ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM NGUYỄN THUÝ HẰNG
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU TRẮC NGHIỆM KHÁCH
QUAN NHIỀU LỰA CHỌN NHẰM KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
CHẤT LƯỢNG KIẾN THỨC
CHƯƠNG “ DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI”
CỦA HỌC SINH LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÝ
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Mã số: 601410 Người hướng dẫn khoa học: TS. NGÔ DIỆU NGA Hà nội - 2008
5. Vấn đề nghiên cứu……………………………………………………………3
6. Nhiêm vụ nghiên cứu của đề tài…………………………………………… 3
7. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………… 4
8. Đóg góp của đề tài…………………… …………………………………….4
9. Cấu trúc của luận văn……………………………………………………… 5
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM TRA,
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG……………………………………………6
1.1. Cơ sở lý luận về việc kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học………… 6
1.1.1. Khái niệm về kiểm tra đánh giá………………………………………… 6
1.1.2. Mục đích của kiểm tra đánh giá………………………………………….7
1.1.3. Chức năng của kiểm tra đánh giá……………………………………… 7
1.1.4.Các yêu cầu sư phạm đối với việc kiểm tra, đánh giá kêt quả học tập
của học sinh…………………………………………………………………… 9
1.1.5. Nguyên tắc chung cần quán triệt trong kiểm tra, đánh giá……………….9
1.1.6. Các hình thức kiểm tra đánh giá cơ bản……………………………… 10
1.2. Mục tiêu dạy học………………………………………………………….11
1.2.1. Tầm quan trọng của việc xác định mục tiêu dạy học………………… 11
1.2.2. Cần phát biểu mục tiêu như thế nào…………………………………….11
1.2.3. Phân biệt 4 trình độ của mục tiêu nhận thức……………………………12
1.3. Phương pháp và kỹ thuật soạn thảo câu TNKQNLC…………………….13
1.3.1. Các hình thức trắc nghiệm khách quan……………………………….…13
1.3.2. Các giai đoạn soạn thảo một bài TNKQNLC……………………….… 15
1.3.3. Một số nguyên tắc soạn thảo những câu TNKQNLC………………… 17
1.4. Cách trình bày và cách chấm điểm một bài TNKQNLC………………….18
1.4.1. Cách trình bày……………………………………………………….… 18
1.4.2.Chuẩn bị của học sinh……………………………………………………19
1.4.3. Công việc của giám thị………………………………………………….19
1.4.4. Chấm bài…………………………………………………………….… 19
1.4.5. Các loại điểm của bài trắc nghiệm………………………………………20
3.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm………………………………………68
3.2. Đói tượng thực nghiệm……………………………………………………68
3.3. Phương pháp thực nghiệm……………………………………………… 68
3.4. Các bước tiến hành thực nghiệm………………………………………….69
3.4.1. Nội dung bài kiểm tra………………………………………………… 69
3.4.2. Trình bày bài trắc nghiệm……………………………………………….69
3.4.3. Tổ chức kiểm tra……………………………………………………… 71
3.5. Kết quả thực nghiệm và nhận xét…………………………………………71
3.5.1. Kết quả thực nghiệm…………………………………………………….71
3.5.2. Đánh giá theo mục tiêu bài trắc nghiệm……………………………… 74
3.5.3. Phân tích các câu trắc nghiệm theo chỉ số thống kê…………………….78
3.5.4. Đánh giá tổng quát về bài trắc nghiệm……………………………… 120
Kết luận chương 3…………………………………………………………….122
KẾT LUẬN………………………………………………………………… 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………… ……………………………127
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, việc đổi mới công tác giáo dục diễn ra rất sôi
động trên thế giới và ở nước ta. Sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước
đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới đồng bộ cả mục đích, nội dung, phương pháp
Đối với loại luận đề, đây là loại mang tính truyền thống, được sử dụng
một cách phổ biến trong một thời gian dài từ trước tới nay. Ưu điểm của loại
này là nó cho học sinh cơ hội phân tích và tổng hợp dữ kiện theo lời lẽ riêng
của mình, nó có thể dùng để kiểm tra trình độ tư duy ở trình độ cao. Song loại
bài luận đề cũng thường mắc phải những hạn chế rất dễ nhận ra là: Nó chỉ cho
phép khảo sát một số ít kiến thức trong thời gian nhất định. Việc chấm điểm
loại này đòi hỏi nhiều thời gian chấm bài, kết quả thi không có ngay, thiếu
khách quan, khó ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực và do đó trong một số
trường hợp không xác định được thực chất trình độ của học sinh.
Trong khi đó phương pháp trắc nghiệm khách quan có thể dùng kiểm tra
đánh giá kiến thức trên một vùng rộng, một cách nhanh chóng, khách quan,
chính xác; nó cho phép xử lý kết quả theo nhiều chiều với từng học sinh cũng
như tổng thể cả lớp học hoặc một trường học; giúp cho giáo viên kịp thời điều
chỉnh hoàn thiện phương pháp dạy để nâng cao hiệu quả dạy học. Nhưng việc
biên soạn một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan cho một bộ môn là
một công việc không đơn giản, đòi hỏi sự quan tâm của nhiều người, đặc biệt
là các nhà giáo, phải qua nhiều thử nghiệm và mất nhiều thời gian.
Xuất phát từ nhận thức và suy nghĩ ở trên, qua thực tiễn giảng dạy môn Vật lí
ở THPT chúng tôi lựa chọn đề tài theo hướng: Xây dựng hệ thống câu trắc
nghiệm khách quan nhiều lựa chọn dùng để kiểm tra kết quả học tập của học
sinh ở một chủ đề vật lí cụ thể với mong muốn góp phần làm phong phú các
hình thức kiểm tra, đánh giá và phát huy hết tác dụng của kiểm tra, đánh giá
trong dạy học Vật Lí ở trường phổ thông.
Trong khuôn khổ giới hạn của một luận văn Thạc sĩ, chúng tôi chỉ dừng lại
ở việc Xây dựng hệ thống câu trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn 3
nhằm kiểm tra chất lượng kiến thức chương: "Dòng điện không đổi" của
6. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Để đạt được mục tiêu đề ra, chúng tôi xác định đề tài có những nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học
sinh ở trường phổ thông.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và kỹ thuật sọan thảo câu trắc nghiệm khách
quan nhiều lựa chọn.
- Nghiên cứu nội dung chương trình vật lý 11 nói chung và chương "
Dòng điện không đổi" nói riêng, trên cơ sở đó xác định trình độ của mục tiêu
nhận thức với từng kiến thức mà học sinh cần đạt được.
- Vận dụng cơ sở lý luận xây dựng hệ thống câu trắc nghiệm khách quan
nhiều lựa chọn ở chương " Dòng điện không đổi" ở lớp 11 THPT.
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của hệ thống câu hỏi đã
soạn thảo.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Các phương pháp điều tra.
- Phương pháp thống kê toán học
8. Đóng góp của đề tài
8.1.Đóng góp về mặt khoa học
Đề tài nghiên cứu hệ thống lại phương pháp kiểm tra đánh giá. Đặc
biệt nghiên cứu sâu cách soạn một bài trắc nghiệm khách quan nhiều lựa
chọn.Vận dụng lí luận, soạn thảo hệ thống câu trắc nghiệm khách quan nhiều
lựa chọn ở chương " Dòng điện không đổi" vật lí lớp 11THPT .
8.2.Đóng góp về mặt thực tiễn
+ Soạn thảo được một hệ thống câu trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
dùng để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức chương “ Dòng điện không đổi”
lớp 11THPT.
6
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM TRA, ĐÁNH
GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC Ở
TRƢỜNG PHỔ THÔNG
1.1 Cơ sở lí luận về việc kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học
1.1.1. Khái niệm về kiểm tra đánh giá
Kiểm tra đánh giá được hiểu là sự theo dõi tác động của người kiểm tra
đối với người học nhằm thu được những thông tin cần thiết để đánh giá. "Đánh
giá” có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp thông tin thu thập
được với một tập hợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu xác định nhằm đưa ra
quyết định nào đó" (J.M.Deketle).
Quá trình đánh giá gồm các khâu:
- Đo: theo định nghĩa của J.P.Guilford, là gắn một đối tượng hoặc một
biến cố theo một quy tắc được chấp nhận một cách logic.
Trong dạy học đó là việc giáo viên gắn các số (các điểm) cho các sản
phẩm của học sinh. Cũng có thể coi đó là việc ghi nhận thông tin cần thiết cho
việc đánh giá kiến thức, kĩ năng kĩ xảo của học sinh.
Để việc đo được chính xác thì đề bài kiểm tra phải đảm bảo:
+ Độ giá trị: Đó là khả năng của dụng cụ đo cho giá trị thực của đại
lượng được đo (cho phép đo được cái cần đo).
+ Độ trung thực: Đó là khả năng luôn cung cấp cùng một giá trị của
cùng một đại lượng đo với dụng cụ đo.
+ Xác nhận kết quả nhận biết, hiểu, vận dụng theo mục tiêu đề ra.
+ Xác định xem khi kết thúc một phần của dạy học, mục tiêu của dạy học
đã đạt đến mức độ nào so với mục tiêu mong muốn.
+ Tạo điều kiện cho người dạy nắm vững hơn tình hình học tập của học
sinh giúp giáo viên giảng dạy tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học
vật lí.
1.1.3. Chức năng của kiểm tra đánh giá.
Chức năng của kiểm tra đánh giá được phân biệt dựa vào mục đích kiểm tra
đánh giá. Các tác giả nghiên cứu kiểm tra đánh giá nêu ra các chức năng khác nhau. 8
GS. Trần Bá Hoành đề cập ba chức năng của đánh giá trong dạy học:
Chức năng sư phạm, chức năng xã hội, chức năng khoa học.
Theo GS-TS. Phạm Hữu Tòng, trong thực tiễn dạy học ở phổ thông thì
chủ yếu quan tâm đến chức năng sư phạm, được chia nhỏ thành 3 chức năng:
Chức năng chuẩn đoán; chức năng chỉ đạo, định hướng hoạt động học; chức
năng xác nhận thành tích học tập, hiệu quả dạy học.
+ Chức năng chuẩn đoán:
Các bài kiểm tra, trắc nghiệm có thể sử dụng như phương tiện thu lượm
thông tin cần thiết cho việc đánh giá hoặc việc cải tiến nội dung, mục tiêu và
phương pháp dạy học.
Nhờ việc xem xét kết quả kiểm tra đánh giá kiến thức, ta biết rõ trình độ
xuất phát của người học để điều chỉnh nội dung phương pháp dạy học cho phù
hợp, cho phép đề xuất định hướng bổ khuyết những sai sót, phát huy những kết
quả trong cải tiến hoạt động dạy học đối với những phần kiến thức đã giảng dạy.
Dùng các bài kiểm tra đánh giá khi bắt đầu dạy học một học phần để
thực hiện chức năng chuẩn đoán.
+ Chức năng định hướng hoạt động học.
Trong quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh phải chú ý
đánh giá cả số lượng và chất lượng, nội dung kiểm tra bám sát mục tiêu dạy học.
1.1.4.3. Đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống
+ Cần kiểm tra, đánh giá học sinh thường xuyên trong mỗi tiết học, sau
mỗi phần kiến thức.
+ Các câu hỏi kiểm tra cần có tính hệ thống.
1.1.4.4. Đảm bảo tính phát triển
+ Hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó.
+ Trân trọng sự cố gắng của học sinh, đánh giá cao những tiến bộ trong
học tập của học sinh. [16]
1.1.5. Nguyên tắc chung cần quán triệt trong kiểm tra đánh giá 10
Để đảm bảo tính khoa học của việc kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng
thì việc đó phải được tiến hành theo một quy trình hoạt động chặt chẽ. Quy
trình này gồm:
- Xác định rõ mục đích kiểm tra đánh giá.
- Xác định rõ nội dung các kiến thức kĩ năng cần kiểm tra đánh giá, các
tiêu chí cụ thể của mục tiêu dạy học với từng kiến thức kĩ năng đó, để làm căn
cứ đối chiếu các thông tin cần thu. Việc xác định các mục tiêu, tiêu chí đánh
giá cần dựa trên quan niệm rõ ràng và sâu sắc về các mục tiêu dạy học.
- Xác định rõ biện pháp thu lượm thông tin (hình thức kiểm tra) phù hợp
với đặc điểm của nội dung kiến thức kĩ năng cần kiểm tra, phù hợp với mục
đích kiểm tra. Cần nhận rõ ưu nhược điểm của mỗi hình thức kiểm tra để có
thể sử dụng phối hợp và tìm biện pháp phát huy ưu điểm và khắc phục tối đa
các nhược điểm của mỗi hình thức đó.
- Xây dựng các câu hỏi, các đề bài kiểm tra, các bài trắc nghiệm cho
phép thu lượm các thông tin tương ứng với các tiêu chí đã xác định.
trong kiểm tra đánh giá nhiều tác giả cho rằng nên sử dụng trắc nghiệm khách
quan. Nhìn chung nếu xây dựng và sử dụng có hiệu quả hệ thống câu hỏi trắc
nghiệm khách quan thì góp phần vào khắc phục những hạn chế của hình thức
kiểm tra, thi tự luận.
Các hình thức kiểm tra, đánh giá thường sử dụng trong dạy học 1.2. Mục tiêu dạy học
1.2.1. Tầm quan trọng của việc xác định mục tiêu dạy học
Việc xác định các mục tiêu dạy học, có tầm quan trọng đặc biệt, nhằm:
- Có được phương hướng, tiêu chí để quyết định nội dung, phương
pháp, phương tiện dạy học.
- Có được ý tưởng rõ ràng về cái cần kiểm tra đánh giá khi kết thúc mỗi
KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC
T. N . K Q
QUAN SÁT SƢ PH ẠM
Đúng
sai
Điền
khuyết
Ghép
đôi
Nhiều
nghiệm ở lớp học là: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng và sáng tạo.
- Trình độ nhận biết, tái hiện, tái tạo.
Trình độ này thể hiện ở khả năng nhận ra được, nhớ lại được, phát biểu lại
đựơc đúng sự trình bày kiến thức đã có, giải đáp được câu hỏi thuộc dạng: “A
là gì? thế nào? Thực hiện A như thế nào?”.
Trong vật lý câu hỏi kiểm tra trình độ này là những câu hỏi đòi hỏi: Ghi
nhớ một định luật, một quy tắc, nhận biết các dấu hiệu của một sự vật, hiện tư-
ợng, ghi nhớ các công thức đơn vị đo.
- Trình độ hiểu, áp dụng (giải quyết tình huống như tình huống đã biết)
Trình độ này thể hiện ở khả năng giải thích, minh hoạ được nghĩa các kiến
thức, áp dụng được kiến thức đã nhớ lại, hoặc đã được gợi ra để giải quyết đ-
ược những tình huống tương tự với tình huống đã biết, theo cùng một mẫu như 13
tình huống đã biết; giải đáp được câu hỏi thuộc dạng: “A giúp giải quyết X như
thế nào?” (Kiến thức A giúp bạn giải quyết vấn đề này thế nào?)
- Trình độ vận dụng linh hoạt ( giải quyết được tình huống có biến đổi so với
tình huống đã biết)
Trình độ này thể hiện ở khả năng lựa chọn, áp dụng tri thức trong tình
huống có biến đổi so với tình huống đã biết, nhận ra rằng có thể giải quyết tình
huống đã cho bằng cách vận dụng phối hợp các cách giải quyết các tình huống
theo các mẫu đã biết; giải đáp được câu hỏi dạng:”Các A nào giúp giải quyết X
và giải quyết nh thế nào ?” ( bạn biết gì về cái sẽ giúp bạn giải quyết vấn đề
này và giải quyết nh thế nào)
- Trình độ sáng tạo (đề xuất và giải quyết vấn đề không theo mẫu có sẵn)
Trình độ này thể hiện ra khả năng phát biểu và giải quyết những vấn đề
theo cách riêng của mình bằng cách lựa chọn, đề xuất và áp dụng kiến thức để
giải quyết được các vấn đề không theo các mẫu (Angôrit) đã có sẵn; Đề ra giải
1.3.1.3.Trắc nghiệm điền khuyết
Có thể có hai dạng, chúng có thể là những câu hỏi với giải đáp ngắn, hay
cũng có thể gồm những câu phát biểu với một hay nhiều chỗ trống mà học sinh
phải điền vào một từ hay một nhóm từ ngắn.
- Ưu điểm: Thí sinh có cơ hội trình bày những câu trả lời khác thường phát huy
óc sáng kiến, luyện trí nhớ.
- Nhược điểm: Cách chấm không dễ dàng, thiếu yếu tố khách quan khi chấm.
điểm. Đặc biệt nó chỉ kiểm tra được khả năng nhớ, không có khả năng phát
hiện sai lầm của học sinh. [12]
1.3.1.4. Phương pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
Dạng trắc nghiệm khách quan hay dùng nhất là loại trắc nghiệm khách quan
nhiều lựa chọn. Đây là loại câu hỏi mà chúng tôi sử dụng trong chương sau.
Một câu hỏi dạng nhiều lựa chọn gồm hai phần: Phần gốc và phần lựa chọn
+ Phần gốc: Là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chưa hoàn tất). Yêu
cầu cần phải tạo căn bản cho sự lựa chọn, bằng cách đặt ra một vấn đề hay đưa
ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho người làm bài có thể hiểu rõ câu hỏi ấy muốn
đòi hỏi điều gì để lựa chọn câu trả lời thích hợp. 15
+ Phần lựa chọn: (thường là 4 hay 5 lựa chọn ) gồm có nhiều giải pháp có
thể lựa chọn, trong đó có một lựa chọn được dự định là đúng, hay đúng nhất,
còn những phần còn lại là những “mồi nhử” ấy đều hấp dẫn ngang nhau với
những học sinh chưa học kĩ hoặc chưa hiểu kĩ bài học.
Trong đề tài, chúng tôi chọn trắc nghiệm khách quan 4 lựa chọn vì theo
chúng tôi nếu ít lựa chọn hơn thì không bao quát được sai lầm của học sinh,
nhiều lựa chọn hơn sẽ có những mồi thiếu căn cứ . [12]
- Ưu điểm:
ích lợi nhất và có hiệu quả khi nó được soạn thảo cho mục đích chuyên biệt nào đó.
- Nếu bài trắc nghiệm là một bài thi cuối kì nhằm xếp hạng học sinh thì
các câu soạn thảo phải đảm bảo điểm số được phân tán rộng rãi, như vậy mới
phát hiện được học sinh giỏi và học sinh kém.
- Nếu bài trắc nghiệm là một bài kiểm tra nhằm kiểm tra những hiểu biết
tối thiểu về một phần nào đó thì ta soạn thảo những câu hỏi sao cho hầu hết các
học sinh đều đạt điểm tối đa.
- Nếu bài trắc nghiệm nhằm mục đích chuẩn đoán, tìm ra những chỗ yếu,
chỗ mạnh của học sinh, giúp cho giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy phù
hợp, thì các câu hỏi được soạn thảo sao cho học sinh phạm tất cả sai lầm về
môn học nếu chưa học kĩ.
Bên cạnh các mục đích nói trên ta có thể dùng trắc nghiệm với mục đích tập
luyện giúp cho học sinh hiểu thêm bài học và có thể làm quen với lối thi trắc nghiệm.
Tóm lại, trắc nhiệm có thể phục vụ nhiều mục đích, người soạn trắc
nghiệm phải biết rõ mục đích của mình thì mới soạn thảo được bài trắc nghiệm
giá trị vì mục đích chi phối nội dung, hình thức bài trắc nghiệm. [12]
1.3.2.2. Phân tích nội dung môn học.
- Tìm ra những khái niệm quan trọng trong nội dung môn học để đem ra
khảo sát trong các câu trắc nghiệm.
- Phân loại hai dạng thông tin được trình bày trong môn học (hay chương)
+ Một là: Những thông tin cần thiết giải nghĩa hay minh hoạ.
+ Hai là: Những khái niệm quan trọng của môn học, lựa chọn những gì 17
học sinh cần nhớ.
- Lựa chọn một số thông tin và ý tưởng đòi hỏi học sinh phải có khả năng
ứng dụng những điều đã biết để giải quyết vấn đề trong tình huống mới. [12]
1.3.2.3.Thiết lập dàn bài trắc nghiệm
Nội dung 3
5
9
7
21
Tổng cộng
14
19
17
50
1.3.2.4. Lựa chọn số câu hỏi và soạn các câu hỏi cụ thể
Số câu hỏi được bao gồm trong bài trắc nghiệm phải tiêu biểu cho toàn
thể kiến thức mà ta đòi hỏi học sinh phải có.
Số câu hỏi phụ thuộc vào thời gian dành cho nó, nhiều bài trắc nghiệm
được giới hạn trong khoảng thời gian một tiết học hoặc kém hơn.Ta có thể giả
định rằng ngay cả những học sinh làm chậm cũng có thể trả lời một câu trắc
nghiệm nhiều lựa chọn trong 1 phút. [12] 18
Yêu cầu chính xác các điểm số, nghĩa là làm sao mẫu nghiên cứu mang
tính chất đại diện cho quần thể.
1.3.3. Một số nguyên tắc soạn thảo những câu trắc nghiệm khách quan
nhiều lựa chọn
Câu hỏi thuộc dạng này gồm hai phần: Phần gốc và phần lựa chọn. Phần
gốc là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng. Phần lựa chọn gồm một số (thường là
4 hoặc 5) câu trả lời hay câu bổ sung để lựa chọn.
- Đối với phần gốc: Dù lại một câu hỏi hay câu bổ sung đều phải tạo cơ sở
+ Bài học sinh phải trả lời bằng phiếu riêng theo mẫu
C©u 1 C©u 2
- Lưu ý khi in trắc nghiệm.
+ Tránh in sai, in không rõ ràng thiếu sót.
+ Cần được trình bày rõ ràng, dễ đọc.
+ Cần làm nổi bật phần gốc, phần lựa chọn, cần xếp các câu theo
hàng hoặc theo cột cho dễ đọc.
+ Để tránh sự gian lận của học sinh ta có thể in thành những bộ bài
toàn chắc chắn.
+ Học sinh nên bình tĩnh khi làm bài trắc nghiệm không nên lo ngại quá
1.4.3. Công việc của giám thị
- Đảm bảo nghiêm túc thời gian làm bài.
- Xếp chỗ ngồi cho học sinh sao cho tránh được nạn quay cóp.
- Phát đề thi xen kẽ kợp lí
- Cấm học sinh đem tài liệu vào phòng thi. [12]
1.4.4. Chấm bài
- Cách chấm bài thông dụng nhất của thầy cô giảo ở trên lớp là dùng bảng
đục lỗ. Bảng này có thể dùng một miếng bìa đục lỗ ở những câu trả lời đúng
thể hiện qua các lỗ.
- Dùng máy chấm bài
- Dùng máy vi tính chấm bài. [12]
1.4.5. Các loại điểm của bài trắc nghiệm
Có hai loại điểm:
- Điểm thô: Tính bằng điểm số cho trên bài trắc nghiệm
Trong bài trắc nghiệm điểm thô là tổng điểm tất cả các câu đúng trong
bài trắc nghiệm mỗi câu đúng được tính một điểm và câu sai là 0 điểm. Như
vậy điểm thô là tổng điểm tất cả các câu đúng trong bài trắc nghiệm.
- Điểm chuẩn: Nhờ điểm chuẩn có thể so sánh điểm số của học sinh trong
nhiều nhóm hoặc giữa nhiều bài trắc nghiệm của nhiều môn khác nhau.
Công thức tính điểm chuẩn:
S
xx
Z
Trong đó: x: Điểm thô