mới đó. So
với bảo hiểm hàng hải hay bảo hiểm hoả hoạn, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh ra đời
muộn hơn rất nhiều. Vào những năm đầu của thế kỷ XX, mặc dù bị sự thúc ép của
chính phủ và yêu cầu của các nhà sản xuất nhưng các công ty bảo hiểm ở Anh vẫn chưa
tiến hành bất cứ loại hình bảo hiểm "tổn thất hậu quả" nào. Sự chậm trễ đó là do tính
phức tạp trong việc phân tích các chi phí tài chính, xác định phạm vi bảo hiểm trong
điều kiện nền kinh tế chính trị chưa ổn định. Sau đó, với sự ra đời của hai nguyên tắc
Herry Booth & Commercial Union (năm 1923) và Polikoff Ltd vs North British and
Mercantile (năm 1936) mới thật sự đặt nền móng cho bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
hình thành và phát triển.
Khi mới triển khai, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh được biết đến dưới tên gọi "bảo
hiểm mất lợi nhuận" hay "tổn thất hậu quả" do mục đích của nó là bồi thường cho
người được bảo hiểm đối với trường hợp bị mất lợi nhuận và các chi phí phụ để tiếp tục
kinh doanh. Những tổn thất này thường xuất hiện sau một khiếu nại thiệt hại về một vụ
cháy hay sau những tổn thất được bảo hiểm khác. Trong thực tế, những loại bảo hiểm
chính (như bảo hiểm cháy, kỹ thuật) sẽ bảo hiểm cho tổn thất hay thiệt hại cơ bản, tuy

Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp đôi khi xảy ra những rủi ro bất ngờ mà không ai lường trước được. Các
rủi ro đã và đang gây nên những tổn thất, thiệt hại về tài sản, về tính mạng của con
người, làm gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật được
ứng dụng trong sản xuất kinh doanh, từ đó làm cho qui mô của hoạt động sản xuất kinh
doanh ngày càng mở rộng. Do vậy, giá trị tài sản của doanh nghiệp ngày càng lớn. Nếu
chẳng may rủi ro thiệt hại xảy ra thì hậu quả thường rất nặng nề và ảnh hưởng lâu dài
không chỉ tới bản thân chính doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến cả các doanh nghiệp,
cá nhân thường xuyên có quan hệ với doanh nghiệp. Sự ra đời của các công ty bảo hiểm
đã giúp các đơn vị sản xuất kinh doanh ổn định tình hình sản xuất, đảm bảo công việc
kinh doanh được tiến hành bình thường. Thông qua việc bồi thường một cách kịp thời,
chính xác, trung thực đã giúp cho các doanh nghiệp nhanh chóng khắc phục được hậu
quả thiệt hại. Bên cạnh đó, với sự chuyển đổi của cơ chế quản lý, Nhà nước đã chủ
động giao vốn cho các doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước. Trong
việc bảo tồn và phát triển vốn, các doanh nghiệp không có sự hỗ trợ nhiều của Nhà
nước như trong thời kỳ bao cấp trước đây. Nếu khi có thiệt hại gì xảy ra, doanh nghiệp
không được quyền ghi giảm vốn đặc biệt là những thiệt hại gây ra bởi các rủi ro các
công ty bảo hiểm trong nước đã triển khai hay với các loại hình tương tự. Vì vậy bảo
hiểm sẽ là "lá chắn kinh tế" để đảm bảo sự bảo toàn vốn cho các doanh nghiệp khi
không may gặp phải những thiệt hại của thiên tai hoặc do sự sơ suất vô ý của người lao
động.
Trên thực tế, sau khi rủi ro xảy ra đối với một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh
doanh thì hầu như mọi hoạt động không thể tiến hành bình thường như kế hoạch đã đặt
ra trước. Từ đó dẫn đến nhiều khoản tổn thất không được bồi thường trong đơn bảo
hiểm tài sản như chi phí về thuê nhà, trụ sở, chi trả lương công nhân viên... Để khắc
phục tình trạng doanh nghiệp có thể bị phá sản hoặc lâm vào tình thế khó khăn khi phải
đối mặt với các tổn thất đó, tham gia bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là cách tốt nhất để
bù đắp thiệt hại. Khi tham gia loại hình bảo hiểm này, nếu tổn thất xảy ra, các cơ quan,
doanh nghiệp không những được bồi thường cho những khoản chi phí nói trên mà còn

phát triển nền kinh tế thông qua việc đầu tư.
Tất cả những gì đã nêu trên là minh chứng rõ ràng và đầy đủ cho sự cần thiết của việc
tham gia bảo hiểm gián đoạn kinh doanh.
1.2.NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH
1.2.1. Đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh "bảo hiểm cho các tổn thất mất giảm thu nhập thực tế
và tiềm năng cũng như các phụ phí phát sinh từ hậu quả của tổn thất vật chất" [3,5/7].
Do vậy, nó có một số các đặc điểm riêng biệt so với các loại bảo hiểm khác như sau:
- Đặc điểm về đối tượng bảo hiểm:
Khi có một rủi ro xảy ra, ví dụ một vụ hoả hoạn, gây thiệt hại tài sản, người được bảo
hiểm sẽ được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm tài sản (cụ thể là đơn bảo hiểm hoả hoạn và
các rủi ro đặc biệt). Với số tiền bảo hiểm nhận được, người được bảo hiểm có thể có đủ
khả năng khôi phục lại cơ sở hạ tầng, mua lại các thiết bị, máy móc,... phục vụ cho việc
sử dụng như trước khi xảy ra rủi ro. Tuy vậy, nếu như số tài sản bị thiệt hại đang được
sử dụng cho mục đích sản xuất kinh doanh thì nhà kinh doanh sẽ phải chịu cả những
thiệt hại về mặt kinh doanh như mất lợi nhuận, mất khả năng kinh doanh trong một thời
gian nhất định. Hơn thế nữa, anh ta phải chịu những chi phí như chi phí thuê nhà
xưởng, chi phí trả lương cho công nhân viên, lãi suất ngân hàng,... mặc dù không thực
hiện sản xuất kinh doanh hoặc những chi phí thuê nhà xưởng, máy móc tạm để tiếp tục
sản xuất kinh doanh trong thời gian sửa chữa, phục hồi cơ sở sản xuất. Nói cách khác,
tuỳ vào mức độ thiệt hại gây ra mà công việc kinh doanh bình thường của người được
bảo hiểm sẽ bị ngưng trệ hoặc giảm sút. Chúng ta hãy cùng xem xét ví dụ minh hoạ sau
đây:
Hình dưới đây miêu tả tổn thất về doanh thu có thể xảy ra sau một vụ cháy nghiêm
trọng. Cần chú ý rằng doanh thu (số tiền doanh nghiệp thu được) sẽ chỉ trở lại bình
thường sau 9 tháng kể từ khi có vụ cháy xảy ra cho dù công việc xây dựng lại chỉ mất 3
tháng. Trường hợp này xảy ra do nguyên nhân một số khách hàng không chắc chắn
Cháy
T12 T3 T6 T9 T12
Thời kỳxây dựng lại


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status