MỤC LỤC
SVTH: Vũ Nguyễn Mỹ Linh K44H1- Trường Đại học Thương mại
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
STT Tên bảng Số trang
1 Bảng 1.1: Phân loại doanh nghiệp theo quy mô 4
2 Bảng 2.1: Tông hợp ý kiến phỏng vấn chuyên gia 25
3 Bảng 2.5: Các yếu tố Chi phí dự án Tòa nhà Hỗn hợp 218 Trần Duy
Hưng – Công ty Cổ phần Đầu tư SICO
31
4 Bảng 2.3: Tình hình cơ cấu tài sản, nguồn vốn Công ty Cổ phần Đầu tư
SICO
34
5 Bảng 2.4: Các hệ số tài chính Công ty Cổ phần Đầu tư SICO 37
6 Bảng 2.5: Các yếu tố Chi phí dự án Tòa nhà Hỗn hợp 218 Trần Duy
Hưng – Công ty Cổ phần Đầu tư SICO
41
7
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức NHTMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi
nhánh Thủ Đô
21
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Kí hiệu viết tắt Giải thích
1 DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
2 NHTM: Ngân hàng thương mại
3 NHTMCP Ngân hàng Thương mại cổ phần
4 TCDN Tài chính doanh nghiệp
5 BCĐKT Bảng cân đối kế toán
6 BCKQKD Báo cáo kết quả kinh doanh
7 BCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
8 VLĐ Vốn lưu động
9 VKD Vốn kinh doanh
(Sacombank) – Chi nhánh Thủ Đô cũng không phải là một ngoại lệ, Chi nhánh đã chú trọng
vào công tác phân tích tài chính khách hàng DNVVN vay vốn tại Chi nhánh. Tuy nhiên công
tác này vẫn chưa hoàn thiện về nhiều mặt, hiệu quả chưa thực sự cao dẫn đến tình trạng tỷ lệ
nợ xấu còn khá cao so với các ngân hàng khác cùng hệ thống. Xuất phát từ lý do này, em đã
chọn đề tài: “Phân tích tình hình tài chính của khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ vay
vốn tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – Chi nhánh
Thủ Đô” để nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu
Với những tồn tại trong công tác phân tích tài chính khách hàng DNVVN vay vốn tại ngân
hàng cùng với thực trạng chất lượng tín dụng chưa tương xứng với tiềm năng NHTMCP Sài
Gòn Thương Tín (Sacombank) – Chi nhánh Thủ Đô thì khóa luận được thực hiện nhằm thực
hiện các mục tiêu sau:
- Hệ thống hóa lý thuyết phương pháp phân tích tài chính khách hàng vay vốn đối với doanh
nghiệp
- Khảo sát phương pháp phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm phát
hiện những khó khăn và tồn tại trong công tác phân tích tài chính khách hàng DNVVN vay
vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – Chi nhánh Thủ Đô
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác phân tích tài chính khách hàng
DNVVN vay vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – Chi nhánh Thủ Đô
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài chính khách hàng DNVVN vay vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương
Tín (Sacombank) – Chi nhánh Thủ Đô
Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện về thời gian và kinh nghiệm để giải quyết các vấn đề trong đề tài, luận văn
tập trung nghiên cứu trong phạm vi sau đây:
- Về nội dung nghiên cứu: Khóa luận tập trung làm rõ thực trạng công tác phân tích tài chính
khách hàng DNVVN, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phân tích tài chính khách
hàng DNVVN vay vốn ở NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – Chi nhánh Thủ Đô
- Về không gian nghiên cứu: NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – Chi nhánh Thủ Đô
Muốn hiểu doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là gì trước hết ta cần tìm hiểu thế nào là
doanh nghiệp. Theo luật Doanh nghiệp năm 2005: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định
của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.”
Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú. Tùy
theo từng cách tiếp cận khác nhau mà người ta có thể Chia doanh nghiệp thành các loại khác
nhau trong đó dựa theo quy mô có thể Chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp lớn và doanh
nghiệp vừa và nhỏ
Căn cứ theo nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DVVVN ta có khái niệm
DNVVN được định nghĩa như sau:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp
luật, được Chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn
tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số
lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Bảng 1.1 Phân loại doanh nghiệp theo quy mô
Quy mô
Khu vực
Doanh
nghiệp siêu
nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động
Tổng nguồn
vốn
Số lao động
Tổng nguồn
vốn
Số lao động
I. Nông, lâm nghiệp và thủy
sản
xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến 50
người
từ trên 10 tỷ
đồng đến 50 tỷ
đồng
từ trên 50
người đến 100
người
(Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DVVVN)
Đặc điểm của các DNVVN tại nước ta ở một số điểm như sau:
- DNVVN có vốn đầu tư ban đầu ít nên chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường
ngắn dẫn đến khả năng thu hồi vốn nhanh.
- DNVVN tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế: các DNVVN hoạt
động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế: thương mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng,
nông lâm ngư nghiệp và hoạt động dưới mọi hình thức như: Doanh nghiệp nhà nước, doanh
nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn…
- DNVVN có tính năng động cao trước những thay đổi của thị trường, các DNVVN có khả
năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh.
- Năng lực kinh doanh còn hạn chế. Do quy mô vốn nhỏ nên các DNVVN không có điều kiện
đầu tư quá nhiều vào nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện
đại. Việc sử dụng các công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, tính cạnh
tranh trên thị trường kém.
- Năng lực quản lý còn thấp: Đây là loại hình kinh tế còn non trẻ nên trình độ, kỹ năng của nhà
lãnh đạo doanh nghiệp cũng như của người lao động còn hạn chế. Số lượng DNVVN có chủ
doanh nghiệp, giám đốc giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều.
Một bộ phận lớn chủ doanh nghiệp và giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo bài
cho quá trình chuyên môn hóa và đa dạng hóa các ngành nghề, duy trì và phát triển các nghề
thủ công truyền thống giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời góp phần xây dựng và rèn
luyện một lực lượng trẻ mới có năng lực và khả năng thích ứng nhanh với nền kinh tế thị
trường.
Phân tích tài khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn tại ngân hàng thương mại
Quan niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp
- Khái niệm phân tích TCDN được đề cập trong giáo trình “ Tài chính doanh nghiệp” (Chủ biên
TS Lưu Thị Hương- Khoa Ngân hàng tài chính- Trường Đại học kinh tế quốc dân) được coi là
khái niệm đầy đủ nhất về phân tích tài chính: “Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các
khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin
khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ
và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó”.
- Dưới giác độ của NHTM, đóng vai trò là người cho vay, thì “Phân tích tài chính doanh
nghiệp là việc thu thập, phân tích các thông tin kế toán và các thông tin khác để đánh giá
thực trạng và xu hướng tài chính, khả năng tiềm lực của doanh nghiệp nhằm mục đích đảm
bảo an toàn vốn tín dụng”. Ngân hàng đưa ra quyết định cho vay dựa trên cơ sở tổng hợp các
thông tin pháp lý, năng lực tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, tình
hình thị trường đối với sản phẩm của khách hàng, tình hình nền kinh tế và uy tín của khách
hàng trong quan hệ tín dụng đối với các tổ chức tín dụng khác cũng như quan hệ với đối tác
kinh doanh. Do vậy, việc phân tích TCDN là một trong những khâu vô cùng quan trọng có ảnh
hưởng không nhỏ tới chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Nguồn thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
Trong phân tích TCDN, các NHTM phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thông tin: từ những
thông tin nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài doanh nghiệp để đưa ra những
quyết định chính xác nhất trong việc cho vay để đảm bảo mục tiêu an toàn và sinh lời trong
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
1.2.2.1. Thông tin bên ngoài doanh nghiệp
Thông tin bên ngoài doanh nghiệp bao gồm những thông tin chung, thông tin về ngành
kinh doanh, và những thông tin về pháp lý, kinh tế…đối với doanh nghiệp.
- Thông tin chung: là những thông tin liên quan đến trạng thái, sự phát triển của nền kinh tế, đó
tiền của doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc
đưa ra các quyết định kinh tế” (Trích chuẩn mực số 21 về Trình bày báo cáo tài chính theo
quyết định 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính). Báo cáo tài
chính bao gồm các báo cáo chủ yếu: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Ngân
quỹ (Báo cáo lưu chuyển tiền tệ).
- Bảng cân đối kế toán
BCĐKT là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính của một doanh nghiệp tại một
thời điểm nhất định nào đó thường là cuối tháng, cuối quý hoặc cuối năm. Thông qua các
thông tin trên BCĐKT, các nhà phân tích các nhà phân tích tài chính có thể nhận biết được
loại hình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Đánh giá phân
tích khả năng cân đối vốn, khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và sự biến động
của chúng. Xác định vốn lưu động ròng, nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, xác định sự tăng
giảm nguồn vốn và sử dụng vốn…
BCĐKT thường được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán: một
bên là phần tài sản, một bên là phần nguồn vốn. Bên tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các
loại tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo, thuộc quyền sở hữu, quản lý sử
dụng của doanh nghiệp. Bên nguồn vốn phản ánh quy mô kết cấu nguồn tài trợ hình thành nên
các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo, đồng thời cho biết khả năng độc
lập về tài chính của doanh nghiệp.
- Báo cáo kết quả kinh doanh
Một thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tài chính là thông
tin phản ánh trong BCKQKD, báo cáo này cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp
trong tương lai. BCKQKD bao gồm hai phần: Một phần phản ánh kết quả hoạt động kinh
doanh, hoạt động tài chính và hoạt động khác của doanh nghiệp. Một phần phản ánh tình hình
thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước theo dõi các khoản thanh toán với Nhà nước về thuế và các
khoản phải nộp ngân sách khác.
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ( Báo cáo Ngân quỹ)
BCLCTT là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh các dòng tiền nhập quỹ và các dòng tiền
xuất quỹ trong kỳ báo cáo của doang nghiệp.
Hệ số này phản ánh khả năng tự chủ của công ty
Hệ số cơ cấu tài sản:
!"#$
%& '()
#$%& '()
#& *+)
Phản ánh mức độ đầu tư vào các loại tài sản của doanh nghiệp: Tài sản ngắn hạn (lưu
động), tài sản cố định và tài sản dài hạn khác. Cần căn cứ vào ngành kinh doanh và tình hình
kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp để đánh giá mức độ lý hợp lý trong việc đầu tư vào các
loại tài sản của doanh nghiệp
!"#,#
%& -()
#,#%& -()
#& *+)
. Hệ số khả năng thanh toán
/0.12
$%
#$%
$%
Hệ số này phản ánh khả năng chyển đổi tài sản thành tiền để trang trải các khoản nợ ngắn hạn.
Để đánh giá hệ số này cần dựa vào hệ số trung bình của các doanh nghiệp trong cùng ngành.
Thông thường, khi hệ số này thấp thể hiện khả năng trả nợ của doanh nghiệp là yếu và
?2#@2
#$%@A<B
C#6.D>;<.6
'(
C#61/E
C;<.6#48=>1/E
Vòng quay tổng vốn: chỉ tiêu này phản ánh tổng quát hiệu suất sử dụng tài sản hay toàn bộ
số vốn hiện có của doanh nghiệp và được xác định bằng công thức sau:
;<.6
+1.F
#& *+)@A<B
Hệ số này chịu sự ảnh hưởng đặc điểm ngành kinh doanh, Chiến lược kinh doanh và trình
độ quản lý sử dụng tài sản vốn của doanh nghiệp
Kỳ thu tiền trung bình: Là một hệ số hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó phản ánh
độ dài thời gian thu tiền bán hàng của doanh nghiệp kể từ lúc xuất giao hàng cho đến khi thu
được tiền bán hàng. Kỳ thu tiền trung bình của doanh doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào
chính sách bán chịu và việc tổ chức thanh toán của doanh nghiệp. Do vậy, khi xem xét kỳ thu
tiền trung bình cần xem xét trong mối liên hệ với sự tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp.
Khi kỳ thu tiền trung bình quá dài so với các doanh nghiệp trong ngành thì dễ dẫn đến tình
trạng nợ khó đòi.
*EGH@A C,8@A<B2/1
)
+1.@A<B#61/E
;<.62/1
+1.F
-2/1@A<B
'78945.6#:
#
Hệ số tỷ suất EBIT trên tổng tài sản phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay VKD
không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của VKD
!4,1.4Q
&KLN)
'7.:
@A<B
Hệ số tỷ lệ doanh lợi trên vốn chủ sở hữu là một chỉ số quan trọng, đo lường mức lợi
nhuận thu được trên mỗi đồng vốn của chủ sở hữu trong kỳ
7;DR
:8S&NTC)
'.:UV-T8=5
/48-T8S=.48#
Đây cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng, nó phản ánh mỗi cổ phần thường trong năm thu
được bao nhiêu lợi nhuận sau thuế. Hệ số EPS cao hơn so với doanh nghiệp cạnh tranh khác là
một trong những mục tiêu mà các nhà quản lý doanh nghiệp luôn hướng tới.
Phương pháp phân tích DUPONT.
Mức sinh lời của vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp là kết quả tổng hợp của hàng loạt biện
pháp và quyết định quản lý của doanh nghiệp. Để thấy được sự tác động của mối quan hệ giữa
việc tổ chức sử dụng vốn và tổ chức tiêu thụ sản phẩm tới mức sinh lời của doanh nghiệp,
người ta đã xây dựng hệ thống chỉ tiêu để phân tích sự tác động đó.
Những mối quan hệ chủ yếu được xem là:
- Mối quan hệ tương tác giữa tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh với hiệu suất sử
dụng toàn vốn và tỷ suất lợi nhuận.
Lợi nhuận sau thuế
=
Lợi nhuận sau thuế
x
Tổng số VKD
VCSH Doanh thu thuần Tổng số VKD VCSH
Như vậy:
Tỷ suất lợi nhuận
vốn chủ sở hữu
= Hệ số lãi ròng x
Vòng quay
tổng vốn
x
Mức độ sử dụng đòn
bẩy tài chính
Qua công thức trên, cho thấy rõ các yếu tố chủ yếu tác động đến tỷ suất lợi nhuận vốn chủ
sở hữu trong kỳ, từ đó giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định và tìm biện pháp khai
thác các yếu tố tiềm năng để tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
Phương pháp phân tích diễn biến nguồn và sử dụng vốn.
Việc phân tích này cho phép nắm được tổng quát diễn biến thay đổi của nguồn vốn và sử
dụng vốn trong mối quan hệ với vốn bằng tiền của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định
giữa hai thời điểm lập bảng cân đối kế toán, từ đó có thể định hướng cho việc huy động vốn và
sử dụng vốn của thời kỳ tiếp theo.
Việc phân tích được tiến hành như sau:
Bước 1: Xác định diễn biến thay đổi nguồn vốn và sử dụng vốn
Việc xác định này được thực hiện bằng cách: Trước hết, chuyển toàn bộ các khoản mục
trên bảng cân đối kế toán thành cột dọc. Tiếp đó, so sánh số liệu cuối kỳ với đầu kỳ để tìm ra
sự thay đổi của mỗi khoản mục trên bảng cân đối kế toán. Mỗi sự thay đổi của từng khoản
mục sẽ được xem xét và phản ánh vào một trong hai cột sử dụng vốn hoặc diễn biến nguồn
vốn theo cách thức sau:
Sử dụng vốn sẽ tương ứng với tăng tài sản hoặc giảm nguồn vốn.
Diễn biến nguồn vốn sẽ tương ứng với tăng nguồn vốn hoặc giảm tài sản
Ở đây, xem xét diễn biến thay đổi nguồn vốn và sử dụng vốn trong mối liên hệ với vốn
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó thông qua quá trình phân tích TCDN, nhằm đảm bảo
sự tồn tại và phát triển trong hoạt động tín dụng của NHTM. Do vậy, hiệu quả của việc phân
tích tài chính được phản ánh qua các chỉ tiêu sau đây:
- Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cho vay: tỷ lệ này ở ngân hàng đều tồn tại ở một mức nào đó.
Ngân hàng càng có nhiều khoản nợ quá hạn thì hiệu quả cho vay càng thấp, nguy cơ rủi ro
càng cao, có thể dẫn đến phá sản
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Dư nợ quá hạn
x 100%
Tổng dư nợ tín dụng
- Nợ khó đòi: Nợ khó đòi là khoản nợ quá hạn đã quá một kỳ gia hạn nợ.
- Tỷ lệ nợ khó đòi:
Tỷ lệ nợ khó đòi =
Nợ khó đòi
x 100%
Tổng dư nợ quá hạn
Các chỉ tiêu này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, khi đánh giá các chỉ tiêu này, cũng cần
chú ý đến các yếu tố có thể làm các chỉ tiêu này bị biến dạng như định kỳ hạn trả nợ không
đúng với chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tỷ lệ giữa thu nhập của hoạt động cho vay với tổng thu nhập của ngân hàng
Tỷ lệ giữa thu nhập của hoạt động
cho vay với tổng thu nhập
=
Thu nhập của hoạt động cho vay
x 100%
Tổng thu nhập
Chỉ tiêu này cho biết hoạt động cho vay mang lại bao nhiêu lợi nhuận cho ngân hàng. Dựa
trên tổng thu nhập từ cho vay, các ngân hàng tính tỷ lệ sinh lãi trên một đồng vốn. Đây là chỉ
tiêu rất cần thiết để đánh giá hiệu quả cho vay của ngân hàng, phản ánh khả năng sinh lãi trên
một đồng vốn bỏ ra. Vì thế khi sử dụng chỉ tiêu này cần kết hợp thêm với những chỉ tiêu tỷ lệ
ngân hàng và cả khách hàng.
1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp vừa và
nhỏ vay vốn tại Ngân hàng Thương mại
1.3.3.1. Nhân tố chủ quan
- Trình độ của cán bộ phân tích tài chính doanh nghiệp
Trước tiên phải kể đến vai trò của cán bộ lãnh đạo ngân hàng vì đó chính là người hoạch
định chính sách hoạt động phát triển lâu dài của ngân hàng. Tất cả những chỉ tiêu đánh giá
hiệu quả phân tích tài chính đều xuất phát từ chính sách, quy định, yêu cầu và đánh giá của
lãnh đạo ngân hàng.
Còn về cán bộ phân tích, theo quan điểm của NHTM thì “Phân tích tài chính doanh
nghiệp là việc thu thập, phân tích các thông tin kế toán và các thông tin khác để đánh giá
thực trạng và xu hướng tài chính, khả năng tiềm lực của doanh nghiệp nhằm mục đích đảm
bảo an toàn vốn tín dụng”. Các kết quả phân tích là những nhận xét, đánh giá của cán bộ tín
dụng, do đó trình độ cán bộ thực hiện việc phân tích sẽ tác động trực tiếp đến kết quả phân
tích. Nếu cán bộ thực hiện phân tích có trình độ chuyên môn vững vàng, nắm vững quy trình
phân tích và có khả năng đánh giá sâu sắc nhạy bén sẽ tác động tích cực đến hiệu quả phân
tích TCDN, họ sẽ đưa ra những kết quả phân tích chính xác và đưa ra những quyết định cho
vay hợp lý, đúng đắn giúp cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng đạt hiệu quả.
- Chất lượng thông tin thu thập được trong phân tích
Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng phân tích tài chính vì nếu bất cứ
một sự bóp méo thông tin nào cũng dẫn đến kết quả phân tích chỉ là hình thức, không có ý
nghĩa gì, có thể nó còn ảnh hưởng xấu đến nhận định của ngân hàng về doanh nghiệp. Do vậy
để công tác phân tích tài chính có hiệu quả thì điều quan trọng là các cán bộ phân tích nên sử
dụng những thông tin có chất lượng tốt, cụ thể là những thông tin chính xác, đầy đủ.
- Phương pháp phân tích
Hiện nay, các phương pháp phân tích tài chính ngày càng được hoàn thiện và đa dạng
hơn, đó là công cụ hữu hiệu để đưa ra kết quả phân tích. Nếu biết áp dụng các phương pháp
này một cách linh hoạt, hợp lý với mục đích của mình thì sẽ hạn chế được những nhược điểm
của từng phương pháp riêng lẻ, mang lại một kết quả phân tích chính xác và toàn diện hơn. Vì
thế, trong quá trình phân tích tài chính các cán bộ phân tích nói chung, các cán bộ tín dụng
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI
GÒN THƯƠNG TÍN (SACOMBANK) – CHI NHÁNH THỦ ĐÔ
2.1. Tổng quan về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín
(Sacombank) – Chi nhánh Thủ Đô
Ngày 15/9/2005 Ngân hàng thương mại cổ phần Thương Tín Sacombank- Chi nhánh Thủ
Đô nằm ở số 88 Lý Thường Kiệt, phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội được thành lập.
Vào thời điểm đó, Chi nhánh Thủ Đô là Sở giao dịch thứ hai của Sacombank được khai trương
tại Hà Nội. Sacombank Chi nhánh Thủ Đô có 5 phòng chức năng cùng với 6 phòng giao dịch
trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Chức năng cơ bản của Sacombank Chi nhánh Thủ Đô cũng giống với các Chi nhánh khác
trong hệ thống Sacombank bao gồm các hoạt động:
• Thực hiện các hoạt động huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn dưới hình thức tiền gửi
có kỳ hạn, không
kỳ
hạn, chứng chỉ tiền
gửi;
?PWX(Y-
?(FM
TZ?PWX(Y-
T?((R.#
T?(F[6:X.
T\??PML+]-
T\?^K_*P+LM
T6`T8a-
T\?b-c3*dLW
T.6`W1.
T\?+LM?PeT
TFf(1#
T\?-Wg
kế hoạch, lịch làm việc; thường xuyên chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc triển khai
thực hiện các công việc, nhiệm vụ của toàn Chi nhánh.
* Sở giao dịch
Thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn. Huy động vốn đảm bảo nguồn vốn cho hoạt
động của ngân hàng được thông suốt. Thực hiện các dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng…
*Phòng cá nhân
Cho vay cá nhân và các hoạt động liên quan đến cá nhân. Bao gồm tín dụng thẩm định
cá nhân, quan hệ khách hàng, phát hành thẻ, tiếp thị cá nhân
*Phòng doanh nghiệp
Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế. Bao
gồm thẩm định khách hàng, quan hệ khách hàng, tư vấn khách hàng là hoạt động chính
mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng.Thu thập, quản lý, cung cấp những thông tin phục
vụ cho việc thẩm định và phòng ngừa rủi ro tín dụng.
*Phòng hành chính
Có vị trí không thể thiếu trong ngân hàng. Phòng hành chính có nhiệm vụ trang bị vật
chất, chỗ làm việc cho cán bộ, quản lý nhân sự… Chăm lo đời sống tinh thần của anh chị em
trong ngân hàng như: tổ chức các chương trình văn nghệ, đi tham quan du lịch…
*Phòng kế toán-ngân quỹ