Đáp án môn học NHỮNG vấn đề cơ bản về NHÀ nước và PHÁP LUẬT xã hội CHỦ NGHĨA - Pdf 26

Câu hỏi môn: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC
VÀ PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Câu 1: Cơ cấu tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị nước ta. Vị
trí, vai trò của Nhà nước trong hệ thống chính trị XHCN ở VN?

Chính trị là hoạt động gắn với những quan hệ giữa các giai cấp, dân tộc, quốc gia và các
nhóm xã hội khác nhau, xoay quanh vấn đề trung tâm - vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực
nhà nước.
Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (các cơ quan quyền lực
nhà nước, các đảng chính trị, các phong trào xã hội, các tổ chức chính trị - xã hội…) được xây
dựng trên các quyền và các chuẩn mực xã hội, phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định,
vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị.
Hệ thống chính trị được tạo thành từ nhiều bộ phận là một kết cấu phức tạp gồm nhiều bộ
phận nhỏ khác, như:
- Tiểu hệ thống thể chế chính trị (các tổ chức),
- Tiểu hệ thống quan hệ,
- Tiểu hệ thống cơ chế,
- Tiểu hệ thống các nguyên tắc vận hành.
Như vậy, cấu trúc của HTCT gồm bốn bộ phận:
+ Các tổ chức là cốt vật chất của HTCT,
+ Quan hệ chính trị là bộ phận kết nối,
+ Cơ chế là phương thức hoạt động,
+ Các nguyên tắc vận hành nhằm đảm bảo HTCT vận hành thông suốt.
Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nước ta:
Hệ thống chính trị nước ta về tổ chức bộ máy bao gồm: ĐCS VN, Nhà nước, Mặt trận
TQVN và các TCCTXH.
- ĐCSVN là hạt nhân, lãnh đạo hệ thống chính trị.
- NNCHXHCNVN bao gồm: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, hệ thống tư pháp (TA
và VKS) và chính quyền địa phương. Là trung tâm của quyền lực chính trị.
QH là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực cao nhất của nước
CHXHCNVN. QH có chức năng lập pháp; quyết định những vấn đề xã hội, QP, AN của đất

thống chính trị)
+ cơ chế tư vấn: tuyên truyền, giáo dục theo định hướng chính trị nhất định.
+ Cơ chế kiểm soát quyền lực (có hai hệ thống):
- Các cơ quan nhà nước (QH, HĐND, thanh tra, kiểm toán…), đây là hệ thống
kiểm soát quyền lực bên trong.
- Các tổ chức Đảng, đoàn thể, dư luận xã hội, hệ thống thông tin đại chúng, quyền khiếu
nại, tố cáo của nhân dân. Đây Là hệ thống kiểm soát quyền lực bên ngoài.
Các cơ chế vận hành này có quan hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi một loại tổ chức trong hệ
thống chính trị tuy theo chức năng, nhiệm vụ, phương thức tổ chức và hoạt động để sử dụng và
kết hợp các cơ chế sao cho quá trình thực thi quyền lực chính trị có hiệu lực và hiệu quả nhất.
Vị trí, vai trò của Nhà nước trong Hệ thống chính trị XHCN ở VN:
Nhà nước Việt Nam có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị được
quy định bởi chức năng và nhiệm vụ của nó trong hệ thống chính trị, trong đời sống xã hội và
được thể hiện trong mối quan hệ giữa Nhà nước với Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong
hệ thống chính trị. Nhà nước thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành hiến pháp, pháp
luật và chính sách làm công cụ quản lý nhà nước đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
2
Trong hệ thống chính trị nước ta, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trụ
cột, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách
nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội. Đó chính là Nhà nước của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Mặt khác, Nhà nước chịu sự lãnh đạo và thực hiện đường
lối chính trị của Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ
của nhân dân.
Vị trí, vai trò của Nhà nước trong Hệ thống chính trị XHCN ở VN thể hiện ở các mặt sau
đây:
Thứ nhất: Nhà nước là biểu hiện tập trung nhất của quyền lực chính trị
- là đại diện của các tầng lớp, giai cấp, nhóm lợi ích chủ yếu trong xã hội;
- là đại diện chính thức của toàn xã hội;
- Nhân dân thực hiện quyền lực của mình một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các
cơ quan đại diện;

tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo đồng thời chịu trách nhiệm trước nhân dân và sự
giám sát của nhân dân.
Xây dựng nhà nước pháp quyền đang trở thành một xu thế khách quan tất yếu đối với các
quốc gia dân chủ trong thế giới hiện đại. Việt Nam cũng không nằm ngoài quỹ đạo chung đó.
Yếu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền lần đầu tiên được Đảng ta chính thức đưa vào văn kiện
Đại hội VIII của Đảng và qua các kỳ ĐH tiếp theo, tiếp tục được khẳng định tại Đại hội XI của
Đảng, trong đó Đảng ta đặc biệt chú ý đến việc “nâng cao năng lực quản lý và điều hành của
Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN và kỷ lụa, kỷ cương”
Phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Thứ 1, Phát huy dân chủ, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân
- Phát huy dân chủ, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân là phương hướng và là mục
tiêu bao trùm của nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam.
- Đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân là vấn đề có ý nghĩa sống còn của nhà nước ta.
Đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân còn là tiêu chí đánh giá tính chất nhà nước của dân, do
dân, vì dân.
- Quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện:
+ Nhân dân tham gia bầu cử các đại biểu của mình vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các
cấp.
+ Nhân dân tham gia công việc quản lý nhà nước ở địa phương và cơ sở (Tham gia dân
quân tự vệ, dân phòng…)
+ Tham gia góp ý, xây dựng, đánh giá các chủ trương, chính sách của nhà nước phù hợp
với thực tiễn của địa phương.
+ Tham gia giám sát các cơ quan nhà nước, các đại biểu của dân trong việc thực hiện
chức năng, nhiệm vụ được giao.
4
+ Thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo ngăn chặn những hành vi tham nhũng, tiêu cực của
cán bộ, công chức nhà nước.
+ Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thực hiện đầy đủ Quy chế dân chủ ở cơ sở:
phổ biến cụ thể những điều dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
- Về hình thức và phương pháp quản lý:

Hiến pháp và luật quy định.
Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực cao nhất của
nhà nước.
Các giải pháp cụ thể:
5
Một là: Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của việc thực hiện các chức năng
của Quốc hội:
- Là cơ quan duy nhất có quyền lập Hiến và lập pháp,
- Là cơ quan có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước về đối nội và đối
ngoại, bao gồm cả kinh tế, chính trị, văn hoá- xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước.
- Là cơ quan giám sát tối cao các hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Hai là: Phát huy vai trò của Đại biểu Quốc hội:
- Đại biểu là thành tố cơ bản trong cơ quan quyền lực cao nhất. vì vậy, cần xác định rõ vị
trí vai trò của đại biểu quốc hội (đại biểu chuyên trách và đại biểu không chuyên trách.
- Đổi mới chế độ bầu cử, đảm bảo tính đại diện trong cơ cấu nhưng chát lượng phải được
đưa lên hàng đầu. Nâng cao năng lực đại biểu, nhất là bản lĩnh và nghiệp vụ.
Ba là: Tiếp tục kiện toàn các cơ quan của Quốc hội:
Các cơ quân của Quốc hội gồm:
- Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
- Hội đồng dân tộc,
- Các uỷ ban.
Bốn là: Tăng cường mối quan hệ giữa Quốc hội và nhân dân
- Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, với tư cách là người dai diện cho
nhân dân, là cầu nối giữa nhân dân và nhà nhà nước.
- Thông qua các kỳ họp, các phương tiện thông tin đại chúng thông báo đầy đủ những
việc mà Quốc hội bàn bạc và quyết định.
- Thông qua đại biểu của mình Quốc hội quy định cơ chế tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ
họp là nội dung quan trọng trong mối quan hệ giữa Quốc hội và nhân dân.
Năm là: Bảo đảm các điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Quốc hội
- Tăng cường đội ngũ chuyên gia giỏi cho VP Quốc hội,

+ Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng chức danh cán bộ, công chức, nhất là người
đứng đầu các cơ quan hành chính.
+ Cải cách tiền lương và các chế độ đãi ngộ đối với cán bộ công chức.
+ Nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức.
- Tiếp tục đổi mới chế độ tài chính công và tài sản công:
Thu, chi tài chính công đảm bảo theo đúng quy định của nhà nước, đảm bảo tiết kiệm,
công bàng, có hiệu quả.
Thứ 5: Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp
Hoạt động tư pháp chủ yếu là hai cơ quan: Toà án và Viện kiểm sát. Trong truy tố và xét
xử phải đảm bảo khách quan, vô tư, đúng người đúng tội, không để lọt tội phạm, không làm oan
người vô tội.
- Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật:
Xây dựng hệ thống pháp luật theo hướng đáp ứng cơ chế thị trường, tương thích với luật
pháp quốc tế mà chúng ta đã gia nhập và ký kết.
- Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp:
+ Về Toà án: Sửa đổi Luật Tổ chức Toà án , tăng thẩm quyền cho toà cấp huyện, thành
lập toà án khu vực, rút gọn thủ tục xét xử.
+ Viện kiểm sát: Tăng cường chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, mở
rộng thẩm quyền cho VKS cấp huyện tương ứng với Toà án.
+ Về công tác điều tra: Giảm sự chồng chéo của cơ quan điều tra; xác định rõ trách
nhiệm, quyền hạn của cơ quan điều tra.
+ Về công tác thi hành án: tập trung nhiệm vụ quản lý nhà nước về thi hành án vào một
đầu mối theo tinh thần Nghị quyết 08 và 49 của Bộ Chính trị.
7
- Chấn chỉnh các tổ chức và các hoạt động bổ trợ tư pháp: Các hoạt động luật sư,
công chứng, hộ tịch, giám định… từng bước xã hội hoá nhưng cần xác định rõ trách nhiệm,
nghĩa vụ, đạo đức của người thực hiện.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức ngành tư pháp: chú ý vận dụng những đặc thù
của nghề nghiệp.
Thứ 6. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước

+ Có chiến lược, kế hoạch đấu tranh
+ Thái độ kiên quyết, kiên trì…
- Triển khai đồng bộ các biện pháp đấu tranh:
8
+ Vừa chống, vừa xây
+ Chống tận gốc
+ Phát huy sức mạnh toàn xã hội
+ xử lý nghiêm minh, kịp thời
+ Tăng cường vai trò của cơ quan chuyên trách.
+ Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng.
Các giải pháp nói trên phải được thực hiện đồng bộ và biến thành quyết tâm của cả hệ
thống chính trị
Thứ 8. Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều
kiện xây dựng nhà nước pháp quyền
Sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền thể hiện ở các nội
dung:
- Xác định quan điểm, phương hướng, nội dung cơ bản,
- Đề ra đường lối, chính sách,
- Lãnh đạo hoạt động của các cơ quan dân cử,
- Lãnh đạo hoạt động của các cơ quan hành chính,
- Lãnh đạo hoạt động của các cơ tư pháp,
- Lãnh đạo công tác xây dựng pháp luật,
- Lãnh đạo công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức.
Phương thức lãnh đạo của Đảng là: Công tác tư tưởng, tổ chức và kiểm tra, thể hiện hai
nhóm giải pháp sau đây:
- Nhóm giải pháp chỉnh đốn:
+ Nâng cao công tác gió dục chính trị, tư tưởng,
+ Đổi mới các khâu trong công tác cán bộ (quy hoạch, đào tạo, đánh giá, sử dụng…
+ Xây dựng chính quyền, đoàn thể,
+ Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn.

cuối cùng là siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính để mệnh lệnh hành chính luôn được chấp
hành một cách nghiêm túc và thông suốt từ trung ương đến cơ sở.
-Tăng cường hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân các cấp, của các cơ quan và
từng đại biểu hội đồng nhân dân,
Nhằm kiếm tra, đánh giá việc chấp hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh và các văn bàn quy
phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền cấp trên; kiểm tra, đánh giá và kết luận, xử lý đối
với và thực hiện các nghị quyết của hội đồng nhân dân.
- Tăng cường đạo đức công vụ của cán bộ, công chức .
Đây là vấn đề được đặt ra hết sức bức thiết nhằm ngăn chặn và hạn chế những tiêu cực,
tình trạng sách nhiễu, quan liêu, tham những, trong các cơ quan Nhà nước. Thực tiễn cho thấy.
dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có đạt đến độ hoàn hảo tuyệt đối, quy chế, quy tắc ứng
xử của cơ quan quản lý nhà nước có đạt đốn độ hoàn mỹ thì cũng khó có thể đem lại hiệu quả
như mong muốn nếu như trong quá trinh thục thi công vụ, cán bộ, công chức không thực hiện
nghiêm pháp luật, chấp hành không đúng quy chế quy tắc ứng xử đã được thế chế hóa.
- Đổi mớí và chỉnh đốn đảng
Trước thực trạng yếu kém và bất cập của các tổ chức Đảng, sự thoái hóa, tụt và biến chất
của một số bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên như hiện nay thì vấn đề đổi mói và chỉnh đốn
Đảng lại được đặt ra một cách bức thiết hơn bao giờ hết. Đổi mới và tự chỉnh đốn gồm nhiều
nội dung như: Đổi mói công tác tư tưởng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, phòng
chống tham nhũng, lãng phí; công tác cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát,… Chỉ có tiến hành
10
đồng bộ những nội dung đó mới làm cho Đảng ngày càng vững mạnh hớn, đủ năng lực lãnh đạo
công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.
Như vậy, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là tất yếu khách quan đối với Việt Nam.
Tuy nhiên, cũng cần xác định rằng, đây là sự nghiệp lâu dài của toàn Đảng, toàn dân. Những
vấn đề đó không phải dề gì một sớm một chiều mà giải quyết. Để đạt tói một nhà nước pháp
quyền XHCH theo đúng nghĩa của nó cần có sự nỗ lực rất lớn của Đảng và Nhà nước, sự đầu tư
về trí tuệ, sức người, sức của, của toàn xã hội
11
Câu 3: Vị trí, vai trò, chức năng của HĐND? Liên hệ. Vị trí, vai trò, chức năng,

- Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát
việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ
quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa
phương.
Liên hệ:
Liên hệ thức tiễn với HĐND xã, phường, thị trấn:
12
Thực tế hiện nay HĐND xã, phường, thị trấn đôi khi chưa phát huy đầy đủ vị trí,vai trò
của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương:
+Hoạt động của HĐND xã, phường, thị trấn nhìn chung còn hạn chế, công tác tham gia
xây dựng và tuyên truyền, phả biện pháp luật, chủ trương của Đảng Nhà nước, nghị quyết của
HĐND còn thiếu chủ động, chất lượng các nghị quyết của HĐND chưa cao.
+ Việc xem xét, quyết đinh những vấn đề quan trọng, nhất là về kinh tế - xã hội, ngân
sách nhà nước, xây dựng cơ bản có lúc còn mang tính hình thức, nhiều kiến nghị thông qua hoạt
động giám sát chưa được các cơ quan có trách nhiệm giải quyết kịp thời;
+ Việc giám sát giải quyền khiêu nại, tố cáo của công dân, công tác hỏa giải ở cơ sở còn
hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; một số đại biểu HĐND
chưa làm tròn trách nhiệm của người đại biểu dân cử
Nguyên nhân của những tồn tại,hạn chế:
+Do một số cấp ủy thiếu quan tâm đến hoạt động HĐND, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt
động còn nhiều bất cập;
+Thường trực HĐND xã, phường, thị trấn, nhất là Phó chủ tịch HĐND hoạt động chuyên
trách ở một số địa phương còn hạn chế về trình độ và năng lực, lại thiếu ổn định.
+Một số ban, ngành, cán bộ, đảng viên,chưa nhận thức đầy đủ về vị trí vai trò của
HĐND, có biểu hiện xem nhẹ hoạt động của HĐND;
+ một số cơ quan nhà nước ý thức chấp hành nghị quyết cúa HĐND chưa cao; một số đại
biểu hạn chế về trình độ, năng lực, thiếu tâm huyết với HĐND; điều kiện bảo đám cho các hoạt
động của HĐND, đại biểu HĐND còn hạn chế.
Giải pháp :

phương.
Nhiệm vụ và quyền hạn của UBND thể hiện ở các lĩnh vực cụ thể sau đây:
Với vai trò là cơ quan chấp hành của HĐND, UBND thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn
của minh trong những lĩnh vực có ý nghĩa quyết định đến đời sống của nhân dân địa phương
bao gồm các lĩnh vực cụ thể sau đây:
1.Về kinh tế: Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, kế hoạch đầu tư, kế hoạch
ngân sách
2.Về nông, lâm, ngư: Thực hiện quy hoạch phát triển nông, lâm, ngư
3.Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Thực hiện các dự án phát triển khu công nghiệp,
khu kinh tế. Xây dựng các làng nghề TTCN.
4.Giao thông vận tải: Xây dựng hệ thống giao thông theo quy hoạch, quản lý khai thác
các công trình giao thông và kết cấu hạ tầng.
5.Thương mại, dịch vụ, du lịch: Quy hoạch phát triển thương mại, du lịch; quản lý thị
trường; kiểm tra việc thi hành các quy định về thương mại, dịch vu, du lịch.
6.Giáo dục đào tạo: xây dựng chương trình phát triển giáo dục, quản lý thi cử, quản lý và
kiểm tra tiêu chuẩn giáo viên, bằng cấp
7.Văn hóa, thể dục, thể thao, y tế : Quản ly nhà nước về văn hóa, thông tin, báo chí, thể
dục, thể thao, phát thanh, truyền hình; quản lý các hoạt động y tế
8. Về khoa học, công nghệ, tài nguyên môi trường: khuyến khích nghiên cứu khoa học,
ứng dụng khoa học công nghệ; kiểm tra, bảo vệ tài nguyên, môi trường.
9.Về an ninh, quốc phòng: Đảm bảo an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; Xây dựng
lực lượng dân quân, tự vệ; thực hiện nghĩa vụ quân sự, chính sách hậu phương quân đội
10 Về chính sách tôn giáo, dân tộc: Đảm bảo thực hiện chính sách dân tộc, không kỳ thị
chia rẽ dân tộc. Đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của công dân.
14
11.Về thi hành pháp luật: Kiểm tra việc thi hành pháp luật, các biện pháp bảo vệ tài sản
của nhà nước, tính mạng tài sản của nhân dân. Thực hiện thanh tra tiếp dân, giải quyết khiếu nại
tố cáo, quản lý hộ tịch, hộ khẩu.
12.Về xây dựng chính quyền: Tổ chức tốt các cuộc bầu cử; tổ chức bộ máy theo quy định
của nhà nước; xây dựng đề án thành lập, chia tách các cơ quan và đơn vị hành chính theo quy

được cán bộ có năng lực về công tác ở cơ sở. Đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn
quá đông số cán bộ được hưởng lương, phụ cấp, trợ cấp, bồi dưỡng Số lượng cán bộ hoạt
động không chuyên trách tăng nhanh đang lả gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Số lượng,
chức danh và mức phụ cấp hoặc sinh hoạt phí đối với cán bộ không chuyện trách (ở xã và thôn)
15
do HĐND các tỉnh, thành phố quyết định có sự chênh lệch quá lớn trong đội ngũ cán bộ cơ sở
giữa các địa phương.
+ Trình độ, kiến thức, năng lực cán bộ cấp xã nhiều mặt còn hạn chế: tỷ lệ cán bộ chưa
đạt chuẩn về chuyên môn còn cao, Công tác đào tạo cán bộ còn chạy theo bằng cấp, Đội ngũ
cán bộ, công chức cơ sở chưa được đào tạo cơ bản, chủ yếu là học tại chức, thậm chí một số
chưa được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ. Một số cán bộ chủ chốt ở xã, phường, thị trấn
tuổi cao, năng lực hạn chế nhưng chưa đủ điều kiện về tuổi và năm công tác để nghỉ chế độ nên
không bố trí được cán bộ trẻ, có năng lực thay thế.
+ Sự chỉ đạo của các cấp, các ngảnh đối với cơ sở thiếu thống nhất; việc ban hành văn
bản các cơ quan cấp trên còn nhiều chồng chéo.
+ Cơ sở hạ tầng và điều kiện, giao thông liên lạc, phương tiện làm việc của nhiều xã còn
khó khăn. Nhất là các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, nhiều thôn, tổ dân phố chưa có nhà văn
hóa, không có nơi.để sinh hoạt chi bộ, họp dân hoặc tổ chức các buổi sinh hoạt văn hóa cộng
đồng
16
Câu 4: Cơ cấu tổ chức, chức năng của TAND và VKSND?
Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định:”Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”.
* Cơ cấu tổ chức, chức năng của TAND
Về cơ cấu tổ chức (bao gồm TANDTC, các TA ở địa phương và TAQS)
Thứ 1:Tòa án nhân dân tối cao:
Về tổ chức:
Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
- Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao gồm có:

+ Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức thẩm phán tòa án địa phương và tòa quân sự QK,KV
theo đề nghị của Hội đồng tuyển chọn thẩm phán.
* Luật 2002 bỏ hình thức xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm của TANDTC.
Thứ 2:Tòa án nhân dân địa phương:
Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
- Về tổ chức:
+ Ủy ban thẩm phán.
+ Tòa HS, DS, KT, LĐ, HC .
+ Bộ máy giúp việc.
* Tòa án nhân cấp tỉnh có chánh án, phó chánh án, thẩm phán, hội thẩm nhân dân va thư
ký tòa.
* Ủy ban thẩm phán của tòa tỉnh không quá 9 người.
- Nhiệm vụ và quyền hạn của tòa án nhân cấp tỉnh:
+ Sơ thẩm, phúc thẩm theo quy định của luật tố tụng.
+ Giám đốc và tái thẩm các vụ án đã có hiệu lực pháp luật của tòa cấp dưới bị kháng
nghị
Tòa án nhân dân cấp huyện:
- Về tổ chức: Tòa án cấp huyện có chánh án, phó chánh án, thẩm phán, thư ký tòa và bộ
máy giúp việc.
* Tòa án nhân dân huyện không có tòa chuyên trách, mỗi lĩnh vực có một thẩm phán
chuyên trách.
- Tòa án nhân dân cấp huyện có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
+ Xét xử sơ thẩm các vụ án theo quy định của pháp luật.
+ Báo cáo công tác trước HĐND cấp huyện.
* Theo luật tố tụng HS, tòa án nhân dân cấp huyện, được xét xử sơ thẩm các vụ án :
Không nghiêm trọng, nghiêm trọng rất nghiêm trọng . (trừ một số tội theo quy định của luật
TTHS).
Thứ 3: Tòa án quân sự:
Về tổ chức:
Các tòa quân sự gồm có:

* Viện trưởng VKSQSTW là phó viện trưởng VKSNDTC.
- Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh:
+ Ủy ban kiểm sát VKSND tỉnh.
+ Các phòng chức năng và văn phòng.
* Ủy ban kiểm sát VKSND tỉnh gồm: Viện trưởng, các phó viện trưởng và một số KSV
do viện trưởng VKSNDTC quyết định.
- Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện:
+ Có viện trưởng, các phó viện trưởng và các kiểm sát viên.
+ Có các bộ phận công tác và bộ phận giúp việc.
- Viện kiểm sát quân sự:
+ Các viện kiểm sát quân sự được tổ chức trong quân đội nhân dân Việt Nam để thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt tư pháp theo quy định của pháp luật.
+ Viện kiểm sát quân sự gồm: Viện kiểm sát quân sự tw, viện kiểm sát quân sự quân khu,
viện kiểm sát quân sự khu vực.
Viện kiểm sát quân sự tw thuộc VKSNDTC.
Tổ chức và hoạt động của VKSQS do UBTVQH quy định.
Về chức năng của VKSND
Thứ 1:Thực hiện quyền công tố và quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp
19
Theo luật tổ chức VKS 2002 quy định: Viện Kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
* Thực hành quyền công tố:
Công tố là việc Viện kiểm sát nhân danh nhà nước thực hiện quyền truy tố, buộc tội bị
cáo trước toà án và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ việc điều
tra, xét xử được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật.
* Kiểm sát các hoạt động tư pháp bao gồm:
+ Kiểm sát việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra.
+ Kiểm sát việc điều tra một số loại tội phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán
bộ thuộc các cơ quan tư pháp.
+ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự.

động phát triển, chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội phân chia thành giai cấp thì các tập quán thể
hiện ý chí chung không còn phù hợp nữa. Trong điều kiện đó tầng lớp có tài sản đã lợi dụng địa
vị xã hội của mình, đã tìm cách giữ lại những tập quán có lợi và vận dụng biến đổi phù hợp với
ý chí nguyện vọng của họ nhằm mục đích củng cố và bảo vệ trật tự mà giai cấp thống trị xã hội
mong muốn. Các tập quán đó đã trở thành quy phạm pháp luật với sự thừa nhận của nhà nước.
mặc khác cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, của sự phân công lao động và người lao
động ngày càng tăng, vì vậy trong xã hội xuất hiện nhiều quan hệ mới, đòi hỏi nhà nước phải có
những quy phạm pháp luật mới để điều chỉnh. Vì vậy hoạt động xây dựng pháp luật của nhà
nước sớm được tiến hành.
Như vậy Pháp luật ra đời cùng với nhà nước, là công cụ sắc biến để thực hiện quyền lực
nhà nước, duy trì bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị; nhà nước ban hành ra pháp luật và bảo
đảm cho pháp luật được thực hiện.
Bản chất của pháp luật:
Khi nói đến pháp luật dù thuộc kiểu pháp luật nào cũng thể hiện tính giai cấp và tính xã
hội.
+ Tính giai cấp trong pháp luật
Mác và Ăng ghen đã kết luận trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản: “ Pháp luật của các ông
là ý chí của các ông được đề lên thành luật pháp, cái ý chí mà nội dung là do những điều kiện
sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định”.
Giai cấp thống trị, thông qua nhà nước biến ý chí của mình thành ý chí của nhà nước
được cụ thể hoá dưới dạng văn bản pháp luật.
Pháp luật là công cụ chủ yếu để nhà nước quản lý xã hội, công cụ đó phải phù hợp nhằm
bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.
21
Như vậy, bản chất giai cấp là thuộc tính chung của các kiểu pháp luật, nhưng mỗi kiểu
pháp luật có cách thể hiện riêng.
Pháp luật Chiếm hữu nô lệ phủ nhận hoàn toàn quyền con người đối với Nô lệ.
Pháp luật Phong kiến hạn chế đến mức tối đa quyền lợi của người Nông dân.
Pháp luật Tư sản bảo vệ quyền chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và quyền tự do bán
sức lao động.

Hệ thống pháp luật XHCN là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối quan hệ hữu cơ
thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể
22
hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo
những trình tự, thủ tục và hình thức nhất định.
Hệ thống pháp luật có cấu trúc gồm 2 mặt:
Thứ nhất: cơ cấu và các mqh bên trong
là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau được phân
định thành các chế định pháp luật và các ngành luật. Như vậy, cơ cấu và các mqh bên trong có
ba thành tố cơ bản ở ba cấp độ khác nhau là: Quy phạm pháp luật, chế định pháp luật và
ngành luật.
+ Quy phạm pháp luật:
Quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự mang tình bắt buộc chung do các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền đặt ra hoặc thừa nhận thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp
thông trị để điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích xây dựng xã hội ổn định và trật tự
QPPL là Quy tắc xử sự chung, là chuẩn mực để mọi người xử sự theo, là tiêu chuẩn để
đánh giá hành vi của con người.
+ Chế định pháp luật:
CĐPL là một trong những thành tố của hệ thống pháp luật. Bản thân CĐPL cũng là một
hệ thống gồm một nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội liên
quan mật thiết với nhau và có chung tính chất.
+ Ngành luật:
NL là một hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội cùng loại
thuộc một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội bằng những phương pháp riêng của mình.
Mỗi một ngành luật sẽ có đối tượng điều chỉnh riêng và phương pháp điều chỉnh đặc thù.
Thứ hai: hình thức biểu hiện và các mqh bên ngoài: đây chính là hệ thống văn bản
QPPL
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp
ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong luật, có hiệu lực bắt
buộc chung, được nhà nước đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.( đ1- 2008 )

Như vậy có thể thấy rằng Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban
hành hoặc thừa nhận. Còn Pháp chế là việc yêu cầu đưa các quy tắc ấy vào thực hiện nghiêm
túc, triệt để trong thực tế cuộc sống.
Tuy không đồng nhất với nhau nhưng giữa PL và PC lại có mqh khăn khít, tác động qua
lại với nhau, mqh đó thể hiện ở các vấn đề sau:
- Không có PL thì sẽ không có pháp chế, PL chính là tiền đề cho pháp chế. Ngược lại nếu
có PL nhưng không có PC thì chắc chắn PL sẽ trở nên vô nghĩa vì chỉ nằm trong văn bản.
- Nếu hệ thống PL là không thống nhất, chồng chéo mâu thuẫn nhau thi PC sẽ không
được đảm bảo. Bởi vì 1 hệ thông PL không đầy đủ, không hoàn thiện hoặc chồng chéo thì khi
đưa vào thực hiện sẽ rất khó khăn, có nhiều quan hệ pháp luật sẽ không giải quyết được, hoặc
lúng túng trong vấn đề giải quyết như vậy rõ ràng PC sẽ không được đảm bảo. Và ngược lại, 1
hệ thống PL hoàn chỉnh thống nhất thì sẽ tạo điều kiện cho PC được tăng cường.
- Nếu hệ thống PL là hoàn chỉnh thống nhất tuy nhiên việc thực hiện các quy định đó
không triệt để, có nghĩa là PC không được đảm bảo thì sẽ làm mất đi tính nghiêm minh của PL,
lúc này quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân sẽ không được đảm bảo.
Kết luận: pháp luật chỉ có hiệu lực thực sự khi nó dựa trên cơ sở vững chắc của nền pháp
chế, và ngược lại, pháp chế chỉ có thể được củng cố và tăng cường khi xã hội có được hệ thống
pháp luật tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp và kịp thời.
Các biện pháp tăng cường PC XHCN:
Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là quy luật vận động phát triển của xã hội. Đây là
vấn đề có tính cấp thiết, đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, yêu cầu phát huy dân chủ của nhân dân, yêu
cầu của cuộc đấu tranh phòng và chống mọi quy phạm pháp luật và tội phạm.
a. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với pháp chế xã hội chủ nghĩa
- Đảng lãnh đạo Nhà nước xây dựng pháp luật để mọi chủ trương, đường lối của Đảng
phải được cụ thể hóa thành pháp luật.
- Đảng lãnh đạo công tác tổ chức và thực hiện pháp luật.
- Đảng lãnh đạo công tác bảo vệ pháp luật.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status