Văn hóa trong Marketing mix, vào việc kinh doanh lụa tơ tằm khu phố cổ Hà Nội - Pdf 26

Bộ Giáo dục và Đào tạo

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 5
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ MARKETING MIX- VĂN HÓA TRONG
MARKETING ........................................................................................................... 8
1. Vị trí của Marketing mix trong kinh doanh ................................................... 8
1.1. Marketing mix – 4Ps trong Marketing........................................................ 8
1.1.1 Các mô hình trong Marketing: 4P, 5P, 7P ............................................. 8
1.1.2. Lựa chọn mô hình 4Ps ............................................................................ 9
1.2 Các yếu tố trong Marketing mix ................................................................... 9
1.2.1. Sản phẩm ................................................................................................ 9
1.2.2. Giá cả ................................................................................................... 10
1.2.3. Phân phối ............................................................................................. 11
1.2.4. Xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh .............................................................. 12
2. Vai trò của Văn hóa trong Marketing mix ................................................... 13
2.1. Môi trường Marketing ............................................................................... 13
2.1.1. Môi trường bên trong ........................................................................... 14
2.1.2 Môi trường bên ngoài ............................................................................ 14
2.2 Tác động của yếu tố văn hóa đến Marketing mix ..................................... 15
2.2.1 Văn hóa quyết định tính chất sản phẩm: ............................................... 15
2.2.2 Văn hóa ảnh hưởng đến chính sách giá cả trong kinh doanh ............... 17
2.2.3. Văn hóa ảnh hưởng đến việc phân phối sản phẩm ............................. 18
2.2.4. Văn hóa chi phối các biện pháp xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh ........... 18
CHƢƠNG II:
MIX TẠI CÁC CỬA HÀNG TƠ LỤ ............................ 22
1. Những nét khái quát về hoạt động buôn bán ở khu phố cổ Hà Nội: .......... 22
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển hoạt động buôn bán ở khu phố cổ Hà Nội
nói chung: ......................................................................................................... 22
1.1.1. Thế kỉ V - thế kỉ XVI ............................................................................. 22
1.1.2. Thế kỉ XVII - thế kỉ XX.......................................................................... 23
1.1.3. Thế kỉ XX đến nay ................................................................................. 23

3.1.3 Tổ chức các sự kiện quảng bá mặt hàng lụa ......................................... 49
3.2. Đề xuất giải pháp cho các nhà kinh doanh tơ lụa ở khu Phố Cổ Hà Nội49
3.2.1. Ứng dụng văn hoá vào sản phẩm ......................................................... 49
3.2.2. Ứng dụng văn hoá vào giá cả ............................................................. 51
3.2.3. Ứng dụng văn hoá vào hoạt động phân phối ...................................... 51
3.2.4. Ứng dụng văn hoá vào hoạt động xúc tiến bán hàng ........................... 51
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 56
Tài liệu tham khảo .................................................................................................. 57
PHỤ LỤC ................................................................................................................ 59 4

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ- BẢNG SỐ LIỆU

Loại STT Số trang Tên biểu đồ - bảng số liệu
Biểu đồ tròn
1 27
Thái độ của khách hàng về việc đi mua sắm tại các cửa
hàng lụa tại Hà Nội.
2 28 Khách hàng hài lòng với chất liệu lụa tơ tằm
3 29 Các sản phẩm lụa mang nét văn hóa Việt Nam
4 29 Lý do kinh doanh mặt hàng lụa.
5 30
Sự độc đáo trong các sản phẩm từ lụa tại các cửa hàng
khác nhau
6 31 Thời điểm bán hàng thuận lợi nhất trong năm.
7 32 Nguồn mẫu mã sản phẩm.
8 34
Đánh giá chung của khách hàng nước ngoài về vấn đề giá

ụa tơ tằm đượ
ầ ố
ế
Hơn nữa, tơ lụa còn là mặt hàng mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, nếu biết khai
thác yếu tố văn hóa có thể giúp bán được hàng với giá cao hơn và hấp dẫn khách nướ

kh

ụng mô
hình Marketing mix vào hoạt độ6
-
- M
3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Xác định vai trò của Văn hóa trong Marketing mix đối với việ
- ực trạng kinh doanh mặt hàng tơ lụa tại các cửa hàng ở phố cổ Hà Nội.
- ực trạng áp dụng Văn hóa trong Marketing mix vào việc bán
hàng lụa tơ tằm tại các cửa hàng ở khu Phố Cổ Hà Nội.
- Đề xuất một số phương án và hướng giải quyết cho thực trạng nêu trên.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bao gồm hai phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu bàn (Desk research): thông qua tài liệu sách, báo và thông tin trên mạng,
tìm hiểu những cơ sở lý thuyết về Marketing mix, vai trò của Văn hoá trong
Marketing mix cũng như thực trạng phân phối lụa tại khu phố cổ từ năm 2006 đến
năm 2008.

1.1. Marketing mix – 4Ps trong Marketing
1.1.1 Các mô hình trong Marketing: 4P, 5P, 7P
Thuật ngữ Marketing mix hay Marketing hỗn hợp được sử dụng rộng rãi kể từ
sau khi Neil H. Borden xuất bản bài viết „Khái niệm Marketing hỗn hợp„ năm 1964.
Borden đã bắt đầu sử dụng thuật ngữ này trong những bài giảng của ông từ cuối
những năm 1940 sau khi James Culliton từng mô tả nhà quản lý Marketing như một
người kết hợp những thành phần của Marketing với nhau. Marketing hỗn hợp được
hiểu là sự phối hợp hay sắp xếp các thành phần của Marketing sao cho phù hợp với
hoàn cảnh kinh doanh thực tế của mỗi doanh nghiệp nhằm củng cố vị trí vững chắc
của doanh nghiệp trên thương trường. Nếu các thành phần Marketing được phối hợp
nhịp nhàng và đồng bộ thích ứng với tình hình thị trường đang diễn ra thì công cuộc
kinh doanh của doanh nghiệp sẽ trôi chảy, hạn chế được những khả năng rủi ro và do
đó, mục tiêu sẽ đạt được là lợi nhuận tối đa và hài lòng khách hàng. Những yếu tố
trong Marketing hỗn hợp của Borden bao gồm bốn yếu tố sau đây: chính sách về sản
phẩm (Product), chính sách về giá cả (Price), chính sách phân phối (Place) và chính
sách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh (Promotion).
Từ mô hình Marketing hỗn hợp 4P cơ bản trên, người ta tiếp tục phát triển
những thành phần mới không kém phần quan trọng trong Marketing như: chính sách
về phát triển nhân lực, nhân sự công ty nói chung, nhân lực Marketing nói riêng
(People); tiến trình thực hiện, cải tiến quy trình sản phẩm quy trình thực hiện nhiệm
vụ...(Process); cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật, các yếu tố hỗ trợ cho chiến lược
Marketing (Physical Evidence). Tùy thuộc vào tình hình thị trường mục tiêu, vào loại
hình kinh doanh cũng như vào từng giai đoạn kinh doanh khác nhau mà những nhà
quản lý có thể linh hoạt áp dụng mô hình 4P, 5P hay 7P của marketing hỗn hợp vào
phân tích. 9

1.1.2. Lựa chọn mô hình 4Ps

Tap the tac gia, Giao trinh Marketing ly thuyet, NXB Giao Duc, 2000, 74 10

- Sản phẩm bổ sung (Augmented Product): những dịch vụ và ưu đãi tốt
hơn mà doanh nghiệp có thể cung cấp để cạnh tranh với đối thủ trên thị trường.
- Sản phẩm tiềm năng (Potential Product): những đổi mới là độc nhất, tốt
nhất và duy nhất có thể đạt được.
Sản phẩm được chia làm hai loại chính, đó là:
Sản phẩm hữu hình: hàng hóa như hàng tiêu dùng, hàng tư liệu sản xuất.
Sản phẩm vô hình: dịch vụ như dịch vụ tiêu dùng, dịch vụ thương mại hay dịch
vụ sản xuất.
Khi đưa sản phẩm ra thị trường, ở bất kì giai đoạn nào, doanh nghiệp cũng cần
xác định rõ vị trí của sản phẩm trên thị trường so với đối thủ cạnh tranh. Người ta dựa
vào 5 cấp độ của sản phẩm cũng như tương quan của bản thân doanh nghiệp và đối
thủ cạnh tranh để đánh giá.
Hầu hết các sản phẩm trên thị trường đều có nhãn hiệu và bao bì. Bao bì sản
phẩm phải đảm bảo thực hiện đồng thời bốn chức năng: bảo quản và bán hàng hoá,
thông tin về hàng hoá, thẩm mỹ, tạo nên sự hấp dẫn của sản phẩm với khách hàng và
chức năng thương mại. Việc lựa chọn nhãn hiệu cho sản phẩm có ý nghĩa quan trọng
bảo đảm thành công của phát triển sản phẩm mới. Việc lựa chọn nhãn hiệu phải bảo
đảm những yêu cầu về chất lượng, văn hóa, dễ nhớ, không trùng lặp và định vị sản
phẩm.
1.2.2. Giá cả
Ngày nay, giá cả không phải là yếu tố cạnh tranh hàng đầu nhưng vẫn luôn được
coi là yếu tố cạnh tranh quan trọng trong việc thu hút khách hàng đặc biệt là ở những
thị trường mà thu nhập của dân cư còn thấp.
Những mục tiêu chính của chính sách giá cả
2

- Quyết định mức giá tối ưu: sau khi hoàn thành các bước phân tích trên,
doanh nghiệp có thể cân nhắc quyết định mức giá phù hợp.
1.2.3. Phân phối
Đối với một doanh nghiệp, việc lựa chọn sản phẩm nào, chính sách giá thế nào
cho phù hợp thôi chưa đủ, mà doanh nghiệp còn phải xét đến phương thức đưa sản
phẩm đó ra thị trường như thế nào, bằng những kênh phân phối nào. Nội dung cơ bản
của chính sách phân phối trong marketing sản phẩm mới là thiết kế và quản lý mạng
lưới bán hàng trong giai đoạn đầu doanh nghiệp tung sản phẩm ra thị trường. Mạng
lưới bán hàng đó là tập hợp các kênh với sự tham gia của các chủ thể khác nhau có
khả năng và uy tín khác nhau để đưa hàng hoá từ doanh nghiệp sản xuất đến các
khách hàng một cách thành công.

3
Tap the tac gia, Giao trinh Marketing ly thuyet, NXB Giao Duc, 2000, 106 12

Phương thức phân phối hàng hóa phổ biến là phương thức phân phối trực tiếp
và phân phối gián tiếp.
- Phương thức phân phối trực tiếp là hoạt động phân phối trực tiếp đưa
hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng.
- Phương thức phân phối gián tiếp là hoạt động phân phối thông qua các
trung gian phân phối
Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai phương thức phân phối trên cũng
như phối hợp cả hai nhằm tận dụng được các ưu điểm và hạn chế các nhược điểm của
mỗi phương thức.
Xác định kênh phân phối là một trong những nội dung quan trọng của chính
sách phân phối. Việc thiết kế và quản lý kênh phân phối mới của doanh nghiệp cần
phù hợp tính chất sản phẩm, dễ dàng tìm mua sản phẩm, đảm bảo tăng doanh số bán

Các doanh nghiệp thường sử dụng hai chiến lược kéo và đẩy để tác động đến
từng nhóm khách hàng mục tiêu khác nhau. Chiến lược kéo là lôi kéo, khuyến khích
khách hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp mình. Ngược lại, chiến lược đẩy là đẩy
hàng hóa ra thị trường thông qua các mạng lưới phân phối.
Đế đạt được mục đích của chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh là giới
thiệu, thuyết phục khách hàng về sản phẩm của mình, doanh nghiệp cần phối hợp sử
dụng các công cụ, bao gồm sáu công cụ: quảng cáo, quan hệ công chúng, hội chợ triển
lãm, bán hàng cá nhân, xúc tiến bán và văn minh thương mại.
- Quảng cáo: thông qua các phương tiện nghe nhìn (truyền hình, đài phát
thanh, internet), in ấn (sách, báo, tạp chí...) và ngoài trời (pa-nô, bảng điện
tử...), di động (tầu, xe buýt...), ...
- Quan hệ công chúng: ấn phẩm (báo cáo tổng kết, bản tin nội bộ của
doanh nghiệp,...), tài trợ cho các sự kiện văn hóa-thể thao, hội nghị khách hàng,
...
- Hội chợ triển lãm: tổng hợp – chuyên ngành, định kỳ - không định kỳ
- Bán hàng cá nhân: đội ngũ bán hàng trực tiếp giao tiếp với khách hàng
mục tiêu
- Xúc tiến bán: bảo hành, gói quà tặng hoặc giảm giá, ...
- Văn minh thương mại: cách bài trí, dịch vụ của đại lý, hình thức giao
tiếp với khách hàng, đạo đức trong kinh doanh (không chỉ chú trọng phát triển
khách hàng mới mà còn duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng cũ).
2. Vai trò của Văn hóa trong Marketing mix
2.1. Môi trường Marketing 14

Môi trường Marketing của doanh nghiệp bao gồm nhiều nhân tố khác nhau, các
nhân tố này tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo chiều hướng
tích cực hoặc tiêu cực.


lượng sản phẩm được đổi mới, xuất hiện sản phẩm mới với năng lực cạnh tranh cao
hơn.
- Môi trường tự nhiên: bao gồm các yếu tố như tài nguyên, đất đai, vấn đề ô
nhiễm môi trường, v.v... Những vấn đề này liên quan đến hoạt động của doanh
nghiệp, ảnh hưởng đến các sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường, liên quan
đến giá thành và lợi nhuận.
- Những yếu tố thuộc môi trường văn hoá: là những thói quen, tập quán mang
tính chất truyền thống, tín ngưỡng, thái độ của con người đối với bản thân, với người
khác và đối với cộng đồng, đối với thể chế xã hội.
2.2 Tác động của yếu tố văn hóa đến Marketing mix
2.2.1 Văn hóa quyết định tính chất sản phẩm:
Sản phẩm- chữ P đầu tiên trong 4P nếu xét trong môi trường văn hóa có thể
được phân tích trên hai khía cạnh: khía cạnh vật chất và khía cạnh biểu trưng của sản
phẩm.
5

* Khía cạnh vật chất của sản phẩm:
Yếu tố vật chất của một vật thể bao gồm những tính chất vật lý, những gì có thể
quan sát, nhận xét được như màu sắc, chất liệu, kích thước… Tuy nhiên, mỗi quốc gia
sẽ có những quan điểm, sở thích về sản phẩm khác nhau. Người dân tại vùng nhiệt đới
có khí hậu nóng ẩm như Thái Lan, Trung Quốc rất chuộng những tông màu ấm nóng
như đỏ, vàng, da cam, trong khi các nước ôn đới Châu Âu như Anh, Pháp, Italia với
cái lạnh quanh năm lại chuộng những gam màu trầm hay tông màu trung tính như nâu,
hạt dẻ, màu be vàng, màu kem, đôi khi là trắng sữa hay xanh dịu. Có thể thấy rằng, sự
khác nhau trong lựa chọn về màu sắc phần nào cũng là do khí hậu, thời tiết của đất
nước đó.
Ngay cả kích cỡ sản phẩm sản xuất tại các quốc gia khác nhau cũng sẽ có
những điểm khác nhau. Lâý ví dụ về ngành may mặc- sản xuất quần áo, người phương
Tây thường cao lớn hơn người phương Đông, đặc trưng chân dài, khung xương rộng

trưng cho một vật hay sự việc khác, thông qua mối quan hệ ngẫu nhiên hay chủ ý„
6
.
Khía cạnh biểu trưng có thể được thể hiện qua tính truyền thống của sản phẩm, chẳng
hạn như áo sườn xám Trung Quốc, bia Đức, nước hoa Pháp… nhưng nó cũng có thể
đại diện cho tính hiện đại của sản phẩm.
7
Tận dụng yếu tố này, các nhà sản xuất đồ
lưu niệm thường khéo léo kết hợp yếu tố truyền thống vào các sản phẩm gần gũi- phổ
biến trên thế giới, chẳng hạn như in hình Hải Sư lên móc chìa khóa để bán cho khách

6
Shorter Oxford English Dictionary, Oxford University Press, 2002, New York.
7
Jean- Claude Usunier, Julie Anne Lee, Marketing Across Culture, Prentice Hall,2005, England, 265 17

du lịch tới Singapore, hay in hình cờ đỏ sao vàng, hình Chuà Một Cột… lên áo phông
cho khách du lịch tới Việt Nam.
2.2.2 Văn hóa ảnh hưởng đến chính sách giá cả trong kinh doanh
Thông thường, giá cả của sản phẩm bày bán trên thị trường sẽ bao gồm tiền
mua nguyên liệu, chi phí sản xuất, tiền vận chuyển hay dịch vụ… Tuy nhiên, không
phải giá cả của cùng một lọai sản phẩm thì sẽ như nhau. Bới lẽ, việc niêm yết giá, thoả
thuận giá còn phụ thuộc vào yếu tố văn hóa.
* Các cách niêm yết và thoả thuận giá trên thế giới
Các hình thức niêm yết giá cả tại các quốc gia khá phong phú và được dựa trên
nhiều tiêu chí. Để đơn giản và phù hợp nhất, cách phân loại “mặc cả” và “không mặc
cả” thường được sử dụng khi nhắc tới việc niêm yết hay thoả thuận giá. Nhìn chung,

lại, các quốc gia phương Tây lại áp dụng phần lớn kênh phân phối dài với sự tham gia
của nhà sản xuất, các trung gian phân phối, người bán buôn, hệ thống bán lẻ phong
phú .
Điều này có thể được giải thích bởi quan điểm trọng thương của người Châu
Âu, kết hợp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật kết hợp với những tiến bộ trong
vận tải giúp các nước tư bản phương Tây như Anh, Pháp, Hà Lan nhanh chóng tiến tới
chuyên môn hóa trong sản xuất và tận dụng lợi thế nhờ quy mô. Hàng hóa, do đó,
thường được bán với số lượng lớn, luôn đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Những
hãng giày nôỉ tiếng như Charles and Keith, Nine West, Puppies tại Ring Center ở
Berlin luôn có hệ thống phân phối rộng, các cửa hàng đặt ở những khu trung tâm khá
gần nhau nên việc huy động sản phẩm đáp ứng nhu cầu khách hàng dễ dàng và nhanh
chóng. Những người chủ hàng cũng cho biết, các cửa hàng càng có sự tham gia của
người trung gian thì càng thể hiện sự đồng đều và đa dạng trong sản phẩm, đồng thời
tạo cảm giác tiện ích cho khách hàng khi đi mua sắm. Về phía người bán hàng, giá trị
sản phẩm cũa được tăng lên đáng kể khi buôn bán theo kênh phân phối dài.

2.2.4. Văn hóa chi phối các biện pháp xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh
Trong mô hình 4P, đây là chữ P cuối cùng nhưng cũng là chữ P mang ý nghĩa
chiến lược. Doanh thu, thị phần, doanh số bán hàng, lợi nhuận… trong kinh doanh đều
bị ảnh hưởng bởi yếu tố này. Chính vì thế, các nhà sản xuất thường rất khéo léo tận
dụng những công cụ trong xúc tiến bán hàng để thu hút khách hàng của họ. Trong thời
kì hội nhập, khi các doanh nghiệp mở rộng đối tượng khách hàng ra toàn thế giơi, việc
vận dụng yếu tố văn hóa trong xúc tiến bán hàng vì thế lại càng được coi trọng. 19

* Văn hóa thể hiện trong quảng cáo.
Quảng cáo thường tác động vào các giác quan của con ngươì như thị giác,
thính giác… thông qua hình ảnh, âm thanh, màu sắc, tiếng động… Những nhà sản


20

kém chất lượng. Người Tây Đức luôn bị cuốn hút bới những đợt giảm giá của các
hãng có tên tuổi hơn là những đợt tặng quà muà “Sale„.
Bốc thăm trúng thưởng hay tích điểm?
Một ví dụ minh họa dễ hiểu nhất cho trường hợp này là cửa hàng Pizza
Pepperonis có tiếng hơn 12 năm tại Việt Nam. Pepperonis tại Việt Nam có lượng
khách khá ổn định bởi nhiều chính sách khuyến mãi, tích điểm. Tuy nhiên, Pepperonis
tại Hồng Kông- “cha đẻ„ của chuỗi cửa hàng Pepperonis- lại thu hút khách hàng dựa
vào hình thức bốc thăm trúng thưởng hay những thẻ cào may mắn, đánh trúng tâm lý
và nhịp điệu sống nhanh của người dân tại đất nước này.
* Văn hóa ảnh hưởng đến phong cách trưng bày sản phẩm.
Người Ý hay Pháp rất thích mua sắm trong những cửa hàng rộng, nhiều ánh
sáng, được đầu tư về thiết kế. Các cửa hàng ở Châu Âu phần lớn đều được đặt trong
những khu mua sắm riêng, thiết kế hay bài trí luôn đề cao tính độc đáo, bắt mắt, mọi
mẫu mã sản phẩm được treo hoặc mặc vào ma-nơ-canh, nếu có kích cỡ và màu khác
nhau sẽ được gấp và xếp theo các khu rất thoáng. Trái lại, tại những nước Châu Á,
nhất là các cửa hàng vẫn mang tính gia truyền, việc bày biện không được đầu tư kĩ
đến vậy. Như trong các cửa hàng bán khăn tại khu phố Trung Hoa ở Malaysia, chỉ có
các sản phẩm đẹp nhất được trưng bày, còn lại đều xếp thành từng chồng sản phẩm.
Những cửa hàng bán cho du khách như vậy vừa có tính chất trưng bày sản phẩm, vừa
mang dáng dấp của một cửa hàng bán buôn.
* Văn hóa định hướng quá trình giao tiếp trong kinh doanh.
Vai trò của ngữ cảnh trong giao tiếp lần đầu được đưa ra bởi nhà nhân chủng
học người Mỹ Edward Hall. Ông đã chia nền văn hóa ra nền văn hóa có ngữ cảnh
mạnh và nền văn hóa có ngữ cảnh yếu
9
. Người dân ở các nước có nền văn hóa ngữ
cảnh mạnh như Trung Quốc, Ấn Độ, thường đòi hỏi người bán hàng có sự nhiệt tình,

TẠI CÁC CỬA HÀNG TƠ LỤ

1. Những nét khái quát về hoạt động buôn bán ở khu phố cổ Hà Nội:
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển hoạt động buôn bán ở khu phố cổ Hà Nội nói
chung:
Phố cổ Hà Nội là nơi còn lưu giữ được nhiều nhất bản sắc văn hoá của một Hà
Nội xưa giàu truyền thống, cũng là nơi hoạt động buôn bán đã được hình thành từ rất
sớm. Trở thành khu phố buôn bán sầm uất và mang nhiều nét văn hoá truyền thống
như ngày nay, khu Phố Cổ Hà Nội đã trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử với ba giai
đoạn chính.
10

1.1.1. Thế kỉ V - thế kỉ XVI
Từ xa xưa, dọc hai bên bờ sông Hồng đã hình thành những khu vực dân cư sinh
sống. Vào thế kỉ thứ V (454-456) thời kì Bắc thuộc, một trong những tụ điểm dân cư
này phát triển thành một quận nhỏ có tên là Tống Bình. Trải qua hàng ngàn năm, Tống
Bình đã trở thành trung tâm đầu não về chính trị, quốc phòng, văn hoá, kinh tế quan
trọng của đất nước Việt Nam. Từ Tống Bình đến Hà Nội ngày nay là cả một quá trình
đô thị hoá phức tạp diễn ra trong một không gian rộng với quy mô lớn.
Khu phố cổ Hà Nội là khu phố nằm xung quanh thành cổ Hà Nội và mang đậm
nét văn hoá cổ xưa của Hà Nội. Dưới thời nhà Lý, nhà Trần, Phố cổ Hà Nội bao gồm
nhiều phường trong tổng số 61 phường thời đó. Dưới thời Lê, đầu thế kỉ XVI, Hà Nội
trở thành Đông Kinh, khắp nơi đổ về làm ăn buôn bán trong 36 phường lúc bấy giờ,
và dần dần nơi đây chính là khu Phố Cổ ngày nay. Khu Phố Cổ mang nặng bản sắc
dân tộc Việt có sắc thái đặc trưng của một khu dân cư sản xuất chủ yếu là nghề thủ
công truyền thống. Nơi đây diễn ra nhiều hoạt động trong đời sống hàng ngày của cư

10

10

của hợp tác xã (như chợ Đồng Xuân, chợ Hàng Da,...)
Dân cư ở khu Phố Cổ cứ tăng dần lên, lấn chiếm các không gian trống của các
sân trong từng nhà. Một số mặt hàng thủ công truyền thống bị mai một.
Khu Phố Cổ từ 1986 đến nay với đường lối chính sách mới từ nền kinh tế bao
cấp chuyển sang kinh tế thị trường; mở rộng sự giao lưu kinh tế và quan hệ với quốc
tế; mở rộng các thành phần kinh tế trong nước, khích lệ mọi tầng lớp nhân dân xây 24

dựng mở mang phát triển kinh tế văn hoá xã hội, buôn bán ở khu Phố Cổ dần dần
được phục hồi, phát triển và sầm uất hơn xưa.
Tuy nhiên, ngày nay hầu như Hà Nội không còn phố nghề với tư cách nơi sản
xuất, vì trong số 53 phố có tên gọi bắt đầu bằng chữ “Hàng” hiện tồn tại chỉ có 5 phố
còn đúng nghề; tức còn có hoạt động sản xuất mặt hàng truyền thống Đó là các phố
Hàng Thiếc, Lò Rèn, Hàng Hòm, Hàng Bạc, Hàng Tiện. Ngoài ra còn 2 phố chuyên
doanh buôn bán các mặt hàng truyền thống đúng với tên phố: Hàng Đồng, Hàng Mã,
nhưng sản xuất là phụ mà chủ yếu là mua buôn hàng từ các nơi khác mang đến. Có
những phố khác nảy ra những mặt hàng mới song chủ yếu vẫn là buôn bán chứ không
phải sản xuất như Hàng Gai buôn bán hàng thêu, Hàng Dầu, Hàng Bè buôn bán giầy
dép, Hàng Khoai buôn bán đồ sứ...
Bên cạnh hoạt động buôn bán phát triển, khu Phố Cổ còn là điểm đến của rất
nhiều khách du lịch nước ngoài, đây cũng là nhân tố thúc đẩy tích cực hoạt động
thương mại, dịch vụ, văn hoá tại Phố Cổ Hà Nội.
1.2. Giá trị văn hoá trong hoạt động buôn bán ở khu phố cổ Hà Nội
Phố cổ Hà Nội thu hút nhiều khách du lịch nước ngoài không chỉ bởi sự nhộn
nhịp của hoạt động buôn bán mà còn bởi giá trị văn hoá tiềm ẩn trong những hoạt
động đó. Giá trị văn hoá của khu phố cổ thể hiện ở những nghề thủ công truyền
thống đã hình thành nên những làng nghề, phố nghề ở Hà Nội.
Theo những tên phố có chữ “Hàng” ở đầu, có thể thấy Phố Cổ Hà nội là khu

bởi nghề buôn tơ lụa.
Con phố tơ lụa Hàng Gai (thuộc phường Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm) dài 250
mét nhưng có tới 91 gia đình kinh doanh tơ lụa hoặc hàng hoá và dịch vụ kết hợp tơ
lụa. Các sản phẩm từ lụa ở đây khá phong phú với nhiều chủng loại hàng hoá như
quần, áo, váy, cà-vạt, khăn, túi xách tay,... Nhìn chung, với hầu hết những cửa hàng
có quy mô không lớn, mẫu mã hàng hoá không có sự khác biệt nhiều, cũng chưa có
nét riêng đặc sắc. Bên cạnh đó, một số cửa hàng như Khai Silk, Hoa Silk, Cự Thành,
Hà Đông Silk không chỉ dừng lại ở những đồ may sẵn thuần tuý mà đã có được những
mặt hàng mang nét riêng cho mình: Khai Silk có những thiết kế Âu hoá hợp thời, Cự
Thành chuyên về vải, Hoa Silk chuyên về khăn lụa,... Tuy nhiên những cửa hàng như
vậy chưa nhiều. Nguồn cung cho tơ lụa Hàng Gai chủ yếu được lấy từ làng tơ lụa Vạn
Phúc- Hà Đông.
Với sự đa dạng về chủng loại hàng hoá, chất liệu tự nhiên, mặt hàng này thu
hút rất nhiều khách du lịch tới mua, tạo một nguồn thu đáng kể cho các cửa hàng bán

Trích đoạn Những thách thức trong việc phân phối lụa ở khu Phố Cổ Hà Nội trong thờ xuất giải pháp cho các nhà kinh doanh tơ lụa ở khu Phố Cổ Hà Nộ Ứng dụng văn hoá vào hoạt động xúc tiến bán hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status