Đánh giá mức độ đáp ứng đối với công việc của sinh viên tốt nghiệp đại học ngành công nghệ thông tin từ phía nhà tuyển dụng (Nghiên cứu trên địa bàn Thành phố H16373420150227 - Pdf 26



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

TRẦN THỊ VÂN ANH

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC
CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TỪ PHÍA NHÀ TUYỂN DỤNG
(NGHIÊN CỨU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH) LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội, tháng 5/2013

i

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Phương pháp nghiên cứu 3
3.1. Câu hỏi nghiên cứu 3
3.2. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
3.3. Phương pháp nghiên cứu 4
3.4. Phạm vi và thời gian nghiên cứu 5
4. Cấu trúc của luận văn 5
PHẦN NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN 7
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài 7
1.2. Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến đề tài 13
1.3. Khung lý thuyết của đề tài 20
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. Xây dựng công cụ đo lường 24
2.2. Tổng thể và mẫu nghiên cứu 25
2.3. Kiểm tra độ tin cậy của công cụ đo lường 27
2.4. Kiểm tra độ hiệu lực của công cụ đo lường 32
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
ii

3.1. Vị trí việc làm sau khi được tuyển dụng của sinh viên mới tốt nghiệp37

vị trí việc làm 41
Bảng 3.4: Tổ chức đào tạo sinh viên mới tốt nghiệp 42
iv

Bảng 3.5: Phép thử Chi-Square về mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và
đào tạo bổ sung 43
Bảng 3.6: Tương quan giữa quy mô doanh nghiệp và đào tạo bổ sung 44
Bảng 3.7: Thời gian đào tạo sinh viên mới tốt nghiệp sau khi tuyển dụng 45
Bảng 3.8: Nội dung đào tạo sinh viên mới tốt nghiệp sau khi tuyển dụng 46
Bảng 3.9: Đánh giá mức độ đáp ứng về kiến thức 48
Bảng 3.10: Đánh giá mức độ đáp ứng về kỹ năng 50
Bảng 3.11: Đánh giá mức độ đáp ứng về thái độ 52
Bảng 3.12: Đánh giá mức độ đáp ứng đối với công việc của sinh viên mới tốt
nghiệp 53
Bảng 3.13: Thời gian tìm việc làm của sinh viên mới tốt nghiệp 56
Bảng 3.14: Phép thử Chi-Square về mối quan hệ giữa loại hình doanh nghiệp
và mức độ đáp ứng 58
Bảng 3.15: Phép thử Chi-Square về mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp
và mức độ đáp ứng 58
Bảng 3.16: Tương quan giữa quy mô doanh nghiệp và mức độ đáp ứng đối
với công việc 59
v DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Tam giác đào tạo nhân lực "trường - sinh viên - doanh nghiệp" 21
Hình 1.2: Tam giác năng lực sinh viên cần có để làm việc cho các doanh nghiệp . 21
Hình 1.3: Trường đào tạo năng lực cho sinh viên phù hợp yêu cầu doanh nghiệp . 22
Hình 2.1: Số lượng doanh nghiệp được khảo sát 26

liệu của Hội Tin học Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay, mỗi năm, các cơ sở
đào tạo công nghệ thông tin trên cả nước đào tạo được 10.000 sinh viên với
tốc độ tăng trưởng khoảng 10%, trong khi đó nhu cầu nhân lực ngành công
nghệ thông tin hiện tại là 30.000 người(Trần Anh Tuấn, 2010). Do đó, các
doanhnghiệp công nghệ thông tin đangthiếulaođộng mộtcáchtrầmtrọng. Quyết
định 1755/QĐ-TTg, ngày 22/09/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề
án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và
truyền thông” đã chỉ ra rằng công nghệ thông tin là một ngành mũi nhọn của
quốc gia, ngành có khả năng đem lại nhiều lợi nhuận và thúc đẩy tăng trưởng
2 quốc gia. Quyết định cũng chỉ ra rằng để đạt yêu cầu tăng trưởng, nhu cầu lao
động ngành công nghệ thông tin hàng năm là rất cao, đến năm 2020 “80%
sinh viên công nghệ thông tin và truyền thông tốt nghiệp ở các trường đại học
đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ để tham gia thị trường lao động quốc
tế. Tổng số nhân lực tham gia hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp công
nghệ thông tin đạt một triệu người”.
Trong khi đó, nhữngnămgầnđây,tìnhtrạngsinhviên công nghệ thông
tinsaukhitốtnghiệp không tìmđượcviệclàmhoặcviệc làmkhông phùhợpchuyên
môn vẫn còn nhiều.Theosốliệukhảosátcủadựángiáo
dụcđạihọcvềviệclàmchosinhviênsautốt nghiệp, chỉ có 30%đápứngđượcyêu
cầucủanhàtuyển dụng trong khoảng 200.000 sinhviêntốt nghiệp đại
họchàngnăm (Dự án Giáo dục Đại học 2, 2005).Trong đó, sinh viên tốt
nghiệp ngành công nghệ thông tin cũng không thoát khỏi tình trạng này. Như
vậy, số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học ngành công nghệ thông tin được
tuyển dụng vào các doanh nghiệp công nghệ thông tin quá ít.
Thực trạng trên cho thấy hiện trạng công tác đào tạo của trường đại
họcchưa đồng bộ với yêu cầu của nhà tuyển dụng. Do đó, mức độ đápứng của
sản phẩm đào tạo theo nhu cầu xã hội và doanh nghiệp đã và đang được

- Sinh viên mới tốt nghiệp ngành công nghệ thông tin được tuyển dụng
vào doanh nghiệp có cần đào tạo bổ sung không, nếu cần thì đào tạo nội dung
gì, và thời gian đào tạo là bao lâu?
4 - Những kiến thức, kỹ năng, và thái độ của sinh viên hệ chính quy
ngành công nghệ thông tin được nhà trường trang bị đáp ứng ở mức độ nào
trước những yêu cầu của công việc trong doanh nghiệp công nghệ thông tin?
- Các nhà tuyển dụng đánh giá chung về mức độ đáp ứng đối với công
việc của sinh viên mới tốt nghiệp đại học ngành công nghệ thông tin như thế
nào?
3.2. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.2.1. Khách thểnghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của luận văn là nhà tuyển dụng trong các doanh
nghiệp công nghệ thông tin và sinh viên mới tốt nghiệp đại học hệ chính quy
ngành công nghệ thông tin.
3.2.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mức độ đáp ứng đối với công việc
của sinh viên mới tốt nghiệp đại học hệ chính quy ngành công nghệ thông tin.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tra cứu tài liệu: được áp dụng để đọc và nghiên cứu các bài
viết của những nhà khoa học và nhà giáo dục học liên quan đến tiêu chuẩn và
phương pháp đánh giá khả năng đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng.
Phương pháp phân tích và tổng hợp: được sử dụng trong nghiên cứu này
để phân tích và tổng hợp những câu hỏi khảo sát nhà tuyển dụng và sinh viên
tốt nghiệp ngành công nghệ thông tin.
5
những kết quả nghiên cứu một cách cô đọng, súc tích, gồm tam giác đào tạo
nhân lực, kết quả đánh giá mức độ đáp ứng của sinh viên mới tốt nghiệp
ngành công nghệ thông tin đối với nhà tuyển dụng về vị trí công tác, về đào
tạo bổ sung, về mức độ đáp ứng kiến thức, kỹ năng, và thái độ.
7
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN

1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
Mục tiêu chính của luận văn là phân tích các đánh giá của nhà tuyển
dụng về mức độ đáp ứng đối với công việc của sinh viên mới tốt nghiệp đại
học ngành công nghệ thông tin. Trong đó, "đáp ứng" được hiểu là phản hồi lại
đúng với một đòi hỏi, một yêu cầu xác định; "mức độ" được hiểu là một mức
nào đó trên một thang độ đo được xác định rõ ràng; "công việc" là việc cụ thể
phải bỏ công sức ra để làm (Từ điển Tiếng Việt phổ thông, 2002). Một cách
tổng quát, “mức độ đáp ứng đối với công việc” là thuật ngữ được dùng để xác
định sự hoàn thành các yêu cầu, các đòi hỏi của công việc đạt đến mức nào
trên thang đánh giá. Trong luận văn này, mức độ đáp ứng đối với công việc
chỉ định mức độ thích hợp của sinh viên đối với yêu cầu của nhà tuyển dụng.
Năng lực là khả năng, là điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để
thực hiện một hoạt động nào đó. Năng lực cũng được hiểu là phẩm chất tâm
lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào
đó với chất lượng cao (Từ điển Tiếng Việt phổ thông, 2002). Nói cách khác,
năng lực được hiểu là toàn bộ khả năng của con người, tổ chức và xã hội để
thực hiệnthành công công việc (OECD/DAC, 2006). Tháp năng lực được xây
dựng bởi Potter và Brough chỉ ra rằng nhu cầu năng lực gồm bốn lĩnh vực lớn
tạp, phong phú. Kỹ năng baogồmcửđộngthểchất,sựhợptácvàsửdụng
cáclĩnhvựcthuộckỹnăngđộngcơ,sựpháttriểncáckỹnăngnàyđòihỏiphảicó
sựthựchànhvàđượcđolườngtrênkhíacạnhtốcđộ,sựchínhxác,khoảngcách,
quytrìnhhoặccáckỹthuậtthựchiện.Nămhạngmụcchínhđượcliệtkêtừhànhvi
đơngiảnnhấttớihànhviphứctạpnhất:Sựtựnhiênhóa,sựănkhớp,sựchínhxác,
sựthaotác,sựbắtchước (Dave, 1975). Nhiều nhà khoa học đã định nghĩa kỹ
năng từ những góc nhìn khác nhau như “kỹ năng là các phương thức thực
hiện hoạt động – cái mà con người lĩnh hội được” (V.A.Kruteski, 1980), “kỹ
năng là khả năng sử dụng tri thức và các kỹ xảo của mình một cách có mục
đích và sáng tạo trong quá trình của hoạt động thực tiễn. Kỹ năng là khả năng
tự tạo của con người” (A.V.Barabasicoov, 1963). Trong nghiên cứu này,
chúng tôi sử dụng thuật ngữ kỹ năng như là sự vận dụng những tri thức,
kinhnghiệm đã có để thực hiện công việc một cách hiệu quả.
Thái độ được dùng ở đây như là một hợp phần xác định năng lực cá
nhân. Thái độ là một hiện tượng tâm lý phức tạp, tồn tại, diễn biến, biểu hiện
dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau trong đời sống của con người. Thái
độbaogồmhànhvimàởđó chúngta
giảiquyếtmọichuyệntrêncơsởtìnhcảm,chẳnghạnnhưcảmxúc,cácgiá
trị,sựtrântrọng,lòngnhiệttình,độnglựcvàtháiđộ,Nămlĩnhvựchoạtđộngchính
được liệtkêbắtnguồntừhànhviđơngiảnnhấttớiphứctạpnhất:Tiếpthucácgiá
trị,tổchức,đánhgiá,phảnhồi,đónnhận(Krathwohl,Bloom,Masia,1973).Các nhà
nghiên cứu nhìn nhận thái độ như là một thành phần của nhân cách, có mối
quan hệ với các thuộc tính của nhân cách. Thái độ được hiểu là những biểu
hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình
cảm đối với người hoặc việc, hay nói cách khác đó là cách nghĩ, cách nhìn và
cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình (Từ
10


rất kém là sinh viên hoàn toàn không đáp ứng được yêu cầu công việc.
1.1.2. Giới thiệu chung về ngành công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương
tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông
- nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông
tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và
xã hội. Công nghệ thông tin phục vụ trực tiếp cho việc cải tiến quản lý Nhà
nước, nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt
động kinh tế - xã hội khác, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của
nhân dân. Công nghệ thông tin được phát triển trên nền tảng phát triển của
các công nghệ Điện tử - Tin học - Viễn thông và tự động hoá (Nghị quyết
49/CP, 04-08-1993).
Các lĩnh vực chính của công nghệ thông tin bao gồm quá trình tiếp thu,
xử lý, lưu trữ và phổ biến hóa âm thanh, phim ảnh, văn bản và thông tin số
bởi các vi điện tử dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông.Một vài
lĩnh vực hiện đại và nổi bật của công nghệ thông tin như: các tiêu chuẩn Web
thế hệ tiếp theo, sinh tin, điện toán đám mây, hệ thống thông tin toàn cầu, tri
thức quy mô lớn và nhiều lĩnh vực khác. Các nghiên cứu phát triển chủ yếu
trong ngành khoa học máy tính.
Ngành công nghệ thông tin trong các trường đại học được chia thành
nhiều chuyên ngành nhưhệ thống thông tin, công nghệ phần mềm, khoa học
máy tính, mạng và truyền thông máy tính,…
Mục tiêu chung của chương trình đào tạo ngành công nghệ thông tin
trình độ đại học nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản để phát
12 triển toàn diện, có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn tốt, đáp ứng
nhu cầu nhân lực phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực
hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Trong những năm qua, với vai trò là quốc sách, với mục tiêu là đào tạo
nhân lực phục vụ tiến trình phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hiện
đại, giáo dục được đầu tư mạnh mẽ từ nhiều nguồn, của ngân sách nhà nước
và của xã hội. Tuy nhiên, tiến trình phát triển công nghiệp diễn ra quá nhanh
làm cho tiến trình phát triển giáo dục không đuổi theo kịp. Thật vậy, không
khó lắm để nhận ra rằng trên con đường phát triển theo hướng công nghiệp
hiện đại, Việt Nam đang được đặt trong một bối cảnh phải phát triển "kép".
Thứ nhất là vì đây là một thời kỳ mà thế giới có tốc độ phát triển công nghiệp
rất nhanh với nền công nghiệp dựa trên tri thức; thứ hai là nước ta chuyển từ
nền kinh tế kế hoạch hóa với trình độ công nghiệp rất thấp chuyển sang nền
kinh tế thị trường với đòi hỏi trình độ công nghiệp ngang tầm thế giới để đủ
sức cạnh tranh và hội nhập. Do đó, hơn lúc nào hết, đất nước chúng ta đang
cần một một lực lượng lao động trình độ cao. Nhu cầu này đã và đang tạo nên
một sức ép rất lớn đối với nền giáo dục vốn không thể phát triển nhanh như
công nghiệp. Sự thiếu đồng bộ giữa yêu cầu của nền kinh tế cần có một lực
lượng lao động trình độ cao, số lượng nhiều với một sự tăng trưởng giáo dục
khá chậm chạp không những đã làm chậm tốc độ phát triển kinh tế, mà còn
đưa nền giáo dục đến nhiều bất cập. Nhiều chương trình đào tạo đại học chưa
kịp chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, sản phẩm đào
tạo là sinh viên tốt nghiệp không đáp ứng hoặc đáp ứng không đầy đủ các yêu
14 cầu của nhà tuyển dụng. Từ đó phát sinh ra tình trạng thừa người tốt nghiệp
đại học, thiếu kỹ sư trong các nhà máy. Đó là một sự lãng phí vô cùng lớn vì
các đầu tư không nhỏ của xã hội và cá nhân cho việc học đại học của sinh
viên không được sử dụng hiệu quả.
Trước những bất cập đó, một bức tranh toàn cảnh giáo dục – đào tạo cần
được phát họa đầy đủ từ nhiều góc nhìn khác nhau để có thể nhận dạng vị trí
của nền giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học Việt Nam trên bản đồ giáo dục

hội nhập quốc tế một cách sâu rộng, giáo dục học đại học cần phải đổi mới để
đủ sức đảm nhận vai trò cung ứng nhân lực. Đổi mới của giáo dục đại học là
khâu then chốt trong đổi mới giáo dục vì đổi mới giáo dục đại học không chỉ
thay đổi cách thức và chất lượng tạo ra nhân lực cung ứng cho nền kinh tế, mà
còn thúc đẩy sự đổi mới chuỗi giáo dục trước đại học, giáo dục phổ thông.
Nhận ra những yêu cầu cấp bách của giáo dục đại học, Thủ tướng đã ra chỉ thị
số 296/CT-TTg ngày 27/2/2010 về đổi mới giáo dục đại học, trong đó nhấn
mạnh khâu đột phá để tạo ra sự đổi mới toàn diện của giáo dục đại học là đổi
mới quản lý giáo dục đại học, bao gồm quản lý nhà nước về giáo dục đại học
và quản lý của các cơ sở đào tạo, để từ đó đảm bảo và nâng cao chất lượng
đào tạo, nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học một cách bền vững.
Thực hiện mục tiêu đào tạo nhân lực của Luật giáo dục Việt Nam, trước
hết đổi mới giáo dục đại học phải hướng đến đảm bảo cung ứng nhân lực
trình độ cao, đáp ứng yêu cầu đa dạng của nền kinh tế đang phát triển theo
hướng công nghiệp hiện đại. Từ nhu cầu thực tiễn đó, chủ trương “Nhà
trường gắn liền với xã hội” (Nghị quyết số 14-NQ/TW, 1979) được một số tác
16 giả đã phân tích làm rõ hơn khái niệm "nhu cầu xã hội" để giúp cho các
trường đại học, cao đẳng nhận thức và thực hiện một cách đầy đủ nhu cầu xã
hội (Lê Văn Hảo, 2010). Trong tiến trình nhận dạng "nhu cầu xã hội", các nhà
giáo dục đã nhận ra các thực thể xã hội là nhà trường, sinh viên, và nhu cầu xã
hội, trong đó sự quan hệ của nhà trường và sinh viên với nhu cầu xã hội là
cung cấp thông tin và yêu cầu để xây dựng mục tiêu, các giải pháp đổi mới
công tác đào tạo của nhà trường (Trần Đình Mai, 2009). Khi nhận dạng "nhu
cầu xã hội", hầu hết các tác giả đồng tình với quan niệm sức lao động là hàng
hóa và cho rằng tại Việt Nam đã hình thành một thị trường lao động.
Đến đây, các nhà khoa học đã nhận dạng "nhu cầu xã hội" là thị trường
lao động và cho rằng đào tạo phải phục vụ thị trường lao động, nói khác đi

(Trần Anh Tài, 2009).
Đồng thời với tiến trình nhận dạng "nhu cầu xã hội", nhiều nhà giáo dục
học thảo luận những vấn đề liên quan đến chất lượng giáo dục để tìm ra
những giải pháp chung cho việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Các
tác giả làm rõ hơn khái niệm chất lượng giáo dục, thảo luận về các quan điểm,
phương pháp nhìn nhận, đánh giá chất lượng giáo dục đại học, hoặc để chia sẻ
kinh nghiệm đảm bảo chất lượng. Một số trường như đi sâu hơn trong các
biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo, giáo dục đại học như sắp xếp thời
khóa biểu học hợp lý hơn, định kỳ tổ chức sinh hoạt chuyên môn ở các tổ bộ
môn, giám sát chặt chẽ việc tuân thủ kỉ luật của giảng viên ở trên lớp, tổ chức
ra đề thi, kiểm tra bài và chấm bài độc lập với việc giảng dạy môn học…,
được đưa ra tại hội thảo “Đảm bảo chất lượng năm 2012” tổ chức tại trường
18 Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
Minh.
Ngoài ra, có một vài nghiên cứu đánh giá chất lượng đào tạo của trường
và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng theo hướng tiếp cận cựu sinh viên.
Hướng nghiên cứu này thường do các trường đại học thực hiện. Các nghiên
cứu chủ yếu quan tâm đến việc đánh giá sản phẩm đầu ra hay nói cách khác là
kiểm chứng mức độ đáp ứng đối với công việc của những sinh viên đã tốt
nghiệp. Năm 2002, Trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh đã
đánh giá chất lượng đào tạo từ góc nhìn của cựu sinh viên ở các khía cạnh
chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và kết quả đào tạo để
đưa ra những mặt mạnh và mặt yếu trong công tác đào tạo của nhà trường và
đề xuất một số cải tiến để nâng cao chất lượng đào tạo. Trường Đại học Cần
Thơ năm 2010 đã công bố kết quả đánh giá của sinh viên và cựu sinh viên về
kết quả đào tạo giáo viên của khoa sư phạm về kiến thức chuyên môn, nghiệp
vụ sư phạm, việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực, hoạt động đánh giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status