Đề tài: Phân tích lợi nhuận và một số giải pháp nhằm nâng cao lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh tại Tổng công ty Thép Việt Nam - Pdf 19

Đề tài:
Phân tích lợi nhuận và một số giải
pháp nhằm nâng cao lợi nhuận trong
sản xuất kinh doanh tại Tổng công ty
Thép Việt Nam
1
1
MỤCLỤC
LỜINÓIĐẦU 1
CHƯƠNGI:TỔNGQUANVỀLỢINHUẬNCỦADOANHNGHIỆPTRONG
NỀNKINHTẾTHỊTRƯỜNG 3
1.1.
LỢINHUẬNVÀÝNGHĨACỦALỢINHUẬNĐỐIVỚIHOẠTĐỘNGKINHD
OANHCỦADOANHNGHIỆP 3
1.1.1. Hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường 3
1.1.2. Lợi nhuận và nguồn hình thành lợi nhuận 7
1.2. PHƯƠNGPHÁPXÁCĐỊNHLỢINHUẬNVÀPHÂNPHỐI
LỢINHUẬNCỦADOANHNGHIỆP 10
1.2.1. Các phương pháp xác định lợi nhuận 10
1.2.2. Chếđộ phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp 14
1.3. CÁCCHỈTIÊUTỶSUẤTLỢINHUẬNVÀCÁCBIỆNPHÁP
TĂNGLỢINHUẬN 15
1.3.1. Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận 15
1.3.2. Các biện pháp nhằm tăng lợi nhuận trong doanh nghiệp 17
1.4.
CÁCNHÂNTỐẢNHHƯỞNGĐẾNLỢINHUẬNVÀTÍNHTẤTYẾUCỦAVIỆ
CNÂNGCAOLỢINHUẬNTRONGDOANHNGHIỆP 21
1.4.1. Các nhân tốảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp 21
1.4.2. Tính tất yếu của việc nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp 25
CHƯƠNG II: THỰCTRẠNGVỀHOẠTĐỘNGKINHDOANHVÀ
LỢINHUẬNCỦA TỔNGCÔNGTYTHÉPVIỆTNAM 27

3.3- MỘTSỐKIẾNNGHỊĐỂTHỰCHIỆNGIẢI PHÁPNÂNGCAO
LỢINHUẬNỞTỔNGCÔNGTYTHÉPVIỆTNAM 74
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆUTHAMKHẢO 78
3
3
LỜINÓIĐẦU
Lợi nhuận là mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, nó quyết định sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp. Với những điều kiện cụ thể khác nhau, cơ chế vận
hành hoạt động kinh doanh khác nhau thì kết quả lợi nhuận cũng khác nhau.
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp Nhà nước được Nhà
nước cấp phát vốn, cung ứng vật tư, nguyên vật liệu và bao tiêu sản phẩm, lãi
nộp Nhà nước, lỗ Nhà nước chịu. Lợi nhuận đó chưa phản ánh đầy đủ các chi
phí sản xuất và yêu cầu thực tế nghiêm khắc của thị trường, chưa kích thích
được tính chủđộng sáng tạo của người quản lý và công nhân trực tiếp sản xuất.
Do đó có tình trạng lãi giả, lỗ thật. Nhiều doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ
kéo dài trở thành gánh nặng cho nền kinh tế, gây lãng phí nguồn lực.
Thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tếđược vận hành theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà
nước ban hành các chếđộ chính sách, sắp xếp lại các doanh nghiệp, tạo điều kiện
để các doanh nghiệp chủđộng sáng tạo, tự chịu trách nhiệm lãi lỗ về các hoạt
động của mình. Từ khi có quyết định 90/TTg và 91/TTg ngày 07/03/1994 của
Thủ tướng Chính phủ, các doanh nghiệp được sắp xếp lại theo mô hình Tổng
công ty 90 và Tổng công ty 91, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
được cải thiện. Nhiều doanh nghiệp bắt đầu làm ăn có lãi tạo điều kiện mở rộng
và phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho người lao động.
Tổng công ty Thép Việt Nam được thành lập theo mô hình Tổng công ty 91.
Nhiệm vụ chính yếu của Tổng công ty là sản xuất thép, lưu thông sản phẩm thép
trên thị trường trong cả nước, nhập khẩu một số sản phẩm thép trong nước chưa
sản xuất được, cân đối cung và cầu các mặt hàng sản phẩm thép cho nền kinh tế.

6
Chương I
TỔNGQUANVỀLỢINHUẬNCỦADOANHNGHIỆPTRONGNỀNKI
NHTẾTHỊTRƯỜNG
1.1 LỢINHUẬNVÀÝNGHĨACỦALỢINHUẬNĐỐIVỚIHOẠTĐỘNGKINHD
OANHCỦADOANHNGHIỆP
1.1.1 Hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
a- Doanh nghiệp
Nền kinh tế nước ta được vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước đang tiếp tục đổi mới cơ
chế chính sách để tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động
mang lại hiệu quả kinh doanh và lợi nhuận cao.
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn
định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp
nhân, hoạt động kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở
hữu doanh nghiệp, tối đa hoá lợi nhuận và phát triển.
Ở nước ta hiện nay có nhiều loại hình doanh nghiệp hoạt động. Có thể phân loại
doanh nghiệp căn cứ vào ngành nghề, hình thức sở hữu. Dựa vào hình thức sở
hữu, các doanh nghiệp được chia thành:
- Doanh nghiệp Nhà nước
- Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn
7
7
- Doanh nghiệp tư nhân
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Doanh nghiệp Nhà nước: Theo Điều 1 Luật Doanh nghiệp Nhà nước “Doanh
nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ
chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện
các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao cho. Doanh nghiệp Nhà nước có
tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về

trong và ngoài nước. Như vậy, các doanh nghiệp muốn tồn tại phải có mối quan
hệ tương hỗ với các thành viên khác trong nền kinh tế.
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Chủ yếu giải quyết các vấn đề ssau đây:
- Chiến lược đầu tư:
- Nguồn vốn đầu tư cho kinh doanh;
- Sử dụng lợi nhuận của doanh nghiệp;
- Phân tích, đánh giá, kiểm tra các hoạt động tài chính đểđảm bảo trạng thái
cân bằng tài chính.
- Quản lý hoạt động tài chính ngắn hạn đểđưa ra các quyết định thu chi cho
phù hợp.
Các hoạt động trên nhằm đạt tới mục tiêu lợi nhuận cao nhất, sản xuất kinh
doanh không ngừng tăng trưởng và phát triển.
9
9
c- Thực trạng doanh nghiệp Nhà nước hiện nay
Trong thời kỳ nền kinh tế nước ta được vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập
trung, các xí nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước chiếm địa vị thống trị trên hầu hết
các lĩnh vực kinh doanh và dịch vụ. Các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động
trong điều kiện được bao cấp của Nhà nước như:
- Mua vật tư theo giá hạ;
- Được cấp vốn, trang bị máy móc thiết bị và vay vốn theo lãi suất thấp;
- Được trả lương không đầy đủ cho người lao động, phần còn lại được Nhà
nước bao cấp ngoài lương;
- Được bao tiêu sản phẩm…
Do vậy, trên sổ sách lợi nhuận và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nhà
nước có thể có hoặc có thể rất lớn. Nhưng nếu tính đủ chi phí như tính đủ
nguyên giá tài sản cốđịnh và khấu hao tài sản đủ tỷ lệ quy định; Tính đủ giá
nguyên vật liệu, động lực, ngoại tệ nhập khẩu; Tính đủ tiền lương không bao cấp
bằng hiện vật bằng bù lỗ bên ngoài của Ngân sách Nhà nước thì thực chất đó là

Từ trước tới nay, có rất nhiều các quan điểm khác nhau về lợi nhuận. Ta có
thể thấy được điều này qua các quan điểm về lợi nhuận sau :
+ Lợi nhuận của doanh nghiệp: là khoản chênh lệch giữa thu nhập về tiêu thụ
hàng hoá và dịch vụ với chi phíđã bỏ ra đểđạt được thu nhập đó. Việc tính
toán thu nhập hay chi phíđã chi ra là theo giá cả của thị trường mà giá cả thị
trường do quan hệ cung cầu hàng hoá và dịch vụ quyết định.
11
11
+ Lợi nhuận: là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động SXKD, là chỉ
tiêu chất lượng tổng hợp đánh giá hiệu qủa kinh tế các hoạt động SXKD của
doanh nghiệp.
+ Thu nhập của doanh nghiệp hay chính là doanh thu bán hàng hoá và dịch vụ
trừđi toàn bộ chi phí sản xuất (chi phí về tiền thuê lao động, tiền lương, tiền
thuê nhà cửa, tiền mua vật tư ) thuế hàng hoá và các thứ thuế khác hầu như
còn lại được gọi là lợi nhuận. Có thể biểu diễn qua biểu sau :
Biểu 1 : Mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí, thuế và lợi nhuận.
Doanh thu bán hàng và dịch vụ
Lãi gộp
Chi phí biến
đổi
Chi phí cốđịnh Lợi nhuận trước thuế
Tổng chi phí sản xuất Thuế
Lợi nhuận
thuần túy
b- Các loại lợi nhuận của doanh nghiệp :
Trong doanh nghiệp, có nhiều loại hình lợi nhuận khác nhau, ta có thể khái
quát thành các loại lợi nhuận sau :
+ Lợi nhuận trước thuế.
+ Lợi nhuận sau thuế.
1.1.2.2- Các nguồn hình thành lợi nhuận của doanh nghiệp :

phản ánh cả về mặt lượng và mặt chất của quá trình kinh doanh, của hoạt
động kinh doanh. Công việc kinh doanh tốt sẽđem lại lợi nhuận nhiều từđó lợi
nhuận cókhả năng tiếp tục quá trình kinh doanh có chất lượng và hiệu quả
hơn. Trong trường hợp ngược lại doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả dẫn đến
thua lỗ nếu kéo dài có thể dẫn đến phá sản.
13
13
1.2-
PHƯƠNGPHÁPXÁCĐỊNHLỢINHUẬNVÀPHÂNPHỐILỢINHUẬNCỦ
ADOANHNGHIỆP
1.2.1- Các phương pháp xác định lợi nhuận của Doanh nghiệp
Như ta đã biết lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh số lượng và chất lượng của
các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào tổng mức
tiêu thụ sản phẩm hàng hoá và chi phíđã chi ra đểđạt được kết quảđó.
Ta có thể xác định được lợi nhuận theo công thức sau:
Tổng lợi
nhuận
trước
thuế
=
Tổng
doanh
thu
-
Tổng chi phí sản
xuất kinh doanh
Hay :
Tổng lợi
nhuận
trước

doanh
thu
-
Tổng chi phí
sản xuất kinh
doanh
+

Chi
phí
biến
đổi
14
14
Các khoản thuế phải nộp bao gồm :
- Thuế doanh thu = Tổng doanh thu x tỷ lệ thuế doanh thu phải nộp
- Thuế tài
nguyên (nếu
có)
=

Giá thành khối
lượng sản phẩm
x
Tỷ lệ thuế tài
nguyên
phải nộp
- Thuế xuất
nhập khẩu
(nếu có)

từ sản xuất
kinh doanh
+
Lợi nhuận từ
hoạt động kinh
doanh khác
Khi đã tính toán được tổng số lợi nhuận của doanh nghiệp ta còn phải xác
định số thuế lợi tức doanh nghiệp phải nộp.
Thuế lợi tức
phải nộp
=
Tổng số lợi
nhuận
x
Tỷ lệ thuế lợi tức
phải nộp
15
15
Số lợi nhuận còn lại sau khi đã trừđi thuế lợi tức được gọi là lợi nhuận
thuần túy của doanh nghiệp.
Như chúng ta đã biết: Toàn bộ doanh thu, giá thành toàn bộ và thuếđều được
xác định dựa trên cơ sở khối lượng sản phẩm tiêu thụ, giá bán đơn vị, giá
thành đơn vị và mức thuếđơn vị sản phẩm tiêu thụ. Do đó tổng lợi nhuận tiêu
thụ còn có thểđược tính theo công thức sau :
∑ln = [ ∑ (Qi x Gi ) - ( ∑ Zi + ∑Ti )]
∑ln : Tổng lợi nhuận của doanh nghiệp
Qi : Sản lượng hàng hoá tiêu thụ
Gi : Giá bán hàng hoá loại i
Zi : Giá thành hàng hoá loại i
Ti : Thuế hàng hoá loại i tiêu thụ

trường. Vềý muốn chủ quan thì doanh nghiệp nào cũng muốn tiêu thụ nhiều
những mặt hàng mang lại lợi nhuạan cao song ý muốn đó phải đặt trong mối
quan hệ cung cầu trên thị trường và những nhân tố khách quan tác động.
c- Nhân tố giá bán sản phẩm:
Trong điều kiện bình thường đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
bình thường, giá bán sản phẩm do doanh nghiệp xác định. Trong trường hợp
này giá bán sản phẩm thay đổi thường do chất lượng sản phẩm thay đổi. Do
việc thay đổi này mang tính chất chủ quan, tức là phản ánh kết quả chủ quan
của doanh nghiệp trong quản lý sản xuất kinh doanh nói chung và quản lý
chất lượng nói riêng. Khi giá bán sản phẩm tăng sẽ làm tổng số lợi nhuận tiêu
thụ. Từ phân tích trên có thể suy ra rằng việc cải tiến nâng cao chất lượng sản
phẩm là biện pháp cơ bản để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Mặt khác việc
thay đổi giá bán cũng do tác động của quan hệ cung cầu, của cạnh tranh
đây là tác động của yếu tố khách quan.
d- Nhân tố giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ:
Giá thành toàn bộ sản phẩm là tập hợp toàn bộ các khoản mục chi phí mà
doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Giá thành sản
17
17
phẩm cao hay thấp phản ánh kết quả của việc quản lý, sử dụng lao động, vật
tư kỹ thuật, tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nếu như sản lượng sản xuất, giá cả, mức thuế không thay đổi thì việc giảm
giá thành sẽ là nhân tố tích cực ảnh hưởng đến việc tăng lợi nhuận của doanh
nghiệp.
e- Nhân tố thuế nộp ngân sách:
Ảnh hưởng của thuếđối với lợi nhuận là không theo cùng một tỷ lệ. Việc tăng
giảm thuế là do yếu tố khách quan quyết định (chính sách, luật định của nhà
nước). Với mức thuế càng cao thì lợi nhuận của doanh nghiệp càng giảm
nhưng doanh nghiệp vẫn phải có nghĩa vụđóng thuếđầy đủ cho nhà nước.
1.2.2- Chếđộ phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp :

xuất kinh doanh và cũng không chỉ dùng chỉ tiêu này để so sánh chất lượng
hoạt động của các doanh nghiệp khác nhau. Trước hết lợi nhuận là kết quả tài
chính cuối cùng nó chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khách quan và chủ
quan, đồng thời các nhân tố này lại tác động lẫn nhau. Như do điều kiện sản
xuất kinh doanh, điều kiện vận chuyển hàng hoá, điều kiện thị trường tiêu thụ,
thời điểm tiêu thụ có khác nhau cũng làm cho lợi nhuận của các doanh nghiệp
khác nhau.
Hơn nữa quy mô của các doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm hàng
hoá và dịch vụ khác nhau thì lợi nhuận thu được cũng sẽ khác nhau. Ở những
doanh nghiệp lớn có thể công tác quản lý kém nhưng số lợi nhuận thu được
vẫn lớn hơn những doanh nghiệp có quy mô nhỏ nhưng công tác quản lý lại
rất tốt.
Do vậy đểđánh giá một cách đầy đủ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp thì phải sử dụng các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận. Các
chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận chính là các chỉ tiêu sinh lời kinh doanh biểu hiện
19
19
mối quan hệ giữa lợi nhuận và chi phí sản xuất thực tế hoặc với nguồn lực tài
chính để tạo ra lợi nhuận. Đồng thời cũng thể hiện trình độ năng lực kinh
doanh của nhà kinh doanh trong việc sử dụng các yếu tốđó. Như vậy ngoài
chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối còn phải dùng các chỉ tiêu tương đối là tỷ suất lợi
nhuận.
b- Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận:
* Tỷ suất lợi nhuận của vốn:
Đây là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận đạt được với số vốn đã chi ra bao gồm
các vốn cốđịnh và vốn lưu động.
Công thức:
Tỷ suất lợi nhuận
của vốn
=

Tổng số lợi nhuận
Tổng doanh thu tiêu thụ
hàng hoá& dịch vụ
Qua công thức cho thấy hiệu quả của một đồng doanh thu thì tạo ra được
bao nhiêu đồng lợi nhuận.
* Tỷ suất lợi nhuận theo lao động :
Là so sánh giữa tổng lợi nhuận với số lượng lao động tham gia vào quá
trình sản xuất kinh doanh hoặc với tổng chi phí về tiền lương (tiền công) sử
dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Điều này có tác dụng khuyến khích
các doanh nghiệp quản lý và sử dụng tốt lao động trong doanh nghiệp theo
các hợp đồng lao động.
Công thức :
Tỷ suất lợi nhuận
theo lao động
=
Tổng số lợi nhuận
Tổng lao động sử dụng trong kỳ
1.3.2- Các biện pháp nhằm tăng lợi nhuận trong doanh nghiệp
21
21
Qua việc phân tích các yếu tốảnh hưởng đến việc tăng lợi nhuận ở phần
trên ta có thểđưa ra một số biện pháp chính nhằm tăng lợi nhuận trong các
doanh nghiệp như sau:
a- Tăng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ theo nhu cầu trong nước và quốc
tế trên cơ sở phấn đấu nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ:
Nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng hay của thị trường rất đa dạng và
phong phú, dễ biến động. Trong điều kiện các nhân tố khác ổn định thì việc
tăng lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ theo nhu cầu thị trường sẽ làm tăng
lợi nhuận của doanh nghiệp. Muốn tăng được khối lượng sản phẩm tiêu thụ
cần chuẩn bị tốt các yếu tố vàđiều kiện cần thiết cho quá trình sản xuất kinh

- Biện pháp tiết kiệm nguyên vật liệu, năng lượng: Cần phải cải tiến định mức
tiêu hao, cải tiến phương pháp công nghệ, sử dụng tổng hợp nguyên liệu, vật
liệu thay thế, giảm tỷ lệ phế phẩm, giảm chi phí mua sắm, vận chuyển, bảo
quản và tiết kiệm nguyên vật liệu.
Ảnh hưởng của biện pháp này đến việc hạ giá thành sản phẩm được tính theo
công thức:
Chỉ số hạ
giá thành
do giảm
chi
phíNVL
=

Chỉ
sốđịnh
mức NVL
x
Ch

số
giá
cả
-
1
x
Chỉ số tỷ
trọng NVL
trong
giáthành
sản phẩm

- Biện pháp giảm chi phí cốđịnh trong giá thành sản phẩm:
Giảm chi phí cốđịnh ởđây không có nghĩa là phải đầu tư những công nghệ
rẻ tiền, cũ kỹ mà phải sử dụng những công nghệ tiên tiến nhằm tăng lượng
sản phẩm sản xuất ra. Tốc độ tăng sản phẩm hàng hoá sẽ làm cho chi phí
cốđịnh trong giá thành sản phẩm giảm vì tốc độ tăng chi phí nhỏ hơn tốc độ
tăng sản phẩm. Như vậy để tăng lượng sản phẩm sản xuất, phải mở rộng quy
mô sản xuất, tăng năng suất lao động.
Ảnh hưởng của biện pháp này được xác định theo công thức :
Chỉ số giảm
giá thành do
giảm chi phí
cốđịnh
=
Chỉ số chi
phí cốđịnh
-1
x
Chỉ số chi phí
cốđịnh trong giá
thành sản phẩm
Chỉ số sản
lượng
24
24
Trên cơ sở tính toán được ảnh hưởng của các nhân tố trong giá thành sản
phẩm ta phải kết hợp các nhân tốđể làm sao giảm được các chi phíở mức tối
ưu (không nhất thiết là giảm càng nhiều càng tốt như vậy sẽảnh hưởng tới
chất lượng sản phẩm).
d- Tổ chức tốt khâu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa và dịch vụ nhằm giảm chi
phí tiêu thụ:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status