2 một số điểm mới của luật doanh nghiệp năm 2005 - Pdf 26

MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu 2
CHƯƠNG I: NHỮNG NỘI DUNG THỂ HIỆN ĐIỂM MỚI CƠ
BẢN CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2005
4
1. Luật Doanh nghiệp với tư cách là luật chung cho các loại hình
doanh nghiệp
4
2. Các quy định về đăng ký kinh doanh 4
3. Các quy định về điều lệ công ty 5
4. Các quy định về nhóm công ty 5
5. Các quy định về công ty hợp danh 5
6. Các quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 6
7. Các quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
trở lên
6
8. Các quy định về công ty cổ phần 7
9. Các quy định về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 8
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ VỀ NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT
DN 2005
9
1. Những mặt tích cực đạt được 9
2. Những bất cập còn tồn tại 11
Kết luận 18
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
Việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005 là một bước phát triển mới
trong pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam, là sự tiếp tục của Luật doanh
nghiệp năm 1999 và các đạo luật quan trọng khác về doanh nghiệp. Với sự ra

LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2005
1. Luật Doanh nghiệp với tư cách là luật chung cho các loại hình doanh
nghiệp
3
Luật Doanh nghiệp năm 2005 thay thế cho Luật Doanh nghiệp năm
1999, Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003, các quy định về tổ chức quản
lý và hoạt động của doanh nghiệp tại Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
năm 2000. Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã tạo lập môi trường
pháp lý chung cho hoạt động của các doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam.
2. Các quy định về đăng ký kinh doanh
Khác với Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005
đã có những quy định cụ thể về từng loại hồ sơ đăng ký kinh doanh của doanh
nghiệp. Thay cho việc có Đơn đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp
năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã quy định về Giấy đề nghị đăng
ký kinh doanh, Luật năm 2005 cũng có những quy định cụ thể về hồ sơ đăng
ký kinh doanh của từng loại hình doanh nghiệp bao gồm hồ sơ đăng ký kinh
doanh đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm
hữu hạn và công ty cổ phần. Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng đã quy định
cụ thể về tên của doanh nghiệp, trong đó có cách đặt tên cho doanh nghiệp,
những trường hợp cấm về cách đặt tên doanh nghiệp, đặt tên doanh nghiệp
trong trường hợp tên doanh nghiệp viết bằng tiếng nước ngoài, tên viết tắt của
doanh nghiệp và những trường hợp tên trùng và tên gây nhầm lẫn. Một điểm
mới khác của luật Doanh nghiệp năm 2005 theo hướng là luật chung cho các
loại hình doanh nghiệp, là gắn thủ tục đăng ký kinh doanh với thủ tục đăng ký
đầu tư. Điều này xuất phát từ quan điểm đổi mới, đơn giản hoá tối đa các thủ
tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp gia nhập thị
trường và thực hiện các hoạt động đầu tư. Hồ sơ, trình tự, thủ tục, điều kiện
và nội dung đăng ký kinh doanh, đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài lần đầu
tiên đầu tư vào Việt Nam được thực hiện theo quy định của Luật Doanh
nghiệp năm 2005 và pháp luật về đầu tư. Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là

và điều hành kinh doanh của công ty hợp danh.
6. Các quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Điểm mới nổi bật của Luật Doanh nghiệp năm 2005 về công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên là Luật cho phép một cá nhân có thể thành lập
5
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và đã đưa ra quy định về cơ cấu
tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân. Đạo
luật cũng đã đưa ra những quy định cụ thể về người đại diện theo pháp luật
của công ty. Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám
đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại Điều lệ
công ty. Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú tại Việt
Nam, trường hợp vắng mặt ở Việt Nam trên 30 ngày thì phải uỷ quyền bằng
văn bản cho người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty theo
nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty.
7. Các quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã đưa ra quy định cụ thể khác biệt và cụ
thể hơn so với Luật Doanh nghiệp năm 1999 về người đại diện theo pháp luật
đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, theo đó Chủ tịch
Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc là người đại diện
theo pháp luật của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty. Người đại diện
theo pháp luật của công ty phải thường trú tại Việt Nam, trường hợp vắng mặt
ở Việt Nam trên 30 ngày thì phải uỷ quyền bằng văn bản cho người khác theo
quy định tại Điều lệ công ty để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại
diện theo pháp luật của công ty.
Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã đưa ra quy định về người đại diện theo
uỷ quyền. Đây là quy định mới so với Luật Doanh nghiệp năm 1999. Theo
quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, việc chỉ định người đại diện theo
uỷ quyền phải bằng văn bản, được thông báo đến công ty và cơ quan đăng ký
kinh doanh trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày chỉ định.
8. Các quy định về công ty cổ phần

phiếu biểu quyết chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.
9. Các quy định về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Xác định cụ thể thời hạn (chậm nhất là bốn năm) kết thúc quá trình
chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty
7
cổ phần, tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp.
Việc xác định thời hạn 4 năm xuất phát từ yêu cầu đẩy nhanh quá trình sắp
xếp, tổ chức lại và nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp nhà nước, yêu cầu
tạo lập môi trường kinh doanh bình thường, không phân biệt đối xử giữa các
doanh nghiệp theo thành phần kinh tế, đồng thời, đã tính đến các điều kiện,
các vấn đề cần phải xử lý trong quá trình chuyển đổi.
Như vậy, lộ trình chuyển đổi DNNN đã được luật hoá, theo đó các quy
định hiện hành về DNNN sẽ chỉ được áp dụng trong khoảng thời gian 4 năm,
kể từ ngày Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực. Sau thời gian này, các doanh
nghiệp không kể thành phần kinh tế đều hoạt động trong một hành lang pháp
lý chung về doanh nghiệp và đầu tư.
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ VỀ NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT DN 2005
1. Những mặt tích cực đạt được
Từ 1-7-2006, Luật Doanh nghiệp 1999 được thay thế bằng Luật Doanh
nghiệp 2005. Đây là một cải cách cơ bản trong hệ thống pháp luật về doanh
nghiệp, cả nội dung, tính thống nhất, chặt chẽ dựa trên những thành công đã
được thừa nhận của Luật Doanh nghiệp năm 1999.
8
Qua hơn 6 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã có tác động
tích cực loại bỏ những cản trở, trở thành nền tảng quan trọng đối với sự phát
triển của khu vực kinh tế tư nhân. Người dân được quyền tự do kinh doanh
những gì luật pháp không cấm, góp phần giải phóng, phát triển sức sản xuất
và tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy mạnh mẽ việc hình thành và hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, đồng thời góp phần đổi
mới cơ bản phương thức và công cụ quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp.

sản xuất kinh doanh. Từ ưu điểm của luật và sự nỗ lực phối hợp có hiệu quả
giữa các cơ quan liên quan đã đẩy lùi cơ bản hiện tượng thành lập d oa nh
nghiệp không nhằm mục đích kinh doanh, nhất là để mua bán hoá đơn. Đồng
thời thúc đẩy thêm công cuộc cải cách hành chính và nâng cao năng lực bộ
máy hành chính Nhà nước phù hợp với yêu cầu của thể chế kinh tế thị trường.
Luật Doanh nghiệp năm 2005 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 8,
Quốc hội khoá XI. Trên cơ sở kế thừa và phát triển Luật Doanh nghiệp năm
1999, Luật Doanh nghiệp 2005 tiếp tục là cuộc cải cách, trao quyền cho người
dân theo đúng quy luật và phù hợp nguyện vọng, yêu cầu của nhân dân. Từ đó
sẽ phát huy được tác dụng trong huy động nguồn lực, sáng kiến và trí tuệ của
dân để phát triển. Điều quan trọng là các cơ quan thi hành luật cần phân biệt
rõ việc đầu tư, tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh là của người đầu tư,
của doanh nghiệp. Như vậy mới bảo đảm tính đồng bộ giữa quyền tự do, tự
chủ kinh doanh và hệ thống pháp luật, hạn chế những vướng mắc, rào cản đối
với doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh. Đó cũng là tiếp tục khơi dậy nhiệt
huyết lập doanh nghiệp, tích cực sản xuất kinh doanh của mọi tầng lớp nhân
dân, thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, là động lực khởi nguồn thúc đẩy sự
phát triển đất nước.
2. Những bất cập còn tồn tại
2.1 Thủ tục gia nhập thị trường của các doanh nghiệp hoạt động theo
Luật Doanh nghiệp ở nước ta vẫn còn phức tạp và tốn kém
10
Nguyên nhân chủ yếu là do sự phối hợp chưa hiệu quả của các cơ quan
chức năng. Điển hình là những vướng mắc xung quanh con dấu thành lập
doanh nghiệp.
Ông Vũ Duy Thái - Chủ tịch Hiệp hội Công thương Hà Nội, nêu: "Một
trong những bất cập mà doanh nghiệp lâu nay gặp phải là để hoàn thành thủ
tục thành lập doanh nghiệp thông thường phải mất khoảng 50 ngày, trải qua
11 thủ tục với chi phí bằng 50% thu nhập bình quân đầu người, trong đó ba
thủ tục kéo dài thời gian nhất là cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (15

những mục tiêu của việc ban hành Luật Doanh nghiệp thống nhất là để áp
dụng chung cho cả đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài, áp dụng cho cả các
công ty Nhà nước. Theo tinh thần của dự thảo Luật Doanh nghiệp thống nhất,
4 loại hình doanh nghiệp bao gồm: công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty
hợp doanh và doanh nghiệp tư nhân (4 loại hình doanh nghiệp đặc trưng của
nền kinh tế thị trường) sẽ là đối tượng áp dụng của luật. Có điều, các DNNN
hiện nay vẫn chưa phải là công ty TNHH hay công ty cổ phần như qui định
của dự thảo Luật Doanh nghiệp thống nhất nên chưa thuộc đối tượng áp dụng
của luật này. Để DNNN trở thành đối tượng điều chỉnh của Luật Doanh
nghiệp thống nhất cần phải chuyển đổi thành các công ty TNHH hay công ty
cổ phần theo đúng nghĩa của nó. Xung quanh chuyện chuyển đổi các DNNN
cho phù hợp với Luật Doanh nghiệp thống nhất cũng có không ít thách thức
đặt ra.
Với cơ chế hiện hành, các DNNN chưa thể hoạt động như là một công
ty thực thụ. Các công ty Nhà nước chuyển sang công ty TNHH một thành
viên hay công ty cổ phần hiện nay đa số Nhà nước vẫn giữ 50% cổ phần chi
phối nên vẫn phải chịu sự chủ quản của nhiều Bộ, ngành từ chiến lược kinh
doanh đến vốn, vấn đề đầu tư, nhân sự, họ chưa thể tự quyết định và tự chịu
trách nhiệm.
12
Đặc điểm của công ty TNHH, công ty cổ phần là phải hội đủ 4 yếu tố:
Trách nhiệm hữu hạn của nhà đầu tư; là pháp nhân độc lập; khả năng chuyển
nhượng được của cổ phần hoặc phần góp vốn; quản lý tập trung và thống
nhất. Trên thực tế, công ty Nhà nước mới chỉ hội tụ được 2 yếu tố 1 và 2. ở
khía cạnh quản lý, công ty Nhà nước chưa được quản lý tập trung và thống
nhất vì vướng mắc ở khâu tổ chức và cơ chế thực hiện quyền sở hữu để ra
quyết định. Tại công ty TNHH hay cổ phần, các quyết định cơ bản, quan
trọng nhất (vốn, đầu tư, chiến lược, nhân sự ) thuộc về chủ sở hữu và được
thông qua bởi đại hội cổ đông. Đối với công ty Nhà nước dưới chế độ chủ
quản, cũng những vấn đề quan trọng tương tự nhưng mỗi cơ quan (Chính phủ,

HĐQT). Mặt khác, điều khoản này chồng chéo thậm chí mâu thuẫn với Điều
108.2.g của Luật Doanh nghiệp.
Điều 108.2.g, Luật Doanh nghiệp quy định HĐQT có quyền: “Quyết
định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ; thông qua hợp
đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn
50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty
hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty, trừ hợp đồng và
giao dịch quy định tại khoản 1 và khoản 3, Điều 120 của Luật này”;
Như vậy, Điều 108.2.g đã quy định "hợp đồng và giao dịch quy định tại
khoản 1" của Điều 120 không thuộc thẩm quyền của HĐQT. Đây là một quy
định mang tính loại trừ.
Nhưng Khoản 1, Điều 120 lại quy định các hợp đồng, giao dịch đó phải
được HĐQT hoặc ĐHĐCĐ chấp thuận. Đây chính là sự mâu thuẫn và trong
trường hợp này các doanh nghiệp không biết phải áp dụng theo quy định nào
để phù hợp với pháp luật
14
• Quy định không rõ ràng về thủ tục gửi tài liệu cho các cổ đông trước khi
tiến hành họp ĐHĐCĐ
Khoản 2, Điều 100 Luật Doanh nghiệp quy định: “Kèm theo thông báo
mời họp phải có mẫu chỉ định đại diện theo uỷ quyền dự họp, chương trình
họp, phiếu biểu quyết, các tài liệu thảo luận làm cơ sở thông qua quyết định
và dự thảo nghị quyết đối với từng vấn đề trong chương trình họp. Nếu công
ty có trang thông tin điện tử thì thông báo mời họp và các tài liệu gửi kèm
theo phải được công bố trên trang thông tin điện tử đó đồng thời với việc gửi
thông báo cho các cổ đông".
Quy định trên được hiểu là trong trường hợp công ty có trang thông tin
điện tử thì phải có trách nhiệm công bố thông báo mời họp và các tài liệu gửi
kèm theo trên trang thông tin điện tử đó.
Tuy nhiên, quy định “đồng thời với việc gửi thông báo cho các cổ
đông”gây ra nhiều cách hiểu khác nhau, theo đó, việc đồng thời gửi thông báo

có thêm bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của Giám đốc (Tổng Giám đốc)
và các chức danh quản lý doanh nghiệp quy định tại Khoản 13, Điều 4, Luật
Doanh nghiệp”.
Theo quy định trên, có thể hiểu rằng doanh nghiệp phải nộp chứng chỉ
của cả hai chủ thể là Giám đốc (Tổng giám đốc) và các chức danh quản lý
khác trong doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong thực tế doanh nghiệp chỉ cần nộp chứng chỉ của Giám
đốc (Tổng giámđốc), còn các chức danh quản lý khác trong công ty không
cần phải có chứng chỉ này.
16
Ngoài ra, đối với doanh nghiệp kinh doanh nhiều ngành nghề kinh
doanh có điều kiện thì một yêu cầu đặt ra là Giám đốc (Tổng giám đốc) phải
có đầy đủ các chứng chỉ đó.
Trong khi đó, Điều 57, Luật Doanh nghiệp quy định Giám đốc hoặc
Tổng giám đốc là người: “có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tế trong
quản trị kinh doanh hoặc trong các ngành, nghề kinh doanh chủ yếu của công
ty”. Theo quy định này, Giám đốc
(Tổng giám đốc) không bắt buộc phải có đầy đủ các chứng chỉ hành
nghề của các ngành nghề mà công ty kinh doanh. Như vậy, bản thân các điều
khoản này đã thể hiện sự mâu thuẫn với nhau.
Mặt khác, quy định tại Điều 25.1, Nghị định số 88/2006/NĐ-CP không
phù hợp với tinh thần của Luật doanh nghiệp: “Doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế có quyền kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật không cấm”
(Điều 7.1, Luật Doanh nghiệp) bởi vì thực tế, Giám đốc (Tổng giám đốc)
không nhất thiết phải là người nắm vững các kiến thức chuyên ngành, mà yếu
tố cốt lõi là họ có năng lực quản lý, biết cách sử dụng đúng người đúng việc
theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, quy định trên đã hạn chế quyền được
kinh doanh nói chung cũng như việc bổ sung thay đổi ngành nghề kinh doanh
của toàn doanh nghiệp. Do vậy, để đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp
của doanh nghiệp, đề nghị sửa quy định tại Điều 25.1, Nghị định số

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Văn bản pháp luật
18
1. Luật doanh nghiệp năm 1999
2. Luật doanh nghiệp năm 2005
3. Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003
4. Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 về đăng ký kinh doanh
II. Các tài liệu chuyên khảo
5. Giáo trình Luật thương mại – Trường đại học Luật Hà Nội xuất bản năm
2007
III. Các trang Web
6. vietlaw.org.vn
7. dangkykinhdoanh.net
8. issi.gov.vn
9. kinhdoanh.com.vn
10. dangcongsan.vn
11. bussine.gov.vn
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status