Tìm hiểu về cơ chế điều hành và quản lí lãi xuất của Việt Nam hiện nay
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU..............................................................................................................2
SƠ LƯỢC VỀ NỘI DUNG.........................................................................................5
Lãi suất..........................................................................................................................................................8
b.Các yếu tố cấu thành lãi suất cho vay......................................................................................................16
KẾT LUẬN ...............................................................................................................35
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................36
Nhóm 1 – Tiền tệ Ngân hàng TCH303.3 Page 1
Tìm hiểu về cơ chế điều hành và quản lí lãi xuất của Việt Nam hiện nay
LỜI NÓI ĐẦU
Lãi suất là một trong những biến số được theo dõi một cách chặt chẽ nhất
trong nền kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường. Diễn biến của nó được
đưa tin hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng. Sự dao động của lãi
suất ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định của Chính phủ, cá nhân, doanh nghiệp,
ngân hành cũng như hoạt động của các tổ chức tín dụng và toàn bộ nền kinh tế.
Việt Nam trong hơn 10 năm đổi mới. Những chính sách lãi suất ngân hàng
nhà nước (NHNN) sử dụng đã có tác động mạnh mẽ tới việc huy động vốn và hoạt
động sản xuất kinh doanh của các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp. Để
tăng hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại và thúc đẩy sự phát
triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế đòi hỏi NHNN phải tiếp tục đổi mới
hơn nữa cơ chế điều hành lãi suất.
. Trong cơ chế thị trường, cùng với các nỗ lực kiềm chế lạm phát như cắt
giảm chi tiêu và đầu tư, đẩy mạnh phong trào tiết kiệm... các động thái điều chỉnh
của Ngân hàng Nhà nước với thị trường tiền tệ thông qua công cụ lãi suất rất đáng
chú ý. Đặc biệt, cơ chế quản lý, điều hành lãi suất ở việt nam hiện nay đang được
Đảng,Nhà nước, ngân hàng các doanh nghiệp và các cá nhân quan tâm hàng đầu.
Qua tìm hiểu về thực tiễn quá trình điều hành lãi suất, những vấn đề thời
sự nóng hổi cùng cơ sở những kiến thức đã học về lãi suất, nhóm sinh viên Tài
Chính chúng em quyết định thực hiện và trình bày về đề tài "Tìm hiểu về cơ chế
quản lý, điều hành lãi suất ở Việt Nam hiện nay". Do được thực hiện trong thời
Nam áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản. Từ ngày 26/2/2010, NHNN đã ban
hành Thông tư số 07, chính thức quy định về việc cho phép các tổ chức tín dụng
Nhóm 1 – Tiền tệ Ngân hàng TCH303.3 Page 5
Tìm hiểu về cơ chế điều hành và quản lí lãi xuất của Việt Nam hiện nay
cho khách hàng vay VND theo lãi suất thỏa thuận, theo đó, các tổ chức tín dụng
được cho vay VND theo lãi suất thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật về
cho vay, trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường và mức độ tín nhiệm của khách hàng
vay. Điểm mới của Thông tư này là từ nay, các NHTM có thể thỏa thuận với khách
hàng để cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất trần và nới rộng thời gian cho vay.
Tiếp đó, ngày 9/4, Ngân hàng Nhà nước có Công văn số 2651/NHNN-CSTT yêu
cầu các ngân hàng thương mại cung cấp mức lãi suất cho vay thỏa thuận bằng
VND. Hầu hết các ngân hàng thương mại sẽ áp lãi suất cho vay VND theo cơ chế
thỏa thuận tối đa dưới 15%/năm, cá biệt có trường hợp là18%/năm. Đối với lãi suất
huy động, NHNN chủ trương tạo trần lãi suất huy động dựa theo lãi suất cơ bản.
Ngày 5/11/2010 NHNH đã ra quyết định mới về tăng lãi suất cơ bản, tạo ta khung
pháp lý giúp các ngân hàng hoạch định được lãi suất huy động theo khuôn khổ
pháp lí. Đối với 1 số lãi suất khác, bắt đầu từ ngày 05/11, lãi suất cơ bản bằng đồng
Việt Nam là 9%/năm và mức trần lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam từ
11%/năm hiện hành là 12%/năm từ ngày 8/11/2010. Cũng trong ngày 05/11/2010,
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng ban hành Quyết định về lãi suất tái cấp vốn
(9%/năm), lãi suất tái chiết khấu (7%/năm), lãi suất cho vay qua đêm trong thanh
toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng áp dụng từ ngày 5/11/2010.
Nhóm 1 – Tiền tệ Ngân hàng TCH303.3 Page 6
Tìm hiểu về cơ chế điều hành và quản lí lãi xuất của Việt Nam hiện nay
Tuy nhiên, khi nhìn nhận các cơ chế quản lí và điều hành lãi suất ở Việt Nam
một cách khách quan thì trên thực tế các cơ chế này vẫn còn để lộ ra những hạn
chế chưa khắc phục được bên cạnh những ưu điểm nó mang lại. Trong khuôn khổ
bài tiểu luận, nhóm chúng em cũng xin mạnh dạn đưa ra 1 vài giải pháp để nâng
cao hiệu quả quản lí và điều hành lãi suất ở Việt Nam. Thứ nhất, chúng ta cần tiếp
NHTW mỗi nước.
1.2 Các loại lãi suất tín dụng
a. Căn cứ vào nghiệp vụ ngân hàng
- Lãi suất huy động: là loại lãi suất quy định tỷ lệ lãi phải trả cho các hình
thức nhận tiền gửi của khách hàng.
- Lãi suất cho vay: là loại lãi suất quy định một tỷ lệ mà người đi vay phải
trả cho ngân hàng. Các mức lãi suất cho vay khác nhau được căn cứ vào tỷ suất lợi
nhuận của đối tượng và thời hạn cho vay. Tuy nhiên với ý nghĩa là một công cụ
Nhóm 1 – Tiền tệ Ngân hàng TCH303.3 Page 8
Tìm hiểu về cơ chế điều hành và quản lí lãi xuất của Việt Nam hiện nay
điều tiết vĩ mô nền kinh tế thì nó còn tùy thuộc vào mục tiêu chính trị xã hội của
mỗi quốc gia trong từng thời kì.
=> lãi suất cho vay = lãi suất huy động + chi phí tối thiểu + lợi nhuận kỳ vọng
- Lãi suất chiết khấu là lãi suất áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay
nợ dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc giấy tờ có giá khác chưa đến hạn
thanh toán của khách hàng.
- Lãi suất tái chiết khấu:là hình thức tái cấp vốn được áp dụng khi ngân hàng
nhà nước tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác cho các tổ
chức tín dụng.
- Lãi suất liên ngân hàng: là mức lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân
hàng, nơi các ngân hàng thực hiện việc cho vay và cho vay lẫn nhau, nó chỉ chính
xác hơn về chi phí vốn vay của ngân hàng và cung cấp vốn trên thị trường.
- Lãi suất cơ bản là lãi suất được các ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ấn
định mức lãi suất kinh doanh của mình.
b. Căn cứ vào giá trị của tiền lãi
- Lãi suất danh nghĩa là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ tức là
lãi suất chưa trừ đi tỷ lệ lạm phát.
- Lãi suất thực là lãi suất được điều chỉnh cho đúng theo sức mua của tiền tệ,
do đó nó phản ánh chính xác hơn chi phí thật của việc vay tiền. Theo Fisher, lãi
suất danh nghĩa (i) bằng lãi suất thực (r) cộng với mức lạm phát dự tính:
Nhóm 1 – Tiền tệ Ngân hàng TCH303.3 Page 10
Tìm hiểu về cơ chế điều hành và quản lí lãi xuất của Việt Nam hiện nay
và tỷ trọng các loại vốn đầu tư, do vậy mà có thể tác động đến quá trình điều chỉnh
cơ cấu, đến tốc độ tăng trưởng, sản lượng, tỷ lệ thất nghiệp và tình trạng lạm phát
trong nước.
Lãi suất còn là công cụ để kiềm chế lạm phát rất hữu hiệu thông qua chính
sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Trong trường hợp nền kinh tế có lạm phát,
ngân hàng trung ương sẽ sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất để thu
hút tiền nhàn rỗi trong lưu thông về, nhằm điều hòa lượng tiền trong lưu thông, cân
đối với khối lượng hàng hóa.
- Hơn thế nữa trong nhưng điều kiện nhất định của nền kinh tế mở, chính
sách lãi suất còn được sử dụng như lầ một công cụ góp phần điều tiết đối với các
luồng vốn đi vào hay đi ra đối với một nước, tác động đến tỷ giá và điều tiết sự ổn
định của tỷ giá. Điều này không những tác động trực tiếp đến đầu tư phát triển kinh
tế mà còn tác động đến cán cân thanh toán và các quan hệ thương mại quốc tế của
nước đó đối với nước ngoài.
2. Các nhân tố tác động đến lãi suất
2.1. Sự thay đổi của tổng cầu (viết tắt là GNP)
Khi tổng cầu tăng lên, thì nền kinh tế đòi hỏi phải tăng khối lượng tiền cung
ứng. Trong điều kiện: khối lượng tiền cung ứng (M1 hoặc M2) không thay đổi tức
không có in tiền (nếu tốc độ lưu thông tiền tệ không thay đổi), lúc này cung vốn
đầu tư nhỏ hơn cầu vốn đầu tư sẽ làm cho lãi suất tăng. Và ngược lại Khi tổng cầu
giảm, nếu nhà nuớc chưa kịp có chính sách kích cầu thì trên thị thường tiền tệ cung
tiền sẽ lớn hơn cầu tiền (cung vốn đầu tư lớn hơn cầu vốn đầu tư) sẽ làm cho lãi
suất giảm.
Nhóm 1 – Tiền tệ Ngân hàng TCH303.3 Page 11
Tìm hiểu về cơ chế điều hành và quản lí lãi xuất của Việt Nam hiện nay
2.2. Sự chi tiêu của Chính phủ
Trên thực tế, khi cung cầu tiền tệ trên trị trường đang ổn định, vì mục tiêu
đặt ra Chính phủ tăng hoặc giảm chỉ tiêu đột ngột sẽ làm cầu đầu tư trên thị trường
động tiêu cực.
- Đối với hoạt động vay cầm cố, khi lãi suất tăng người ta sẽ giảm nhu cầu
vay để xây hay mua nhà, do đó đầu tư xây nhà giảm, ảnh hưởng tiêu cực tới tổng
cầu. Nó còn khiến cho việc trả nợ các khoản vay cầm cố hiện thời trở nên khó khăn
hơn khiến người đi vay phải giảm tiêu dùng để còn trả nợ. Tổng cầu vì thế chịu tác
động tiêu cực.
Do đó tăng lãi suất có thể giúp nhà nước kiềm chế lạm phát trong ngắn hạn
và có tác dụng gần như tức thời.
3.2 Thông qua tỷ giá hối đoái
- Lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất ở nước ngoài sẽ khiến
cho dòng vốn từ nước ngoài tăng cường chảy vào trong nước. Điều này làm cho tỷ
giá hối đoái giữa nội tệ với ngoại tệ giảm xuống. Xuất khẩu ròng vì thế giảm đi,
khiến cho tổng cầu giảm theo. Và ngược lại khi lãi suất trong nước giảm tương đối
sẽ làm cho tỷ giá hối đoái giữa nội tệ với ngoại tệ tăng lên, điều đó có lợi cho xuất
khẩu.
__________&&&&&&__________
Nhóm 1 – Tiền tệ Ngân hàng TCH303.3 Page 13
Tìm hiểu về cơ chế điều hành và quản lí lãi xuất của Việt Nam hiện nay
PHẦN II:
Cơ chế quản lý và điều hành lãi suất hiện nay ở VN
Trong quá trình hội nhập quốc tế, chúng ta từng bước nới lỏng các rào cản mang tính hành
chính để trả về cho nền kinh tế vận hành theo đúng các quy luật vốn có của nó. Và một trong
những lĩnh vực thể hiện rõ cơ chế này là chính sách điều hành lãi suất huy động vốn và cho vay
của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
I/ Bối cảnh áp dụng các cơ chế lãi suất hiện nay
Trước sự vận động bất lợi của thị trường kinh tế thế giới cũng như thị trường
kinh tế trong nước được thể hiện thông qua mạch máu là thị trường chứng khoán
cộng với tình trạng lạm phát tăng cao ngay từ đầu năm 2008, nền kinh tế nước ta
đã phải chứng kiến sự biến động mạnh của lãi suất. Tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB), lãi suất huy động điều chỉnh 3 lần chỉ trong vòng