1
Dạy học bài phong cách ngôn ngữ báo chí ở lớp
11 trung học phổ thông theo quan điểm giao tiếp
Teaching style language newspapers in grade 11 high school point communication
NXB H. : ĐHGD, 2012 Số trang 123 tr. +
Nguyễn Văn Lƣơng Trƣờng Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học bộ môn Ngữ văn;
Mã số: 60 14 10
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS.Nguyễn Quang Ninh
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ sở ngôn ngữ học; tâm lý ngôn ngữ;
giáo dục học; hoạt động giao tiếp; nội dung chƣơng trình trong sách giáo khoa ngữ văn 11;
những kiên thức, kỹ năng cũng nhƣ thực trạng dạy và học bài theo phong cách ngôn ngữ
báo chí nói riêng và phân môn tiếng Việt lớp 11 trung học phổ thông nói chung. Nghiên
cứu về dạy học bài phong cách ngôn ngữ báo chí ở lớp 11 phổ thông trung học theo quan
điểm giao tiếp, từ đó đƣa ra những ƣu thế và tính khả thi của hƣớng đi này trong việc vận
dụng vào thực tế dạy học Tiếng Việt hiện nay. Đề xuất quy trình, cách thức tổ chức hoạt
động dạy học theo quan điểm giao tiếp và thử nghiệm vận dụng vào thực tế khi tiến hành
dạy học bài phong cách ngôn ngữ báo chí thuộc phần Tiếng Việt ở lớp 11 trung học phổ
thông theo quan điểm giao tiếp.
Keywords: Ngữ văn; Phƣơng pháp dạy học; Ngôn ngữ báo chí; Lớp 11; Giao tiếp.
Content
1. Lý do chọn đề tài
ngôn ngữ báo chí ở lớp 11 trung học phổ thông theo quan điểm giao tiếp.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các nhà nghiên cứu theo khuynh hƣớng chức năng đề cao chức năng giao tiếp của ngôn ngữ.
Họ cho rằng cần tập trung vào việc phát triển năng lực giao tiếp hơn là chỉ dạy cho ngƣời học
cách nắm vững cấu trúc. Các học giả đầu tiên chủ trƣơng quan điểm này là Widdowson H.G
(1972), Wilkins D.A (1972), Candlin C.N (1976), Brumfit C.J và Johnsonk (1979). Họ đã dựa vào
công trình nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học chức năng Anh (John Firth M.A.K. Halliday (1970)),
công trình nghiên cứu về xã hội học của các nhà nghiên cứu Mĩ (Hymes D. và Gumperz J.J
(1972), Labov W. (1972) và các kết quả nghiên cứu ngữ dụng học của Austin J.L (1962) và Searle
J.R (1969), để đề ra cơ sở lí luận cho đƣờng hƣớng dạy học tiếng theo quan điểm chức năng hay
còn gọi là quan điểm giao tiếp. Từ giữa những năm 70 đƣờng hƣớng dạy học theo quan điểm này
đƣợc phát triển rộng rãi ở Anh và Mĩ. Mục đích chính của nó là làm cho năng lực giao tiếp trở
thành mục tiêu chính của việc dạy và học tiếng.
Khi bàn về những quan điểm tâm lí học hoạt động có liên quan đến việc dạy và học ngôn
ngữ, Trƣơng Dĩnh đã đề cao quan điểm dạy học bản ngữ dựa trên lí thuyết hoạt động lời nói. Ông
khẳng định: “Trên quan điểm coi hoạt động lời nói trong giao tiếp như mục đích dạy học, dạy
ngôn ngữ, đặc biệt là bản ngữ, phải thông qua hoạt động giao tiếp giữa thầy và trò để tổ chức cho
học sinh phân tích mẫu hành vi lời nói trong giao tiếp, quan sát hành vi lời nói giao tiếp trong
thực tiễn, nghiên cứu các văn bản giao tiếp trích dẫn để nâng cao ý thức, quy tắc về giao tiếp bản
ngữ, mặt khác, trên cơ sở đã có ý thức về năng lực giao tiếp, tổ chức cho học sinh sáng tạo các
hành vi lời nói trong giao tiếp, […], tức là dạy cho học sinh ứng xử sáng tạo trong giao tiếp ở môi
trường có tính thực tiễn nhất của đời sống”( Mấy vấn đề lí luận và thực tiễn về dạy và học Tiếng
Việt ở trường trung học, Tp. HCM, 1998) [13, tr.17-26]. Đồng thời tác giả cũng coi trọng việc
3
xây dựng các bài tập tình huống để rèn luyện năng lực giao tiếp cho học sinh. Đây cũng là một
trong những cơ sở góp phần định hƣớng cho việc dạy và học Tiếng Việt đạt hiệu quả cao hơn.
Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt (tập 2, Nxb Giáo dục, 2010) [26, tr.1-25] do nhóm tác
giả: Nguyễn Trí- Lê A- Lê Phƣơng Nga biên soạn có tất cả tám chƣơng, trong đó các tác giả dành hẳn
một chƣơng để nói về quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt. Trong chƣơng này (chƣơng một)
Bàn về “độ phổ biến” của quan điểm giao tiếp, Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Thị Ly
Kha cho rằng: “Quan điểm giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và phương
4
pháp dạy học”. Về nội dung dạy học, quan điểm giáo tiếp được thể hiện ở “cách bố trí thời lượng,
sắp xếp các đơn vị kiến thức và các kiểu bài đều không tập trung vào việc nhận diện các hiện
tượng ngôn ngữ mà chú trọng rèn luyện khả năng sử dụng từ ngữ phục vụ cho hoạt động giao
tiếp”. Về phƣơng pháp dạy học, quan điểm giao tiếp đƣợc thể hiện ở điểm: “Các kiến thức và kĩ năng
trong phân môn Luyện từ và câu được rèn luyện thông qua nhiều bài tập gắn với yêu cầu về tập làm văn
ở lớp 5 hoặc với các tình huống giao tiếp tự nhiên”. Kèm theo những nội dung trình bày là những ví dụ
sinh động. Do trình bày dƣới dạng câu hỏi – đáp, nên tài liệu này chỉ dừng ở giới hạn cung cấp những
gợi ý có tính chất định hƣớng cơ bản về nội dung, hình thức tổ chức dạy học môn Tiếng Việt ở lớp 5
theo quan điểm giao tiếp. Mặt khác, do tính chất đồng tâm và phổ quát của vấn đề, những gợi ý có tính
định hƣớng đó không chỉ dừng ở giới hạn cho một lớp và một bậc học cụ thể mà còn tác dụng định
hƣớng cho việc dạy học Tiếng Việt ở phổ thông nói chung theo quan điểm giao tiếp. (Hỏi – đáp về dạy
học Tiếng Việt 5, Nxb Giáo dục, 2006) [25, tr.1-28].
Trong bài viết Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy và học Tiếng Việt trong
nhà trường phổ thông hiện nay (Tạp chí Ngôn ngữ, số 4/2006) [18, tr.1-12] Vũ Thị Thanh
Hƣơng đã đề cập và phân tích khá sâu khái niệm “năng lực giao tiếp”, đã dẫn ra những ý kiến khác
nhau của các học giả (Chomsky, Campbell và Wales, Hymes, Murby, Canale và Swain, Bachman)
xoay quanh khái niệm “năng lực giao tiếp”. Tác giả bài viết so sánh đối chiếu các nội dung kiến thức
Tiếng Việt đƣợc trình bày trong các chƣơng trình Tiếng Việt hiện hành (của Bộ Giáo dục và Đào tạo)
với các nội dung của mô hình lí thuyết về “năng lực giao tiếp”. Từ khái niệm “năng lực giao tiếp”,
ngƣời viết tìm hiểu chƣơng trình dạy Tiếng Việt trong nhà trƣờng phổ thông đầu thế kỉ 21 và nhận xét:
“Có thể nói, trong tất cả các tài liệu về chương trình mà chúng tôi được tiếp cận cho đến bây giờ,
quan điểm giao tiếp là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ mục tiêu giảng dạy Tiếng Việt ở tất cả các cấp
trong nhà trường phổ thông hiện nay”. Tác giả bài viết tiến hành khảo sát chƣơng trình Tiếng Việt ở
các cấp học để làm rõ vấn đề: “liệu nội dung của chương trình có thực sự đảm bảo cung cấp đủ kiến
thức để giúp các em hình thành và rèn luyện tốt năng lực giao tiếp?”. Tác giả có trình bày kết quả
khảo sát và kết thúc bài viết với vài lời nhận xét ngắn gọn.
dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học nhƣng đối với các giáo viên dạy Tiếng Việt ở Trung học cơ sở hay
ở Trung học phổ thông thì đều tìm thấy ở giáo trình này những định hƣớng làm cơ sở cho việc dạy
Tiếng Việt một cách có hiệu quả theo quan điểm giao tiếp.
Trịnh Thị Lan có bài viết khá hay về Yêu cầu đối với việc thiết kế bài tập Tiếng Việt dưới
ánh sáng của lí thuyết hoạt động giao tiếp: “Theo quan điểm dạy học Tiếng Việt hướng vào hoạt
động giao tiếp, việc thiết kế bài tập Tiếng Việt phải đảm bảo phục vụ cho việc phát triển khả năng
giao tiếp cho học sinh. Dạy học Tiếng Việt sử dụng phương pháp giao tiếp như là phương pháp tổ
chức dạy học quan trọng nhất. Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng dẫn học sinh vận
dụng lí thuyết được học vào thực tiễn các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, có chú ý đến đặc điểm
và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp”. (http://nguvan.hnue.edu.vn) [24, tr.1-17]
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chƣa có những nghiên cứu đi sâu vào việc dạy học một Tiếng
Việt theo quan điểm giao tiếp ở một bài trong một khối lớp cụ thể nói riêng và toàn bộ bậc trung
học phổ thông nói chung, vẫn chƣa có một công trình nào cung cấp cho ta một bức tranh toàn
cảnh về dạy học Tiếng Việt ở phổ thông theo quan điểm giao tiếp. Vì thế, việc triển khai đề tài:
Dạy học bài phong cách ngôn ngữ báo chí ở lớp 11 trung học phổ thông theo quan điểm giao
tiếp, theo chúng tôi là cấp thiết.
Mặc dù các giáo trình, các tài liệu và các bài viết trên không đề cập trực tiếp đến vấn đề
mà đề tài này quan tâm nhƣng chính các công trình trên là những định hƣớng, những gợi ý quý
báu giúp ngƣời thực hiện đề tài Dạy học bài phong cách ngôn ngữ báo chí ở lớp 11 trung học phổ
6
thông theo quan điểm giao tiếp triển khai thực hiện các nội dung, phƣơng pháp, hình thức tổ chức
dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài Dạy học bài phong cách ngôn ngữ báo chí ở lớp 11 trung học phổ thông
theo quan điểm giao tiếp, chúng tôi muốn góp phần giải quyết một trong những vấn đề trọng tâm
của việc đổi mới phƣơng pháp dạy học Ngữ Văn hiện nay: tổ chức dạy học Tiếng Việt trong
chƣơng trình trung học phổ thông (đặc biệt là ở lớp 11) theo quan điểm giao tiếp.
Để đạt đƣợc mục đích trên, nghiên cứu về dạy học bài phong cách ngôn ngữ báo chí ở lớp
11 phổ thông trung học theo quan điểm giao tiếp, tác giả luận văn sẽ chú ý đến những ƣu thế và
trên địa bàn tỉnh Nam Định.
5.3. Phương pháp thực nghiệm, ở đề tài này, do mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, việc thực
nghiệm sẽ đƣợc thực hiện ở phạm vi tổ chức dạy thực nghiệm giáo án đề xuất trong sự đối chứng
với các giáo án thông thƣờng để kiểm nghiệm khả năng ứng dụng và tính hiệu quả của hƣớng dạy
học một bài cụ thể thuộc phân môn Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp. Từ đó giáo viên có thể áp
dụng vào quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn nói chung ở nhà trƣờng phổ thông.
5.4. Phương pháp thống kê đƣợc sử dụng để xử lí các số liệu thu thập trong quá trình khảo sát,
thực nghiệm, bổ trợ cho phƣơng pháp phân tích, tổng hợp nhằm đạt tới những kết luận chính xác,
khách quan.
5.5. Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm đƣợc dùng vào việc xem xét lại những thành quả cuả hoạt
động thực tiễn trong quá khứ để từ đó rút ra những kết luận bổ ích cho thực tiễn và cho khoa học.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc trình bày theo 3
chƣơng:
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Chƣơng 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC BÀI PHONG CÁCH NGÔN NGŨ BÁO CHÍ Ở LỚP 11
THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
CHƢƠNG 1
CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cở sở lý luận
1.1.1. Cơ sở ngôn ngữ học
Theo những luận điểm của cơ sở ngôn ngữ học thì dạy – học ngôn ngữ là đi theo con đƣờng
từ nội dung đến hình thức ngôn ngữ để biểu đạt. Ngôn ngữ là phƣơng tiện để thực hiện những
phát ngôn cụ thể. Dạy hoạt động ngôn ngữ (tức là dạy năng lực giao tiếp) chứ không phải dạy hệ
thống ngôn ngữ thuần túy. Tuy nhiên, trong quá trình dạy – học hai mặt năng lực ngôn ngữ và
năng lực giao tiếp thống nhất biện chứng với nhau. Dạy năng lực giao tiếp không thể tách rời các
hiện tƣợng ngôn ngữ, ngƣợc lại những kiến thức của hệ thống ngôn ngữ chỉ đƣợc xây dựng và
củng cố trên cơ sở nắm đƣợc các kĩ năng lời nói.
1.1.4. Lí thuyết về hoạt động giao tiếp
1.1.4.1.Giao tiếp và các hình thức giao tiếp
Theo Từ điển Thuật ngữ ngôn ngữ học, giao tiếp là “sự thông báo hay truyền đạt thông báo
nhờ một hệ thống mã nào đó”. Theo đó, có thể hiểu giao tiếp là hoạt động giữa hai ngƣời hay hơn
hai ngƣời nhằm bày tỏ với nhau một thông tin trí tuệ hoặc cảm xúc, một ý muốn hành động hay
một nhận xét về sự vật, hiện tƣợng nào đó.
Hoạt động giao tiếp có thể đƣợc thực hiện bằng nhiều cách thức, bằng những phƣơng tiện
khác nhau nhƣ hội họa, âm nhạc, điêu khắc, điện ảnh, cử chỉ… Nhƣng ngôn ngữ là phƣơng tiện
giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của xã hội loài ngƣời.
Giao tiếp ngôn ngữ có thể thực hiện bằng lời (giao tiếp miệng) hoặc bằng văn tự (giao tiếp
viết). Trong hai dạng giao tiếp vừa nêu, giao tiếp miệng là cơ sở.
1.1.4.2. Chức năng của giao tiếp
- Chức năng thông tin
- Chức năng tạo lập quan hệ
9
- Chức năng tự biểu hiện
- Chức năng giải trí
- Chức năng hành động
1.1.4.3. Các nhân tố của hoạt động giao tiếp
- Nhân vật giao tiếp
- Hiện thực đƣợc nói tới
- Hoàn cảnh giao tiếp
- Mục đích giao tiếp
- Phƣơng tiện và cách thức giao tiếp
1.1.4.4. Các dạng lời nói và hoạt động giao tiếp
Căn cứ hình thức và phƣơng tiện biểu đạt, có thể chia ngôn ngữ (lời nói) thành hai dạng:
khẩu ngữ (ngôn ngữ nói) và bút ngữ (ngôn ngữ viết). Hai dạng này có sự khác nhau đáng kể về
phƣơng tiện biểu đạt, cách lựa chọn từ ngữ, hoàn cảnh sử dụng…
1.1.4.5. Quá trình sản sinh và quá trình tiếp nhận lời nói trong hoạt động giao tiếp
trong sách giáo khoa nhƣng thiếu kĩ năng giao tiếp trong thực tiễn. Đây là điều mà giáo viên cần
quan tâm khi dạy Tiếng Việt ở trƣờng trung học phổ thông hiện nay.
10 1.2.2. Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng
Về kiến thức: Yêu cầu học sinh phải nhớ, nắm vững, hiểu rõ các kiến thức cơ bản trong
chƣơng trình, sách giáo khoa, đó là nền tảng vững vàng để có thể phát triển năng lực nhận thức ở
cấp cao hơn. Mức độ cần đạt đƣợc về kiến thức đƣợc xác định theo sáu mức độ: nhận biết, thông
hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo.
Về kĩ năng: Biết vận dụng các kiến thức đã học để trả lời câu hỏi, giải bài tập, làm bài thực
hành; có kĩ năng tính toán, vẽ hình, dựng biểu đồ,… Kiến thức, kĩ năng phải dựa trên cơ sở phát
triển năng lực, trí tuệ học sinh ở các mức độ, từ đơn giản đến phức tạp; nội dung bao hàm các mức
độ khác nhau của nhận thức.
BÀI HỌC
TIẾNG
VIỆT
MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
Phong cách
ngôn ngữ
báo chí
-Hiểu đặc điểm của phong cách ngôn ngữ báo chí với các phong cách
ngôn ngữ khác đã học (nêu đƣợc các đặc điểm, lấy ví dụ minh họa).
-Biết cách phân tích, lĩnh hội các văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ
báo chí.
-Biết viết một số văn bản báo chí thông tin: tin tức, quảng cáo
1.2.3. Thực trạng dạy và học bài phong cách ngôn ngữ báo chí nói riêng và phần Tiếng Việt
lớp 11 trung học phổ thông nói chung
- Kĩ năng lập chương trình
- Kĩ năng hiện thực hoá chương trình
- Kĩ năng kiểm tra-điều chỉnh
2.2. Tổ chức dạy học bài phong cách ngôn ngữ báo chí ở lớp 11 trung học phổ thông
2.2.1. Lựa chọn sử dụng các phương pháp dạy học
2.2.1.1. Phương pháp thảo luận nhóm
2.2.1.2. Phương pháp phản ứng nhanh
2.2.1.3. Phương pháp đóng vai
2.2.1.4. Phương pháp xử lí tình huống
2.2.1.5. Phương pháp ứng dụng
2.2.2. Lựa chọn sử dụng các hình thức tố chức dạy học
2.2.2.1. Tổ chức cho học sinh thuyết trình nội dung bài học tại lớp
2.2.2.2. Tổ chức vừa chơi vừa học ở lớp
2.2.2.3. Tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp
2.3. Hƣớng khai thác theo quan điểm giao tiếp
2.3.1. Định hướng chung việc triển khai dạy học
2.3.2. Hướng khai thác cụ thể
Đối với bài học Tiếng Việt này, giáo viên cần dạy cho học sinh có đƣợc kĩ năng: (1) Nhận
diện một số thể loại báo chí chủ yếu (bản tin, phóng sự, phỏng vấn, quảng cáo, tiểu phẩm) và các
loại báo khác nhau về phƣơng tiện, định kỳ, lĩnh vực, đối tƣợng. (2) Nhận biết và phân tích những
biểu hiện về ba đặc trƣng cơ bản của phong cách ngôn ngữ báo chí phân biệt với các phong cách
ngôn ngữ khác. (3) Phân tích đặc điểm của ngôn ngữ báo chí về từ ngữ, câu văn, biện pháp tu từ.
(4) Bƣớc đầu biết viết một tin ngắn, một thông báo, một bài phỏng vấn đơn giản.
12
2.4. Kiểm tra, đánh giá theo quan điểm giao tiếp
2.4.1. Mục đích kiểm tra, đánh giá
2.4.2. Nội dung kiểm tra, đánh giá
2.4.3. Hình thức kiểm tra, đánh giá
3,05
5,39
6,23
Bảng 3.2. Bảng so sánh độ lệch chuẩn của lớp thực nghiệm và đối chứng
NHÓM
1
2
3
S
TN
1,35
1,97
1,19
S
ĐC
1,36
2,07
1,52
Bảng 3.3. Độ phân tán của kết quả các lớp tham gia thực nghiệm
NHÓM
1
2
3
CV
TN
44,59%
2
6,72
5,39
1,97
2,07
29,31%
38,40%
3
7,32
6,23
1,19
1,52
16,25%
24,39%
Bảng 3.5. Hệ số t của các lớp thực nghiệm và đối chứng
NHÓM
1
2
3
Giá trị t
9,44
5,7
6,93
Bảng 3.6. Tổng hợp chung so sánh các số liệu thực nghiệm
Nhóm
SỐ HS
Điểm trung
2,07
29,31%
38,40%
5,7
3
153
149
7,32
6,23
1,19
1,52
16,25%
24,39%
6,93
3.3.3. Kết quả thu nhận được từ phiếu tham khảo ý kiến giáo viên và học sinh
3.4. Kết luận chung về thực nghiệm
Dạy học bài phong cách ngôn ngữ báo chí ở lớp 11 theo quan điểm giao tiếp sẽ giúp cho
học sinh thêm khôn ngoan, linh hoạt trong giao tiếp với mọi ngƣời. Học tốt bài Phong cách ngôn
ngữ báo chí sẽ giúp các em xác định đúng từng thể loại của văn bản báo chí, biết rõ đặc trƣng của
từng thể loại và có thể viết đƣợc các loại văn bản đó khi các em làm báo tƣờng, khi các em muốn
gửi bài cho các báo, đài Dạy Tiếng Việt cho học sinh và học sinh ứng dụng tốt vào trong thực tế
cuộc sống nhƣ thế mới đạt yêu cầu.
KẾT LUẬN
Qua việc nghiên cứu, vận dụng quan điểm giao tiếp vào việc tổ chức dạy học bài Phong các
ngôn ngữ báo chí ở lớp 11 trung học phổ thông và hƣớng triển khai các bài học Tiếng Việt trong
chƣơng trình Ngữ Văn 11 theo quan điểm giao tiếp, ngƣời thực hiện đề tài rút ra một số nhận xét
và đề xuất sau:
1. Dạy học bài phong cách ngôn ngữ báo chí ở lớp 11 trung học phổ thông theo quan điểm giao
học nói chung trƣớc tiên chính là tƣ duy. Có thay đổi về tƣ duy, về nhận thức thì mới thay đổi hành
động, có hành động tích cực thì hành động đó mới có thể đạt hiệu quả. Để đạt đƣợc chất lƣợng giáo dục
thì những ngƣời làm công tác giáo dục phải có sự đầu tƣ công sức và tiền bạc, thực tiễn đồng bộ. Mục
tiêu, quan điểm giáo dục phải đƣợc triển khai sâu rộng và thực hiện triệt để. Với tình hình học sinh học
Ngữ Văn nói chung và Tiếng Việt nói riêng ngày càng yếu kém thì đòi hỏi giáo viên, phụ huynh học
sinh, ban giám hiệu nhà trƣờng cần có biện pháp để nâng cao năng lực học tập của học sinh, tạo điều
kiện cho giáo viên nâng cao năng lực giảng dạy và trình độ chuyên môn.
15
References
1. Lê A (2001), “Dạy Tiếng Việt là dạy một hoạt động và bằng hoạt động”,Tạp chí Ngôn ngữ,
(4), tr.57-65.
2. Lê A - Nguyễn Quang Ninh - Bùi Minh Toán (2001), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Nhà
xuất bản Giáo dục.
3. Phạm Thị Anh (2010), “Ngữ liệu trong dạy học Tiếng Việt ở trường phổ thông”, Tạp chí Giáo
dục, (236), tr. 17-19.
4. Nguyễn Thị Thanh Bình (2006), “Một số xu hướng lí thuyết của việc dạy tiếng mẹ đẻ trong
nhà trường”, Tạp chí Ngôn ngữ, (4), tr.13-24.
5. Diệp Quang Ban (2000), “Thử bàn về một số vấn đề liên quan đến môn ngữ pháp Tiếng Việt
trong nhà trường”, Tạp chí Ngôn ngữ, (11), tr.55-58.
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Tiếng Việt 11, Nhà xuất bản Giáo dục.
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ Văn 11, tập1, Nhà xuất bản Giáo dục.
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ Văn 11, tập2, Nhà xuất bản Giáo dục.
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Sách Giáo Viên Ngữ Văn 11, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục.
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Sách Giáo Viên Ngữ Văn 11, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục.
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ Văn
lớp 11, Nhà xuất bản Giáo dục.