Đề tài Năng lực kiến tạo và một số biện pháp bồi dưỡng năng lực kiến tạo kiến thức toán học cho học sinh Tiểu học_Luận văn thạc sĩ giáo dục tiểu học - Pdf 26

COONGJ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG XUÂN DŨNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG
NĂNG LỰC KIẾN TẠO KIẾN THỨC
NĂNG LỰC KIẾN TẠO KIẾN THỨCTOÁN HỌC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
TOÁN HỌC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC (CẤP TIỂU HỌC)
MÃ SỐ: 60 14 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS. ĐÀO TAM
VINH - 2007
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 5
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
1.1. Cơ sở lý luận 5
1.1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.1.2. Một số khái niệm 8
1.1.3. Các quan niệm về trí tuệ và sự phát triển trí tuệ 10
1.1.4. Đặc điểm tư duy của học sinh Tiểu học 12
1.1.5. Quan điểm về dạy - học kiến tạo 14
1.1.6. Dạy và học toán ở Tiểu học theo quan điểm kiến tạo 17
1.2. Cơ sở thực tiễn 19

3.1. Mục đích thực nghiệm 67
3.2. Nội dung thực nghiệm 67
3.3. Các công thức sử dụng để xử lý số liệu 67
3.4. Thực nghiệm dạy học khái niệm toán 68
3.5. Thực nghiệm dạy học giải toán 77
3.6. Kết luận chương 3 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
1. Kết luận 81
2. Kiến nghị 82
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC
LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Năng lực kiến tạo và một số biện pháp bồi dưỡng năng lực
kiến tạo kiến thức toán học cho học sinh Tiểu học” được hoàn thành là kết
quả của quá trình học tập, nghiên cứu nghiêm túc của tác giả.
Tác giả luận văn xin trân trọng bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới
GS.TS.NGƯT. Đào Tam, người đã định hướng ý tưởng và tận tình chỉ bảo,
giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình hình thành, triển khai và hoàn thiện đề tài.
Tác giả luận văn cũng bày tỏ và trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô
giáo đã tận tình giảng dạy chuyên đề Cao học Tiểu học, các thầy giáo, cô giáo
trong khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Vinh đã tận tình giúp đỡ tác
giải trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tác giả luận văn trân trọng cảm ơn tới tập thể lãnh đạo Phòng GD&ĐT
Tân Kỳ đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực nghiệm ở cơ
sở.
Tác giả luận văn trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo các trường Tiểu
học Giai Xuân, Tiểu học Tân Xuân, Tiểu học Nghĩa Thái đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi trong quá trình thực nghiệm và hoàn thiện luận văn.
Vinh, ngày 30/11/2007

các hoạt động của người học và người dạy, thể hiện quan điểm kiến tạo. Mỗi
kiến thức toán trong chương trình được thiết kế dưới dạng cung cấp thông tin
và chỉ dẫn các hoạt động học tập, nhằm làm cho người học, bằng hoạt động
của mình, dưới sự điểu khiển của giáo viên, tự xây dựng nên kiến thức cho
bản thân. Tuy nhiên, có rất nhiều giáo viên, đặc biệt là giáo viên vùng sâu,
vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn ở các trường Tiểu học, vì nhiều lý do, chưa
có sự nhận thức đúng đắn về quan điển kiến tạo trong nội dung và chương
trình môn Toán, dẫn đến việc đổi mới chậm được thực hiện, trong đó có đổi
mới về phương pháp dạy - học. Hoạt động dạy - học toán của một số không ít
giáo viên còn mang tính cung cấp kiến thức, ứng dụng vào các tình huống
hơn là việc tổ chức hình thành kiến thức một cách tự nhiên, khoa học cho học
sinh, trên cơ sở đó để phát triển kiến thức cho người học.
Hoạt động nhận thức của học sinh Tiểu học một phần phụ thuộc vào các
năng lực học tập của các em, trong đó có năng lực kiến tạo - một loại năng lực
tự tạo, là sản phẩm của quá trình dạy - học. Nên hoạt động dạy học phải chú
trọng vào việc hình thành và phát triển các thành tố cơ bản của năng lực kiến
tạo, từ đó các em có thể vận dụng năng lực đó vào trong quá trình kiến tạo
việc hiểu toán của mình.
Việc nghiên cứu quan điểm kiến tạo trong các trường phái tâm lý học hiện
đại, đến thời điểm hiện nay ở nước ta vẫn còn mang tính chất chung chung, chủ
yếu thiên về việc tiếp cận nghiên cứu nhằm xác định một số luận điểm cơ bản
của hoạt động dạy học theo quan điểm kiến tạo, hoặc thiết kế một số hoạt động
dạy học theo quan điểm kiến tạo ở một số chủ đề toán ở các cấp trên Tiểu học.
Gần đây có một vài tác giả quan tâm nghiên cứu quan điểm kiến tạo nhằm xác
định một số thành tố của năng lực kiến tạo kiến thức toán học cho học sinh,
nhưng chủ yếu vẫn tiếp cận ở các cấp học trên Tiểu học. Sự cần thiết tiếp cận
nghiên cứu xác định năng lực kiến tạo kiến thức nói chung, kiến thức toán cho
học sinh Tiểu học nói riêng là vấn đề cần quan tâm hiện nay.
Với tư tưởng đó, chúng tôi chọn đề tài "Một số biện pháp bồi dưỡng
năng lực kiến tạo kiến thức toán học cho học sinh Tiểu học" nhằm xác

nghiên cứu lý luận dạy học nói dung, dạy học toán (nói riêng) theo quan điểm
kiến tạo để làm cơ sở tiếp cận một số biện pháp dạy học thích hợp vào dạy và
học toán ở Tiểu học.
5.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhằm mục đích khảo sát hoạt động dạy và học toán ở các trường Tiểu
học thuộc vùng khó khăn huyện Tân Kỳ làm cơ sở xác định thực trạng dạy và
học toán theo quan điểm kiến tạo.
5.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học
Nhằm mục đích thống kê các số liệu thu được qua tìm hiểu thực trạng,
các kết quả điều tra trước và sau thực nghiệm, làm cơ sở đánh giá tính đúng
đắn và khả thi của giả thuyết khoa học của đề tài.
6. Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động dạy và học toán theo quan điểm kiến tạo ở các trường Tiểu
học thuộc huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.
7. Đóng góp của đề tài
7.1. Làm rõ thực trạng dạy và học toán theo quan điểm kiến tạo ở một số
trường Tiểu học thuộc huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.
7.2. Xác định được một số thành tố cơ bản của năng lực kiến tạo kiến
thức toán học của học sinh Tiểu học.
7.3. Xây dựng một số biện pháp dạy học nhằm bồi dưỡng năng lực kiến
tạo kiến thức toán học cho học sinh Tiểu học.
8. Giả thuyết khoa học
Nếu xác định được một số thành tố của năng lực kiến tạo kiến thức toán
học của học sinh Tiểu học, từ đó xây dựng một số biện pháp bồi dưỡng năng
lực đó cho học sinh Tiểu học thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học
Toán ở Tiểu học.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bao
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

những cơ hội nào để tác động đến những cấu trúc của họ, sao cho dẫn đến
những hoạt động toán học mong đợi và mục đích của người dạy". Trong [35]
tác giả cho rằng "Lý thuyết kiến tạo là niềm tin rằng tất cả các tri thức đều
nhất thiết là một sản phẩm của những hoạt động nhận thức của chính chúng
ta” và “học sinh có thể trình bày khái niệm, kiểm chứng, bảo vệ và phê phán
về khái niệm được xây dựng".
Hướng thứ hai: Tiếp cận nghiên cứu nhằm xác định một số luận điểm
cơ bản của dạy học toán theo quan điểm kiến tạo.
Hướng này bao gồm các tác giả Cao Thị Hà, Trần Anh Tuấn, các kết
quả như sau:
Theo [5] Tiến sĩ Cao Thị Hà xác định 5 luận điểm cơ bản là nền tảng của
lý thuyết kiến tạo trong dạy học toán ở bậc THPT như sau:
- Tri thức được học sinh chủ động sáng tạo và phát hiện, chứ không phải
thụ động tiếp nhận từ môi trường bên ngoài;
- Nhận thức là một quá trình thích nghi và tổ chức lại thế giới quan của
chính mỗi người.
- Học là một quá trình mang tính xã hội trong đó học sinh dần tự hòa
mình vào hoạt động trí tuệ của những người xung quanh;
- Những tri thức mới của cá nhân nhận được từ việc điều chỉnh lại thế
giới quan của họ cần phải đáp ứng được những yêu cầu mà tự nhiên và thực
trạng xã hội đặt ra;
- Học sinh đạt được tri thức mới do chu trình:
Tri thức đã có → Dự đoán → Kiểm nghiệm (Thất bại) → Thích nghi→Kiến thức mới.
Cùng với mạch nghiên cứu trên, trong [34] tác giả Trần Anh Tuấn xác
định những điểm sau đây là nền tảng của dạy học toán theo quan điểm kiến tạo:
- Hoạt động là nguồn gốc nẩy sinh và phát triển tri thức;
- Nhận thức là quá trình thích nghi và sắp xếp lại thế giới quan của chính
người học;
- Mâu thuẫn là động lực của sự phát triển. Con người nhận thức thế giới
bằng các thao tác trí tuệ để giải quyết sự mất cân bằng giữa kiến thức kỹ

dạy học toán, hoặc hướng vào việc xây dựng các phương pháp dạy học toán ở
các bậc học trên Tiểu học. Một hướng nghiên cứu dành cho hoạt động dạy
học toán ở Tiểu học còn cần được quan tâm trong thời gian tới.
Trong luận văn này chúng tôi tiếp cận nghiên cứu lý thuyết kiến tạo
nhằm xác định một số thành tố cơ bản của năng lực kiến tạo kiến thức toán
học của học sinh Tiểu học, từ đó lựa chọn một số biện pháp nhằm bồi dưỡng,
phát triển những năng lực đó cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy
học toán ở Tiểu học.
1.1.2. Một số khái niệm
1.1.2.1. Kiến tạo
Theo từ điển Tiếng Việt, kiến tạo là xây dựng nên. Đây là một động từ chỉ
hoạt động của con người tác động lên một đối tượng nhằm mục đích hiểu nó.
1.1.2.2. Năng lực
Bàn về năng lực, có người quan niệm “năng lực như là một tổng hợp các
phẩm chất cá tính của con người đáp ứng được những yêu cầu của hoạt động
và đảm bảo được những thành tựu cao trong hoạt động ấy” [8].
Theo những nghiên cứu của chúng tôi từ [30], thì mỗi người chúng ta
sinh ra và lớn lên, phát triển là nhờ các năng lực người. Theo đó, mỗi con
người có 2 loại năng lực: năng lực tự nhiên và năng lực tự tạo.
Năng lực tự nhiên (natural abilyty) là loại năng lực được nẩy sinh trên cơ
sở những tư chất bẩm sinh di truyền, được bộc lộ dần trong quá trình sống mà
không cần đến các tác động giáo dục, đào tạo. Năng lực tự nhiên cho phép
chúng ta giải quyết những yêu cầu tối thiểu đặt ra cho mình trong cuộc sống.
Sự khác biệt về tư chất ở mỗi con người quy định sự khác biệt về năng lực tự
nhiên ở mỗi con người. Tuy nhiên sự khác biệt này không lớn đến nỗi mà một
số nhà nghiên cứu cho rằng nó là yếu tố quyết định đến toàn bộ quá trình hình
thành và phát triển nhân cách của mỗi con người mà đặc biệt và sự phát triển
trí tuệ. Trong thực tế, cuộc sống ngày càng phát triển với đa dạng các tác
động và luôn đặt chúng ta trước các yêu cầu mới, phức tạp, đòi hỏi một sự
thích ứng kịp thời. Nhưng sự đáp ứng của năng lực tự nhiên thì lại có hạn. Và

hoạt động trí tuệ chung: phát hiện và giải quyết vấn đề, phân tích, tổng hợp,
so sánh, tương tự hóa, khái quát hóa, trừu tượng hóa, … (những hoạt động
này được gọi là hoạt động trí tuệ chung vì chúng cũng được thực hiện ở các
môn học khác một cách bình đẳng như môn Toán); thể hiện ở những hoạt
động phổ biến trong Toán học, như: lật ngược vấn đề, xét tính giải được (có
nghiệm, nghiệm duy nhất, vô số nghiệm), phân chia trường hợp, mô hình hóa,
thể hiện, xem xét bài toán trong cái chung và cái riêng, giải bài toán bằng biện
pháp quy lạ về quen; thể hiện ở khả năng giải quyết bài toán bằng nhiều cách
khác nhau, khả năng lập luận có căn cứ, thu gọn các suy luận… Năng lực kiến
tạo là điều kiện để học sinh học tốt môn Toán.
Ngày nay, việc hình thành và bồi dưỡng năng lực kiến tạo là rất quan trọng
đối với học sinh. Thông qua việc kiến tạo những hiểu biết cho bản thân, học sinh
có khả năng thích nghi với mọi hoàn cảnh luôn biến đổi của cuộc sống
.
1.1.3. Các quan niệm về trí tuệ và sự phát triển trí tuệ
Trong phần này, chúng tôi đã nghiên cứu [1], [5], [11], [17], [18], [21],
[24], [30], tìm hiểu các quan điểm trí tuệ và sự phát triển trí tuệ trong các
trường phái tâm lý: tâm lý học liên tưởng, tâm lý học phát sinh, tâm lý học
hoạt động. Đồng thời chỉ rõ quan điểm kiến tạo trí tuệ trong các trường phái
tâm lý nêu trên làm cơ sở để đề xuất các thành tố của năng lực kiến tạo kiến
thức toán học cho học sinh Tiểu học.
Tâm lý học liên tưởng coi trí tuệ là sự liên tưởng các hình ảnh cảm tính,
vật chất. Sự phát triển trí tuệ thực chất là quá trình tích luỹ các mối liên
tưởng. Một người được coi là thông minh, là người có trí tuệ là một người có
sự phong phú về các mối liên tưởng và tốc độc hoạt hoá chúng trong kinh
nghiệm cũng như trong hoạt động thực tiễn.
Tâm lý học phát sinh xem trí tuệ là một sự thích nghi. Sự thích nghi này
được thực hiện bởi hai pha: đồng hoá và điều ứng. Đồng hoá là quá trình
khớp thực tế với cấu trúc nhận thức hiện có trong kinh nghiệm của trẻ. Điều
ứng buộc trẻ phải tìm cách thay đổi cấu trức nhận thức, hoặc tạo ra cấu trúc

sử dụng các công cụ ký hiệu. Phát triển trí tuệ là quá trình tổ chức hình
thành ở học sinh cách sử dụng các công cụ ký hiệu được lấy từ kho tàng tri
thức của nhân loại.
Mặt khác, các nhà tâm lý học hoạt động cũng chỉ ra, trong quá trình phát
triển của trẻ em bao giờ cũng thể hiện 2 trình độ: TĐHT và VPTGN. TĐHT
là trình độ mà ở đó, các chức năng tâm lý đã đạt tới độ chín muồi. Trong hoạt
động thực tiễn, TĐHT biểu hiện qua việc học sinh tự độc lập giải quyết nhiệm
vụ mà không cần sự trợ giúp của người khác. VPTGN là vùng mà ở đó, các
chức năng tâm lý chưa thực sự chín muồi. Trong hoạt động thực tiễn, VPTGN
thể hiện ở việc trẻ em có thể hoàn thành nhiệm vụ với sự giúp đỡ của một em
khác có kinh nghiệm hơn hoặc bởi sự giúp đỡ của người lớn. Hai mức độ phát
triển này luôn luôn vận động: VPTGN hôm này thì ngày mai sẽ trở thành
TĐHT và xuất hiện VPTGN mới.
1.1.4. Đặc điểm tư duy của học sinh Tiểu học
Học sinh Tiểu học ở vào khoảng từ 6 tuổi cho đến 11 tuổi. Đây là giai
đoạn phát triển mới của tư duy, thời kỳ này được gọi là giai đoạn thao tác cụ
thể của tư duy (hay còn gọi là tư duy cụ thể). Bởi thông thường, trong một
chừng mực nào đó, các hành động trong óc trẻ đều xuất phát từ những hành
động bên ngoài trên những đối tượng là các đồ vật, sự kiện.
Có một số thành tựu quan trọng xuất hiện trong giai đoạn này, đó là:
xuất hiện tính chất thuận nghịch, liên kết và bảo toàn. Khả năng biến đổi
thuận nghịch làm nẩy sinh khả năng nhận thức cái bất biến trong sự biến đổi
của sự vật, và hình thành khái niệm bảo toàn. Sự liên kết các thao tác của tư
duy dẫn đến xuất hiện khả năng phân biệt định lượng và định tính. Những
thành tựu trên đây là cơ sở thuận lợi cho việc dạy khái niệm số cho các em.
Chẳng hạn tính chất thuận nghịch của các thao tác trong sự liên kết của
chúng với nhau đưa đến sự nhận thức có tính quy luật: nếu a>b thì b<a, nếu
a>b, b>c thì a>c. Từ đó nhận thức được quan hệ xếp thứ tự bằng quan hệ <, >.
Ngoài ra tính thuận nghịch và sự liên kết các thao tác đưa đến khả năng nhận
thức về sự phân biệt hệ thống này với hệ thống khác: phép trừ là phép tính

vào ý thức của người học. Về cơ bản, quá trình nhận thức của học sinh cũng
tuân theo quy luật chung: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ
tư duy trừu tượng trở về thực tiễn. Tuy nhiên quá trình nhận thức của học sinh
có nét khác biệt với các nhà khoa học. Đó là quá trình được tổ chức và hình
thành bằng phương pháp sư phạm. Sản phẩm được học sinh tìm ra là cái mới
đối với các em được lấy từ kho tàng tri thức của nhân loại.
Xung quan vấn đề quan niệm về dạy học theo quan điểm kiến tạo, ở
phần trước chúng tôi đã đề cập đến. Mặc dầu có nhiều quan niệm khác nhau
về dạy học theo quan điểm kiến tạo, nhưng theo chúng tôi, cần làm rõ hai khái
niệm: dạy và học.
Theo chúng tôi, học theo quan điểm kiến tạo là quá trình người học, dựa
vào những kinh nghiệm của bản thân, huy động chúng vào quá trình tương tác
với các tình huống, hiểu chúng và rút ra được điều cần hình thành. Trong
[35], tác giả cho rằng "Lý thuyết kiến tạo là niềm tin rằng tất cả các tri thức
đều nhất thiết là một sản phẩm của những hoạt động nhận thức của chính
chúng ta. Bằng cách xây dựng trên những kiến thức đã kiến tạo được, học
sinh có thể nắm bắt tốt hơn các khái niệm và có thể đi từ nhận biết sự vật sang
hiểu nó. Kiến thức kiến tạo được khuyến khích tư duy phê phán, nó cho phép
học sinh tích hợp được các khái niệm theo nhiều cách khác nhau. Khi đó học
sinh có thể trình bày khái niệm, kiểm chứng, bảo vệ và phê phán về khái niệm
được xây dựng" và "học sinh cần phải kiến tạo cách hiểu của mình đối với
mọi khái niệm toán học".
Dạy theo quan điểm kiến tạo là quá trình tổ chức cho học sinh tự mình
tìm tòi, phát hiện ra kiến thức. Theo đó thì "Kiến tạo là một cách tiếp cận
"dạy" dựa trên nghiên cứu về việc "học" với niềm tin rằng: Tri thức được tạo
nên bởi mỗi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều so với việc
nó được nhận từ người khác" [1].
Nói tóm lại, dạy theo quan điểm kiến tạo là thay vì nói, giảng giải cho
học sinh cái học sinh cần biết, cần học, còn học sinh chỉ ghi nhớ thậm chí
không hiểu, thì giáo viên cần tổ chức các hoạt động học tập, giúp học sinh tự

KT đã có Dự báo Kiểm nghiệm Thích nghi Kiến thức mới

ơ
Thứ năm: cùng với việc hình thành kiến thức là sự hình thành các hành
động trí tuệ. Mỗi một kiến thức được hình thành đồng thời với việc học sinh
chiếm lĩnh được cách thức tạo ra kiến thức đó. Tức là hình thành các thao tác
trí tuệ tương ứng.
1.1.5.3. Các loại kiến tạo trong dạy học
Trong dạy học, quan điểm kiến tạo được phân thành hai loại hình: kiến
tạo cơ bản (radical constructivims)và kiến tạo xã hội (social sonsructivism).
a. Kiến tạo cơ bản
Kiến tạo cơ bản là một quan điểm nhận thức nhấn mạnh tới cách thức cá
nhân tự xây dựng tri thức cho bản thân trong quá trình học tập. Nerida F.
Ellerton và M.A. Clememtes cũng cho rằng “tri thức được kiến tạo một cách
cá nhân, thông quá cách thức hoạt động của mỗi cá nhân”
Như vậy, kiến tạo cơ bản đề cao vai trò của mỗi cá nhân trong quá trình
nhận thức và cách thức cá nhân xây dựng tri thức cho bản thân. Coi trọng kinh
nghiệm của cá nhân trong quá trình hình thành thế giới quan khoa học cho mình.
b. Kiến tạo xã hội
Kiến tạo xã hội xem xét cá nhân trong mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh
vực xã hội. Nhân cách của cá nhân được hình thành trong mối tương tác của
họ với người khác. Nhấn mạnh vai trò của đối thoại, của sự tương tác, phản
Thất bại
ánh cùng nhau xây dựng kiến thức của trẻ em trong quá trình phát triển. Kiến
tạo xã hội được xây dựng dựa trên những tư tưởng chủ yếu sau đây:
- Tri thức được cá nhân tạo nên phải xứng đáng ới các yêu cầu của tự
nhiên và thực trạng xã hội đặt ra.
- Người học đạt được tri thức bởi quá trình nhận thức:
Dự báo -> Kiểm nghiệm -> Thất bại -> Thích nghi -> Kiến thức mới.
Do vậy, phải kết hợp hai loại kiến tạo trong dạy học theo phương châm:

(thất bại)
Thích nghi,
Kiến thức mới
Cụ thể hoá
Sơ đồ 1.2. Quy trình dạy học toán theo quan điểm kiến tạo

Trích đoạn Về phương phỏp dạy học cỏc bài luyện tập, luyện tập chung Cỏc biện phỏp dạy học toỏn theo quan điểm kiến tạo Kết luận chương 2 Nội dung thực nghiệm Kết luận chương 3
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status