Phạm Thị Thanh Thêu - K33C Văn
1 Khoá luận tốt nghiệp
MỎ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Ở nước ta, những năm gần đây, nền giáo dục đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt
quan tâm, đầu tư phát triển. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực và trên thế giới, sự
nghiệp giáo dục của nước ta vẫn nằm trong tình trạng trì trệ và lạc hậu.
Đe đáp úng được các yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tiến đến
một nền kinh tế tri thức toàn cầu hóa với một sự cạnh tranh quyết liệt , vươn lên sánh vai
với các cường quốc năm châu, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành nhiều chính sách đổi
mới giáo dục, trong đó có đổi mới phương pháp dạy học.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xây dựng trong Nghị quyết
Trung ương 4 khóa VII (01/ 1993); Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12/1996); được
thể chế hoá trong Luật Giáo dục (12/1998); được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo
dục và đào tạo.
Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (01/1993) đã nêu: "Đổi mới phương pháp dạy học
ở tất cả các cấp học, bậc học, kết hợp học với hành, học tập và sản xuất, thực nghiệm và
nghiên cứu khoa học gắn với nhà trường, với xã hội, áp dụng phương pháp giảo dục hiện
đại đế bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy, sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề
Chỉ thị số 14 (4/1994) của Bộ Giáo dục và đào tạo; Luật Giáo dục (12/1998), điều
24.2 cũng đã chỉ rõ: “Phương pháp giảo dục phô thông phải phát huy tỉnh tích cực, tự
giác, chủ động, sảng tạo của học sinh; phù họp với từng đặc điêm lóp học, môn học; bồi
dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiên, tác động
đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thủ học tập cho học sinh, tận dụng được công nghệ
mới nhất, khắc phục lối dạy truyền thống truyền thụ một chiều, truyền thụ các kiến thức
có săn ”
Từ định hướng đổi mới phương pháp dạy học nêu trên, chúng ta đã nhận thấy trong
dạy học cần phải chú ý phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác, sáng tạo của HS.
Phạm Thị Thanh Thêu - K33C Văn
2 Khoả luận tắt nghiệp
1.2 Hiện nay, cùng với việc đổi mới chương trình, SGK cũng đã được biên soạn lại. Phân
trong nước và trên thế giới quan tâm, nghiên cứu.
Ở nước ta, từ những năm 60 của thế kỉ XX, vấn đề phát huy tính tích cực, chủ động
của người học trong dạy học đã được đặt ra trong ngành giáo dục. Hiện nay, vấn đề này
ngày càng được nhiều người quan tâm và nó đã trở thành một trong nhũng yếu tố quan
trọng góp phần vào sự nghiệp đổi mới nền giáo dục nước nhà. Dưới đây, chúng tôi xin
được giới thiệu sơ lược một số công trình, tài liệu nghiên cứu tiêu biểu có đề cập đến vấn
đề nói trên.
Trong cuốn “Phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm ”, tác giả
Nguyễn Kì đã đưa ra những vấn đề lí luận chung nhất về phương pháp dạy học theo hướng
tích cực. Trong đó tác giả đã nêu ra bốn đặc trưng cơ bản về phương pháp dạy học theo
hướng tích cực; giới thiệu nhũng thành tựu của thế giới về hoạt động học của HS, hoạt
động dạy của GV, mối quan hệ giữa hoạt động dạy và học; đưa ra phương hướng, điều
kiện để lựa chọn những phương pháp dạy học thích hợp. Cũng trong cuốn sách này, tác
giả giới thiệu cho người đọc biết về một số mô hình dạy học tích cực và một số mẫu giáo
án của nhiều môn học khác nhau.
Trong cuốn “Bàn về dạy học lay người học làm trung tâm”, tác giả Trần Bá Hoành
đã đưa ra một số vấn đề như: bản chất của dạy học theo hướng tích cực;
mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học, hình thức dạy học và cách đánh giá trong dạy
Phạm Thị Thanh Thêu - K33C Văn
4 Khoá luận tốt nghiệp
học theo hướng tích cực.
Trong cuốn “Đối mới phương pháp tích cực hóa hoạt động của học sinh ” của tác
giả Lê A có đoạn: “Tư tưởng dạy học lấy người học làm trung tâm cần được hiếu như
một quan điếm, một cách tiếp cận quả trình dạy học. Quan điếm dạy học lấy người học
làm trung tâm không có nghĩa là chủng ta bỏ đi những phương pháp dạy học truyền thống
mà chủng ta cần phát triến nó, vận dụng nó” [ .37].
Trên tạp chí nghiên cứu Giáo dục số tháng 8 năm 1995 có bài viết “Bàn về phương
pháp giảo dục tích cực ” của Giáo sư Phạm Viết Vượng đề cập đến quan điểm dạy học
lấy người học làm trung tâm. Ông nhấn mạnh rằng: “phải lấy người học làm trung tâm
như một quan điêm giáo dục đào tạo, cốt lõi của nỏ là vì học sinh, bởi học sinh ”[ .20].
Trong SGK Ngữ văn 11 (tập 2), bài “Phong cách ngôn ngữ chỉnh luận” được dạy
trong hai tiết. Mỗi một tiết đều được soạn thành hai phần lí thuyết và thực hành đan xen
nhau. Việc biên soạn như vậy một mặt để tăng cường tính tự giác, sáng tạo của học sinh;
mặt khác nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát
triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong SGV Ngữ văn 11 (tập 2), phần phương pháp dạy học bài “Phong cách ngôn
ngữ chỉnh luận ” được định hướng như sau: “GV kết họp cách trình bày vừa diễn giảng
vừa đàm thoại và hướng dân HS trả lời các câu hỏi đã chuân bị trước Mặc dù đây chỉ là
phần định hướng chung chung nhưng phần nào giúp chúng tôi lựa chọn được những
phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động của HS.
Nhìn chung những công trình nghiên cứu hay những bài viết nói trên phần nào đã đề
cập đến vấn đề phát huy tính tích cực, chủ động của người học. Tuy nhiên, việc nghiên
Phạm Thị Thanh Thêu - K33C Văn
6 Khoá luận tốt nghiệp
cứu, tìm hiểu cụ thể cách tổ chức dạy học bài Phong cách ngôn ngữ chính luận trong
SGK Ngữ vãn 11 theo hướng tích cực lại chưa được quan tâm, chú ý nhiều. Chính vì vậy,
chúng tôi nhận thấy cần thiết đi sâu nghiên cứu đề tài: “Dạy học bài “Phong cách ngôn
ngữ chính luận ” trong SGK Ngữ vãn 11 theo hướng tích cực
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, người viết nhằm hai mục đích sau:
- Tìm ra hướng đi mới cho việc tổ chức hoạt động dạy và học bài “Phong cách ngôn
ngữ chính ỉuận ” đáp ứng nhu cầu đổi mới của xã hội, phù họp với thực tiễn đất nước.
- Vận dụng các phương pháp phát huy tính tích cực của HS để nâng cao chất lượng
dạy và học bài “Phong cách ngôn ngữ chỉnh luận ” nói riêng và các bài phong cách chức
năng ngôn ngữ nói chung.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đe đạt được mục đích nghiên cứu, cần phải hoàn thành những nhiệm vụ sau:
+ Hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến đề tài cần nghiên cứu. Trên cơ sở đó, kế
thừa những thành tựu của các tài liệu để vận dụng và giải quyết đề tài một cách hợp lí.
- Phương diện lí luận: Khóa luận tập trung trình bày những vấn đề lí luận có liên
quan đến việc dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ chính luận ” trong sách giáo khoa Ngữ
văn lớp 11.
- Phương diện thực tiễn: Khóa luận một mặt giúp cho người dạy phát huy được năng
lực tổ chức dạy học; mặt khác giúp học sinh phát huy được sự chủ động, khả năng tìm tòi,
Phạm Thị Thanh Thêu - K33C Văn
8 Khoá luận tốt nghiệp
sáng tạo trong học tập.
7. Bố cục của khóa luận
Khóa luận được triển khai theo bố cục ba phần:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung: Gồm 3 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học theo quan điểm tích
cực.
+ Chương 2: Dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ chính luận” theo hướng tích
cực.
+ Chương 3: Thực nghiệm
- Phần kết luận
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CO SỎ LÍ LUẬN VÀ THỤC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC
THEO HƯỚNG TÍCH cực
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Sự đổi mói phưong pháp dạy học hiện nay
Trong xu thế hội nhập toàn cầu, đổi mới để tồn tại và phát triển là một tất yếu khách
quan. Giáo dục cũng không nằm ngoài quy luật đó, thậm chí là một yêu cầu hết sức cấp
bách trong chính sách đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước ta.
Đổi mới giáo dục là cả một quá trình, bao gồm nhiều nội dung, giải pháp, theo một lộ
trình hợp lí, phù hợp với thực tiễn, trong đó đổi mới phương pháp dạy học là một khâu đột
phá, là bước đi giải quyết việc nâng cao chất lượng đào tạo theo yêu cầu của thời đại.
Đổi mới phương pháp dạy học không phải là một khái niệm mới. Từ những năm 60
10 Khoá luận tốt nghiệp
cho HS; góp phần làm cho việc dạy học gắn bó, phục vụ tốt hơn, ngày càng nâng cao hơn
cho việc hình thành và phát triển nhân cách và phẩm chất của người Việt Nam trong hiện tại
cũng như trong tương lai.
1.1.2 Quan điểm tích cực trong dạy học
1.1.2.1 Một số vấn đề về tỉnh tích cực học tập
Tính tích cực là phẩm chất vốn có của con người. Con người không chỉ là khách thể
mà còn là chủ thể của các quan hệ xã hội, thể hiện ở chỗ tích cực tiếp thu có chọn lọc tất cả
những tác động bên ngoài để sáng tạo và xây dựng nhân cách riêng của mình. Đe tồn tại và
phát triển, con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường tự nhicn, cải tạo xã
hội. Vì vậy, hình thành và phát triến tính tích cực xã hội là một trong những nhiệm vụ của
giáo dục.
Tính tích cực học tập về thực chất là tính tích cực nhận thức. Tính tích cực trong hoạt
động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập. Động cơ đúng tạo ra hứng thú. Hứng
thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực. Tính tích
cực sản sinh lớp tư duy độc lập. Suy nghĩ độc lập là mầm mong của sáng tạo . Ngược lại,
phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động
cơ học tập. Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời câu hỏi
của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề
nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận
dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang
học; kiên trì hoàn thành các bài tập; không nản trước những tình huống khó khăn.
Tính tích cực học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:
- Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về
một số vấn đề
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu
Phạm Thị Thanh Thêu - K33C Văn
11 Khoá luận tốt nghiệp
1,1.2,2 Phương pháp dạy học tích cực
đặt ra từ thực tiễn. Bên cạnh đó, HS phải biết chủ động trong xây dựng và thực hiện kế
hoạch học tập phù hợp với năng lực và điều kiện học tập của cá nhân. Biết sưu tầm và tìm
hiểu các tài liệu có liên quan đến bài học bằng các hình thức khác nhau. Có ý thức sử dụng
đồ dùng học tập và các ứng dụng công nghệ thông tin đế học tập có hiệu quả.
ỉ. 1.2.2.3 Những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh
Mỗi phương pháp dạy học dù là truyền thống hay hiện đại cũng đều có những đặc
điểm riêng. Neu xét bản thân các phương pháp thì không có phương pháp nào là phương
pháp tồi, không có phương pháp nào là tích cực hay thụ động, mà phương pháp ấy trở nên
tồi, thụ động khi người ta không khai thác hết tiềm năng của nó hoặc sử dụng nó không
đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng. Đe phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người
học, GV phải khai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một
số phương pháp mới. Hay nói một cách cụ thể hơn thì GV phải hiểu cho đúng cách làm,
cách tiến hành các phương pháp dạy học và linh hoạt sáng tạo trong sử dụng nó ở những
tình huống và hoàn cảnh khác nhau, để các phương pháp dạy học ấy có tác động tích cực
đến người học.
Dưới đây, chúng tôi giới thiệu một số phương pháp dạy học tính tích cực cần được
phát triển ở trường phổ thông:
- Phương pháp vấn đáp:
Đây là phương pháp GV đưa ra những câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn để HS trả lời,
hoặc HS có thể tranh luận với nhau và với cả GV. Thông qua đó HS lĩnh hội được nội dung
bài học.
Có ba hình thức vấn đáp: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích, minh họa, vấn đáp tìm
tòi sáng tạo.
Phạm Thị Thanh Thêu - K33C Văn
13 Khoá luận tốt nghiệp
- Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề:
Đây là phương pháp GV đưa ra các vấn đề, cung cấp thêm thông tin có liên quan đến
bài học của HS. Phương pháp này giúp HS vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được
phương pháp chiếm lĩnh các tri thức đó, phát triển tư duy tích cực, sáng tạo, tăng khả năng
áp dụng lí thuyết vào giải quyết vấn đề.
So với lứa tuổi HS THCS, hoạt động học tập của HS THPT phức tạp hơn rất nhiều.
Khối lượng tri thức tăng lên ở các môn học, ở từng bài, từng tiết; nội dung các khái niệm
được mở rộng; xuất hiện nhiều khái niệm, quy luật mới ở các môn học. Phương pháp học
tập đã có nhiều thay đổi. Thái độ của các em đối với các môn học trở nên có lựa chọn hon.
Ở các em đã hình thành hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp. Các em
tích cực học các môn cần thiết cho hoạt động tương lai của mình. Tất cả những điều đó đòi
hỏi các em không chỉ phát triển mạnh tư duy trừu tượng, kĩ năng tự học, mà còn phải độc lập
cao hơn.
Đe các em có động cơ học tập tốt và thái độ học tập đúng đắn, GV phải biết tạo hứng
thú; sử dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động
của HS.
1.1.3.2 Đặc điêm của sự phát triển trí tuệ
Nhìn chung, hoạt động trí tuệ của HS THPT ổn định, bền vững hơn so với lứa tuổi
trước.
- Tính chủ định được phát triển mạnh ở quá trình nhận thức, nghĩa là HS xác định
được đối tượng của hoạt động trí tuệ, ý thức được và sử dụng được các thao tác trí tuệ để
giải quyết nhiệm vụ học tập.
- Quan sát có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn so với lứa tuổi trước.
- Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò
Phạm Thị Thanh Thêu - K33C Văn
15 Khoá luận tốt nghiệp
của ghi nhớ lôgic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt (các em biết sử dụng tốt
hơn các phương pháp ghi nhớ: tóm tắt ý chính, so sánh đối chiếu ). Đặc biệt các em đã tạo
được tâm thế phân hóa trong ghi nhớ. Các em biêt tài liệu nào cần nhớ từng câu, từng chữ,
cái gì cần hiểu mà không cần nhớ
- Khối lượng chú ý tăng lên, tính bền vững của chú ý và sự tập trung của chú ý tăng
lôn rõ rệt. Học sinh có kĩ năng phân phối chú ý, nghĩa là có khả năng chú ý nhiều đối tượng,
nhiều hành động diễn ra cùng một lúc.
- Tư duy trừu tượng, tư duy lí luận của các em bắt đầu chiếm ưu thế. Tính độc lập,
tính nhất quán, tính phê phán của tư duy tăng lên.
Phương pháp dạy học truyền thống là những cách thức dạy học quen thuộc được
truyền từ lâu đời và được bảo tồn, duy trì qua nhiều thế hệ. về cơ bản, phương pháp dạy học
này lấy hoạt động của người thầy làm trung tâm. Thực hiện lối dạy này, GV là người thuyết
trình, diễn giảng, là “ kho tri thức” sống, HS là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo.
Với phương pháp dạy học truyền thống, GV là chủ thể, là tâm điểm, HS là khách thể, là quỹ
đạo. Giáo án dạy theo phương pháp này được thiết kế kiểu đường thẳng theo hướng từ trên
xuống. Theo Frire - nhà Xã hội học, nhà Giáo dục học người Braxin đã gọi phương pháp dạy
học này là “Hệ thống ban phát kiến thức”, là quá trình chuyển tải thông tin từ đầu thầy sang
đầu trò.
Dạy học tiếng Việt theo phương pháp truyền thống có ưu điểm và nhược điểm sau:
về ưu điểm: tốn ít thời gian, kiến thức đến với HS một cách chính xác, lôgic và có hệ
thống.
về nhược điểm: HS không phát huy được vai trò chủ thể, nên tiếp nhận kiến thức một
cách thụ động; tri thức đến với HS thường bị khúc xạ qua GV (GV hiểu đúng thì HS hiểu
đúng và ngược lại); giờ dạy dễ đon điệu, buồn tẻ, kiến thức thiên vồ lí luận, ít chú ý đến kĩ
Phạm Thị Thanh Thêu - K33C Văn
17 Khoá luận tốt nghiệp
năng thực hành của người học; do đó kĩ năng hành dụng vào thực tế bị hạn chế.
Như vậy, dạy học tiếng Việt theo phương pháp truyền thống chỉ thích hợp với quá
khứ. Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, cách dạy này sẽ
không còn phù hợp nữa. Đe đáp ứng yêu cầu của thời đại, thúc đẩy xã hội phát triển, cần
phải thay phương pháp dạy học truyền thống bằng phương pháp dạy học hiện đại.
1.2 Co’ sở thực tiễn
1.2.1 Dự giờ giáo viên
Trong dạy học, người GV có vai trò vô cùng quan trọng. GV chính là người tố chức,
điều khiến, định hướng quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành kĩ năng cho HS. Đe tìm hiểu
việc tổ chức dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ chính luận ” phát huy tính tích cực của HS
trong nhà trường phổ thông hiện nay, chúng tôi đã quyết định dự giờ dạy của một số GV.
Qua dự giờ, chúng tôi nhận thấy rằng:
- Hầu hết GV bám sát theo trình tự trong SGK: đưa ra ví dụ để HS phân tích, từ đó
bạn trong lớp, tranh thủ thời gian nói chuyện, nhất là khi thảo luận theo nhóm.
- Hầu hết HS còn học theo hình thức chống đối, và dường như còn trong tình trạng
bắt buộc với tinh thần không thoải mái. Đặc biệt, các em chưa nghiêm túc trong giờ học,
chưa biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế đời sống.
CHƯƠNG 2: DẠY HỌC BÀI PHONG CÁCH NGỒN NGỦ CHÍNH LUẬN TRONG
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 THEO HƯỚNG TÍCH cực
2.1 Phong cách ngồn ngữ chính luận dưới góc độ nghiên cứu của ngôn ngữ học
2.1.1 Các phong cách chức năng ngôn ngữ
2.1.1.1 Khái niệm phong cách chức năng ngôn ngữ
Trong Phong cách học, phong cách chức năng ngôn ngữ là vấn đề luôn được các nhà
Phạm Thị Thanh Thêu - K33C Văn
19 Khoá luận tốt nghiệp
ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu. Vì nó chính là cơ sở quy định cho việc lựa chọn và sử
dụng ngôn ngữ đúng, hay, đạt hiệu quả giao tiếp.
Thực tế cho thấy, khái niệm về phong cách chức năng ngôn ngữ mà các nhà nghiên
cứu đưa ra vô cùng phong phú và phức tạp. Bởi mỗi nhà nghiên cứu lại có quan niệm riêng
và cách nhìn nhận khác nhau về phong cách chức năng ngôn ngữ. Với đề tài “ Dạy học bài
phong cách ngôn ngữ chỉnh luận trong SGK Ngữ văn 11 theo hưởng tích cực”, chúng
tôi lựa chọn khái niệm của tác giả Cù Đình Tú. Ồng cho rằng: “ Phong cách chức năng ỉà
dạng tồn tại của ngôn ngữ dân tộc biếu thị quy luật lựa chọn, sử dụng các phương tiện biếu
hiện tùy thuộc vào tông họp các nhân tố ngoài ngôn ngữ như hoàn cảnh giao tiếp, đề tài và
mục đích giao tiếp, đối tượng tham dự giao tiếp” [14,14].
Như vậy khái niệm trên đã chỉ rõ được đặc điểm nội dung phong cách chức năng
ngôn ngữ; đồng thời xác định rõ các nhân tố cấu thành của phong cách chức năng ngôn ngữ
và mối quan hệ giữa chúng.
2A.1.2 Phân loại phong cách chức năng ngôn ngữ
Như đã nói, phong cách chức năng ngôn ngữ là vấn đề được nhiều nhà ngôn ngữ học
quan tâm nghiên cứu. Vì vậy mà cho đến nay đã có rất nhiều hướng phân loại vồ vấn đồ
này. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một số hướng phân chia như sau:
Trong cuốn " Giảo trình Việt Ngữ (tập III) Tu từ học ” [285 - 289], tác giả Đinh
trường, quan điểm của mình về các vấn đề chính trị, văn hóa, giáo dục Từ đó phong cách
ngôn ngữ chính luận được hình thành và trở thành một trong những phong cách chức năng
ngôn ngữ cơ bản.
Tác giả Đinh Trọng Lạc đã đưa ra khái niệm về phong cách chính luận như sau: “
Phong cách chính luận là khuôn mầu thích hợp đế xây dựng lớp vãn bản trong đó thê hiện
vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực chính trị - xã hội. Nói cụ thế hơn, đó là vai
của nhà lãnh đạo, nhà hoạt động chỉnh trị xã hội, đảng viên, đoàn viên, hội viên tất cả
những ai tham gia các hoạt động động viên, tuyên truyền, giảo dục về các mặt chính trị - xã
hội” [10,111].
2.1.2.2 Các dạng thức cơ bàn của ngôn ngũ' chính luận
Phong cách chính luận dựa chủ yếu trên kiểu ngôn ngữ viết - phi nghệ thuật, nhưng
có thể bao gồm rộng rãi những cấu trúc của các kiểu viết và miệng - nghệ thuật của lời nói.
Ngôn ngữ được sử dụng trong phong cách chính luận tồn tại ở cả 2 dạng : dạng nói
và dạng viết.
Ở dạng nói, có thể kể đến một số loại như: diễn thuyết, phát biểu trong mít tinh, phát
biểu trong đón tiếp ngoại giao, báo cáo trong các hội nghị
Ở dạng viết, có thể kể đến một số loại như: tuyên ngôn, lời kêu gọi, các báo cáo
chính trị, các bài xã luận, bình luận trên báo chí
2.1.2.3 Các đặc trung cơ bản của phong cách ngôn ngữ chính luận
Phong cách ngôn ngữ chính luận muốn thực hiện được chức năng thông báo
- chứng minh - tác động trong việc tuyên truyền, giáo dục, cổ động thì phải hướng tới ba
đặc trưng cơ bản sau: tính bình giá công khai, tính lập luận chặt chõ, tính tuyền cảm mạnh
mẽ.
2.1.2.3.1 Tỉnh bình giá cồng khai
Phạm Thị Thanh Thêu - K33C Văn
22 Khoả luận tắt nghiệp
Tính bình giá công khai trong phong cách ngôn ngữ chính luận thể hiện ở chỗ biểu
thị một cách rõ ràng, trực tiếp thái độ của tác giả đối với sự kiện.
Ví dụ: Văn bản “ Tuyên ngôn độc ỉập” của Hồ Chí Minh thể hiện rõ tính bình giá
công khai của người viết. Ở văn bản này, Bác đã trích dẫn lời văn bản Tuyên ngôn độc lập
Tính truyền cảm mạnh mẽ trong “Phong cách ngôn ngữ chỉnh luận ” thể hiện ở sự
diễn đạt hùng hồn, sinh động, có sức hấp dẫn và đạt hiệu quả cao, thuyết phục người đọc
(nghe) bằng cả lí trí, tình cảm, đạo đức.
Ví dụ: Văn bản “Lời kêu gọi toàn quốc khảng chiến ” của Hồ Chí Minh mang tính
truyền cảm mạnh mẽ. Mở đầu lời kêu gọi, Bác đã phân tích tình thế bắt buộc chúng ta phải
chiến đẩu: “chủng ta càng nhân nhượng, thực dân Phảp càng ỉấn tới Rồi Bác kêu gọi, hô
hào mọi người chiến đấu bằng bất cứ vũ khí nào có trong tay “Ai có sủng dùng sủng. Ai có
gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc Đe kêu gọi quần chúng
nhân dân đứng lên đấu tranh giành tự do cho dân tộc, Người đã sử dụng hàng loạt kiểu câu
hô hào, kêu gọi, khẳng định, cầu khiên: “Hỡi đồng bào toàn quốc ỉ ”, “Chủng ta phải đứng
lên ”, “Khảng chiến nhất định thắng ỉợi ” .Tất cả những điều đó có tác động to lớn tới
nhận thức, tình cảm của người đọc (nghe), tạo được sự hấp dẫn, thuyết phục và làm lay
động hàng triệu trái tim người Việt Nam lúc bấy giờ. Từ đó mọi người tin tưởng và làm
theo.
Trên đây là ba đặc trưng cơ bản của phong cách ngôn ngữ chính luận. Ba đặc trung
nêu trên của phong cách ngôn ngữ chính luận được biểu hiện rõ rệt trong những đặc điếm
ngôn ngữ của phong cách này. Và tất nhicn sự biếu hiện này có những mức độ khác nhau
trong những kiểu và thể loại văn bản khác nhau của phong cách ngôn ngữ chính luận.
2.2 Nội dung dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ chính luận ” trong SGK Ngữ văn 11
Bài “Phong cách ngôn ngữ chính ỉuận ” được đưa vào giảng dạy trong SGK Ngữ
Phạm Thị Thanh Thêu - K33C Văn
24 Khoả luận tắt nghiệp
văn với thời lượng hai tiết, về cơ bản, nội dung dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ chính
luận ” được trình bày như sau:
2.2.1 Phần lí thuyết
Được triển khai theo hai mục lớn:
2.2.1.1 Văn bản chính luận và ngôn ngữ chính luận
* Tìm hiếu văn bản chính luận
Ở phần này, SGK chủ yếu xem xét văn bản chính luận hiện đại. Văn bản chính
luận hiện đại bao gồm: các cương lĩnh; tuyên bố; tuyên ngôn, lời kêu gọi, hiệu triệu; các bài
Nhiều từ ngữ chính trị có nguồn gốc từ văn bản chính luận, nhưng được dùng rộng
khắp trong sinh hoạt chính trị nên chúng đã thấm vào lớp từ thông dụng, đến mức dùng
quen thuộc, không còn quan niệm đó là từ ngữ lí luận nữa. Ví dụ: đa số, thiếu so, dân chủ
+ về ngữ pháp:
Câu văn trong văn bản chính luận thường là câu có kết cấu chuẩn mực, gần với
những phán đoán lôgic trong một hệ thống lập luận, câu trước liên kết với câu sau, câu sau
nối tiếp câu trước trong một mạch suy luận.
Các văn bản chính luận thường dùng những câu phức họp có những từ ngữ licn
kết như: do vậy, bởi thế, cho nên đế phục vụ cho lập luận được chặt chõ. + về biện pháp tu
từ:
Văn bản chính luận sử dụng nhiều biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa Việc
dùng các biện pháp tu từ sẽ giúp cho lí lẽ và các lập luận thêm truyền cảm, hấp dẫn, tăng sức