LỜI NÓI ĐẦU
Những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước, đặc
biệt là chính sách đổi mới về đối ngoại và kinh tế đối ngoại cùng với xu hướng toàn
cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng nhanh ở hầu hết các quốc gia trên thế
giới, ngành du lịch Việt Nam nói chung và ngành du lịch của Ninh Bình nói riêng
cũng có những bước tiến nhất định và ngày càng có tác động tích cực hơn đến nhiều
lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội đất nước. Du lịch được xác định “ là một
ngành kinh tế mũi nhọn” trong các ngành kinh tế quốc dân và đang hội nhập với
trào lưu phát triển du lịch của khu vực và thế giới. Khách du lịch đến Việt Nam đặc
biệt là Ninh Bình đang ngày một tăng. Phát triển du lịch của Ninh Bình là phù hợp
với xu thế của thời đại, phù hợp với chiến lược phát triển du lịch của Việt Nam đặc
biệt là chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Với vị trí địa lý và tiềm năng tài nguyên du lịch phong phú, những chính sách phù
hợp, thời gian qua du lịch Ninh Bình đã có bước phát triển đáng ghi nhận, đóng góp
tích cực vào sự nghiệp phát triển du lịch của cả nước. Tuy nhiên trong quá trình
phát triển, nhiều tiềm năng du lịch chưa được khai thác hiệu quả, sự phát triển du
lịch Ninh Bình chưa tương xứng với tiềm năng và vị trí của mình. Cơ sở hạ tầng,
vật chất kĩ thuật của Tỉnh mặc dù đã được cải thiện rất nhiều trong những năm gần
đây nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, chất lượng phục vụ còn thấp,
sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, chưa phong phú. Đầu tư phát triển du lịch trên địa
bàn Tỉnh còn dàn trải và thiếu tập trung, khả năng thu hút vốn từ các nhà đầu tư
không được cao.
Chính vì thế trong thời gian đi thực tập vừa qua, em đã nghiên cứu và viết báo cáo
thực tập, tên đề tài là:
“Đầu tư phát triển ngành du lịch tỉnh Ninh Bình. Thực trạng và giải pháp.”
Nội dung bài viết gồm 3 phần chính:
Phần một: Tổng quan về tỉnh Ninh Bình và các khu du lịch trong tỉnh
Phần hai: Thực trạng đầu tư phát triển du lịch trong những năm qua
Về các hệ động thực vật, nơi lưu giữ được thảm thực vật và động vật rừng có giá trị
nhất tại Ninh Bình là Vườn quốc gia Cúc Phương. Rừng Cúc Phương là loại rừng
mưa nhiệt đới điển hình với cấu trúc thảm thực vật nhiều tầng và phong phú về
thành phần loài. Gần đây Ninh Bình đã thành lập khu bảo tồn đất ngập nước Vân
Long là khu bảo tồn sinh cảnh đặc trưng cho hệ sinh thái núi đá ngập nước.
Ninh Bình có tổng diện tích đất tự nhiên là 138. 420 ha, trong đó đất cho sản xuất
nông nghiệp là 67.605 ha ( chiếm 48,87% diện tích tự nhiên), đất lâm nghiệp là
19.972 ha ( chiếm 14,4% diện tích tự nhiên), đất chuyên dùng 16.769 ha ( chiếm
12,1% diện tích tự nhiên), đất khu dân cư 5.068 ha ( chiếm 0,37% diện tích tự
nhiên) và đất chưa sử dụng 28.961 ha ( chiếm 21% diện tích tự nhiên). Hiện nay,
diện tích đất chưa sử dụng có khả năng đưa vào khai thác cho các hoạt động kinh tế
là 16.497 ha.
Dân số của Ninh Bình là 936.262 người trong đó số dân trong độ tuổi lao động xấp
xỉ 60%, mật độ dân số 659 người/ km
2
. Dân tộc ngoài dân tộc Kinh và dân tộc
Mường chiếm 1,7% dân số thì các dân tộc khác như Tày, Nùng, Thái, Hoa,
H’Mông, Dao…mỗi dân tộc có từ trên một chục đến hơn một trăm người. Dân tộc
Mường đã định cư khá lâu đời ở các xã thuộc miền núi cao như Nho Quan, Tam
Điệp, còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa truyền thống hấp dẫn du lịch. Các dân
tộc khác sống rải rác ở các địa phương trong tỉnh, không hình thành cộng đồng dân
tộc nhất định, đa số có quan hệ hôn nhân và chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong tục
tập quán sinh hoạt, sản xuất, truyền thống văn hóa của người Kinh.
Trong những năm qua, Ninh Bình đã thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế- xã
hội mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và XIV đề ra với kết quả năm
sau cao hơn năm trước. Kinh tế phát triển, cơ sở hạ tầng được tăng cường, văn hoá -
xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân ổn định và được cải thiện. Tốc độ tăng
trưởng kinh tế hàng năm đạt cao; tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn từ năm 1996-
2000 đạt bình quân: 8,12%/ năm; từ năm 2001-2005 bình quân đạt 11,9%/năm; năm
2006 đạt 12,6%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng công
sinh chứa nhiều bí ẩn và cảnh quan độc đáo. Tại đây có nhiều chứng tích văn hóa
lâu đời như động Trăng Khuyết, động Chúa, động Thủy Tiên, động Người Xưa,
hang Con Moong, động San Hô.
Trong vườn có suối nước nóng, hệ động thực vật phong phú, đặc biệt có những cây
chò xanh, cây sấu cổ thụ trên dưới 1000 tuổi và những loài thú quí, lạ. Hiện nay,
vườn quốc gia Cúc Phương đã trở thành môt trung tâm cung cấp các lòai thực vật
quí hiếm, có giá trị kinh tế cao phục vụ cho chương trình trồng rừng trong khu vực
và trên cả nước.
♦ Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long
Là khu bảo tồn sinh cảnh đặc trưng cho hệ sinh thái núi đá ngập nước có diện tích
lớn nhất ở đồng bằng sông Hồng. Đây cũng là nơi khoanh vùng bảo vệ loài Vọoc
quần đùi trắng – là loài linh trưởng quí hiếm đã ghi trong Sách đỏ thế giới. Rừng
Vân Long có 8 loài thực vật, 9 loài động vật được ghi trong Sách đỏ Việt Nam .
Khu Vân Long có 32 hang động đẹp, nhiều hang động có giá trị. Nước ở đây mênh
mông phẳng lặng, không có gió to sóng lớn, mang phong cảnh một miền quê êm ả -
một Vịnh Hạ Long không song. Đây chính là một nơi du lịch sinh thái rất tốt, là
hiện trường nghiên cứu, học tập cho các nhà khoa học, sinh viên khi muốn nghiên
cứu về vùng đất ngập nước nội đồng của Việt Nam .
♦ Quần thể hang động Tràng An
Nằm ở thôn Tràng An, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, với những dải đá vôi, các
thung lũng và những dòng sông ngòi đan xen với nhau tạo nên một không gian
huyền ảo và thơ mộng. Du khách đến bến thuyền sông Sào Khê, từ đây những chiếc
thuyền nan lướt nhẹ trên mặt nước qua Xuyên Thủy Động vào đến quần thể hang
động Tràng An. Hai bên dòng sông là những phong cảnh hữu tình mà thiên nhiên đã
ban tặng nơi đây.
♦ Tam Cốc
Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động là một quần thể du lịch, một địa danh nổi tiếng
từ xa xưa, thuộc địa phận huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình; cách thủ đô Hà Nội 100
km về phía Nam. Nơi đây vẫn giữ được nét nguyên sơ, thiên tạo, với nhiều hang
động, di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng trong và ngoài nước như: đền Thái Vi, Tam
♦ Đèo Tam Điệp
Đèo Tam Điệp còn có tên là đèo Ba Dội, thuộc thị xã Tam Điệp, cách thành phố
Ninh Bình 18km về phía Nam . Nơi đây có 3 dãy núi đá vôi chạy suốt từ Hòa Bình
về, ăn ra biển Đông theo hướng Tây Bắc – Đông Nam . Điều độc đáo là Đèo Tam
Điệp có đất đỏ. Từ đây du khách có thể quan sát cả một vùng rộng lớn. Toàn cảnh
đèo là những dãy núi hung vĩ, hiểm trở, quanh co như những con rồng uốn khúc,
đan xen là những thung lũng rộng và nhiều dòng suối trong xanh uốn lượn. Ngoài ra
Đèo Tam Điệp còn là một phòng tuyến lợi hại , có vị trí chiến lược trong quân sự,
như bức tường thành thiên nhiên án ngữ con đường Bắc Nam
♦ Suối nước nóng Kênh Gà
Suối nước nóng mặn Kênh Gà thuộc huyện Gia Viễn. Dòng nước từ trong núi chảy
ra, trong vắt, chưa bao giờ ngừng. Năm 1940 người Pháp biết tới, bắt đầu nghiên
cứu và đi vào khai thác. Nước khoáng Kênh Gà có chứa nhiều muối Natriclorua,
Kaliclorua, nước không màu, trong, nhiệt độ ổn định quanh năm 53
0
C. Nước
khoáng Kênh Gà dùng để tắm hay ngâm mình nhiều lần sẽ khỏi các bệnh như khớp
mãn tính, viêm dây thần kinh, các bệnh ngoài da và phụ khoa. Nước khoáng Kênh
Gà uống vào có tác dụng kích thích hoạt động của gan, mật, chữa bệnh bướu cổ và
dùng để bào chế huyết thanh tiêm tĩnh mạch.
♦ Động Vân Trình
Động rộng gần 3500m
2
, là một động lớn nhất và đẹp nhất tỉnh Ninh Bình, sánh
ngang với động Thiên Cung ở vịnh Hạ Long ( Quảng Ninh). Động nằm trong núi
Mõ, tên chữ thời xưa là núi Thổ Tích, thuộc huyện Nho Quan. Động Vân Trình gồm
2 hang liền nhau, so le một cao một thấp là Hang Cả và Hang Hai. Trong cả hai
hang đều có những nhũ đá đẹp như những “ vách gấm”, nhiều khối nhũ đá từ trên
nóc động chảy xuống, có khối chạm đến nền hang, như những nhánh rễ cây đa cổ
thụ to lớn thả xuống mặt đất. Động Vân Trình còn giữ được nét đẹp trinh nguyên,
khuôn viên rộng nhất. Khu núi chùa Bái Đính mới gồm có điện Tam Thế, chùa
Pháp Chủ, cổng Tam Quan, chùa Quan Âm, La Hán Đường, Tháp Chuông, khu hồ
phóng sinh,…♦ Hệ sinh thái ven biển Kim Sơn
Với 18km đường bờ biển nơi có cửa sông đổ ra với sự hình thành 2 cồn nổi ( Cồn
Thoi và Hòn Nẹ), thảm thực vật ngập mặn đã hình thành nơi cư trú của nhiều loài
sinh vật, đặc biệt là một số loài chim di cư quí hiếm như Cò Thìa,…
2. Tài nguyên du lịch nhân văn
2.1. Các di tích lịch sử - văn hóa
♦ Cố đô Hoa Lư
Cố đô Hoa Lư là kinh đô đầu tiên của nền phong kiến tập quyền ở nước ta, thuộc
huyện Hoa Lư, nằm trên một diện tích khoảng 400ha.
Ngàn năm trước, Hoa Lư là đế đô nguy nga với núi đồi trùng điệp xung quanh kinh
đô như tấm bình phong, sông Hoàng Long và cánh đồng Nho Quan, Gia Viễn mênh
mông là hào sâu thiên nhiên rất thuận lợi về mặt quân sự. Khu thành Hoa Lư có qui
mô rộng lớn, có nhiều tuyến liên hoàn. Thành gồm hai khu, khu trong và khu ngoài,
thông với nhau bằng một lối đi nhỏ hẹp và hiểm trở. Mỗi khu gồm nhiều vòng,
nhiều tuyến nhỏ.
♦ Đền vua Đinh
Đến thờ vua Đinh Tiên Hoàng, hiện ở xã Trường Yên, huyện Hoa Lư. Đền quay
hướng Đông, trên khuôn viên rộng khoảng 5 mẫu, được xây dựng vào khoảng thế kỉ
17, lấy núi Mã Yên làm án. Đền vua Đinh Tiên Hoàng kiến trúc theo kiểu "nội công
ngoại quốc", đường đi trong đền theo hình chữ "vương". Các công trình kiến trúc
đối xứng nhau theo đường chính đạo, tên gọi phỏng theo tên gọi của cung điện ngày
xưa.
♦ Đền vua Lê
Đền thờ vua Lê Đại Hành, hiện ở làng Trường Yên Hạ, xã Trường Yên, huyện Hoa
Lư, cách đền vua Đinh chừng 300m về phía Bắc, cũng xây dựng trên nền cung điện
♦ Lễ hội đền Địch Lộng: Được tổ chức vào ngày mùng 6,7 tháng 3 âm lịch, tại chùa
Địch Lộng thuộc xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn.
♦ Lễ hội chùa Bái Đính: Được tổ chức vào mùng 6 tháng giêng âm lịch hàng năm
tại thôn Sinh Dược, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn
♦ Lễ hội Báo bản Nộn Khê: Được tổ chức vào ngày 14 tháng giêng âm lịch hàng
năm, tại làng Nộn Khê, xã Yên Từ, huyện Yên Mô.
♦ Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ: Tổ chức ngày 13-15 tháng 11 âm lịch hàng năm,
tại xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn. Ngày 13 tế yết cáo, ngày 14 tế chính kị, ngày
15 tế tạ.
2.3. Các làng nghề truyền thống
♦ Thêu ren Ninh Hải: Nghề thêu ren ở đây đã có trên 700 năm. Tương truyền năm
1285 bà Trần Thị Dung là vợ Thái sư Trần Thủ Độ đã theo triều đình nhà Trần về
đây và truyền dạy cho nhân dân thôn Văn Lâm nghề thêu ren. Đường nét thêu ren
rất tinh xảo nhưng sống động. Sản phẩm thêu ren rất phong phú: ga trải giường, rèm
cửa, gối, khăn bàn, tranh, ảnh,…
♦ Mỹ nghệ cói Kim Sơn: Cây cói xuất hiện ở Kim Sơn mới gần 2 thế kỉ nhưng
chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế của người dân nơi đây. Người
dân Kim Sơn dùng cây cói làm nhiều sản phẩm như: chiếu, thảm, làn, khay, hộp,
cốc, mũ,…đặc biệt là nghề dệt chiếu
♦ Chạm khắc đá Ninh Vân: Đây là làng nghề cổ truyền được cả nước biết đến. Sản
phẩm bao gồm nhiều loại, như tượng, chim, thú, bể cảnh, bia, thống, chậu hoa, xà
nhà,…Ngoài ra còn có các mặt hàng thủ công mĩ nghệ và những đồ vật bằng đá
như: bộ ấm trà, gạt tàn thuốc lá, khóm trúc, bé cưỡi trâu, tranh ảnh.
2.4. Ẩm thực
Bên cạnh những món ăn của vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ, ẩm thực Ninh Bình
có đặc trưng riêng. Đó là: Tái dê Ninh Bình, Nhất hưởng thiên kim (cơm cháy),
Nem Yên Mạc ( Yên Mô), Rượu Lai Thành, Mắm tép Gia Viễn, Rượu cần Nho
Quan
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG
NHỮNG NĂM QUA
I.Thực trạng đầu tư vào ngành du lịch của tỉnh
1. Thực trạng cơ sở hạ tầng phục vụ cho ngành du lịch của tỉnh
1.1. Hệ thống giao thông
Mạng lưới giao thông trên địa bàn tỉnh những năm gần đây đã được xây dựng tương
đối hợp lí, rộng khắp toàn tỉnh ô tô đi được tới tất cả các xã trong tỉnh, việc đi lại
thuận tiện, nhanh chóng. Toàn tỉnh hiện có 2.278,2km đường bộ và 496 km đường
sông với các tuyến quan trọng nối liền thị xã với các huyện thị và tỏa đi các xã. Các
tuyến đường từ tỉnh xuống huyện được nâng cấp rải nhựa. Mạng lưới giao thông
của Tỉnh được phân bố tương đối đều: đường sắt, đường bộ, đường thủy.
٭Đường bộ: bao gồm hệ thống đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện, liên huyện,
đường xã và liên xã với tổng chiều dài 2.278,2 km. Ngoài quốc lộ 1A , trên địa bàn
tỉnh Ninh Bình còn có các tuyến quốc lộ chạy qua như 10, 12B, 45, trong đó:
Đường quốc lộ: có 110,5 km
Đường tỉnh lộ: có 261,5 km
Đường huyện lộ: có 194,92 km
Đường xã, liên xã: có tổng chiều dài 911,5 km
Hiện nay mạng lưới giao thông đang được cải thiện ngày một tốt hơn. Tuy nhiên hệ
thống giao thông vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Hệ
thống các đường nội thị vẫn còn yếu kém, nhiều tuyến đường cần được cải tạo và
mở rộng. Đặc biệt cần nâng cấp, cải tạo toàn tuyến 1A trên địa bàn tỉnh nhất là đoạn
đi qua thành phố Ninh Bình. Đây chính là tuyến đường chủ đạo trong giao lưu kinh
tế giữa Ninh Bình với các tỉnh phía Bắc cũng như phía Nam, đáp ứng nhu cầu vận
chuyển hàng hóa và hành khách qua Ninh Bình ngày càng lớn. Hệ thống giao thông
nông thôn, đường liên thôn liên xã đã được nâng cấp, rải nhựa, cải tạo và làm mới.
Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc khai thác thế mạnh của vùng, nhằm
phát triển kinh tế, nâng cao mức sống người dân đặc biệt là mở rộng giao lưu với
các địa phương trong tỉnh, phát triển các tour liên huyện.
dùng nước sạch trong toàn tỉnh là 26.000 hộ. Trữ lượng nguồn nước ngầm của tỉnh
Ninh Bình là tương đối lớn, việc khai thác nguồn nước ngầm tương đối thuận lợi.
Về chất lượng, nguồn nước này đảm bảo vệ sinh đủ tiêu chuẩn cần thiết để sử dụng
cho ăn uống và sinh hoạt.
Mạng lưới thoát nước thải sinh hoạt tại các đô thị của tỉnh sử dụng hệ thống thoát
chung ( cho cả nước mưa và nước thải sinh hoạt). Hệ thống thoát nước mưa bao
gồm các lọai ống tròn bê tông cốt thép, cống hộp và mương có nắp đan. Nhìn chung
các tuyến thoát nước đều hoạt động tốt nhưng do mật độ còn quá thấp chưa đáp ứng
được nhu cầu nên ảnh hưởng không ít đến môi trường đô thị. Các lọai nước thải hầu
không được xử lí đến giới hạn cho phép và thường được xả trực tiếp ra sông suối.
Nước thải công nghiệp từ các nhà máy xi măng, nhà máy phân lân chưa được xử lí
đến độ trước khi xả ra sông suối. Nước thải bệnh viện được xử lí riêng đơn giản và
xả vào hệ thống thóat nước chung, phần lớn là hơn giới hạn cho phép. Lượng thu
gom rác thải để xử lí còn nhỏ. Các loại rác thải được xử lí chung, chôn lấp tự do.
Chính vì thế, hiện nay UBND tỉnh đã phê duyệt dự án và đang triển khai thi công
xây dựng nhà máy xử lí rác thải với công suất 2200 tấn/ngày.
1.4. Hệ thống bưu chính viễn thông
Mạng lưới thông tin liên lạc đã phủ kín các vùng trong tỉnh với hệ thống tổng đài
điện tử hiện đại của bưu điện trung tâm tỉnh và bưu điện của 7 huyện thị xã, hệ
thống viễn thông vi ba, cáp quang Bắc – Nam chạy qua đảm bảo cho liên lạc nhanh
chóng thuận tiện giữa Ninh Bình và các địa phương, các vùng trong nước và liên lạc
quốc tế.
Hệ thống bưu cục: 32 trạm. Các tuyến, trạm truyền thông tin: 25 tuyến, trạm. Hiện
toàn tỉnh có khoảng 6,6 máy điện thoại/ 100 dân. Mạng điện thoại di động đã phủ
sóng gần hết lãnh thổ Ninh Bình. Đến cuối 2005 đã có 112 xã có điểm bưu điện văn
hóa xã ( đạt 82%).
1.5. Hệ thống dịch vụ tài chính, ngân hàng
Các cơ sở dịch vụ về tài chính, ngân hàng của Ninh Bình bao gồm hệ thống ngân
hàng nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh, hệ thống kho bạc từ tỉnh đến các
huyện, thị xã, công ty bảo hiểm, các quĩ tín dụng nhân dân… Hệ thống các cơ sở
tranh so với hầu hết các địa phương khác trong vùng.
Bảng 2.1. Cơ cấu cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, giai đoạn 2004-
2008
Đơn vị 2004 2005 2006 2007 2008
Cơ sở lưu trú Cơ sở 60 76 222 244 290
- Số lượng phòng Phòng 815 883 1277 1407 1680
- Số lượng giường Giường 937 1600 3300 3600 4100
Phân theo loại hình Cơ sở
- Khách sạn Cơ sở 28 38 47 57 67
- Nhà hàng, nhà nghỉ Cơ sở 20 30 36 38 48
Nguồn: Cục thống kê Ninh Bình
Trong năm 2008, cả tỉnh có 10 cơ sở lưu trú mới xây dựng. Trong đó có 1 khách sạn
1 sao, 1 khách sạn 2 sao với tổng số vốn là 50 tỷ đồng. So với nhu cầu thực tế, khả
năng đáp ứng về cơ sở lưu trú của Ninh Bình còn rất thiếu, nhất là các cơ sở lưu trú
cao cấp.
2. Vốn đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư
2.1. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng
Đầu tư vào cơ sở hạ tầng thường không mang lại những lợi ích kinh tế cụ thể hay
thời gian thu được lợi nhuận là rất dài, đồng thời đây là lĩnh vực yêu cầu nguồn vốn
khá lớn. Chính vì vậy các nhà đầu tư thường không đủ khả năng hoặc không mong
muốn đầu tư vào lĩnh vực này. Nhưng cơ sở hạ tầng lại là yếu tố tiên quyết để phát
triển kinh tế - xã hội. Vậy để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết nguồn vốn. Trong thời gian
qua, những công trình lớn, trọng điểm đầu tư vào cơ sở hạ tầng thường là do Nhà
nước đầu tư. Sự hỗ trợ từ ngân sách, kết hợp cả nguồn vốn địa phương và nguồn
vốn đầu tư phát triển hạ tầng du lịch của Trung ương thật sự là “xúc tác” góp phần
quan trọng trong việc tạo ra môi trường thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư
trong nước và quốc tế. Tỉnh Ninh Bình có nguồn tài nguyên du lịch phong phú
nhưng với ngân sách địa phương eo hẹp nên những năm trước đây đã không cho
phép tỉnh đầu tư phát triển trong lĩnh vực này. Từ năm 2000 đến nay, với nguồn vốn
Tràng An được xác định là điểm nhấn quan trọng để thu hút khách du lịch đến Ninh
Bình. Cùng với đó Tỉnh phối hợp với Viện Kiến trúc nhiệt đới – Trường Đại học
Kiến trúc Hà Nội từng bước hoàn chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Ninh
Bình giai đoạn 2007 – 2015, có một số khu du lịch đã quy hoạch đến năm 2020.
Các bản quy hoạch của từng vùng du lịch được công bố công khai để từng người
dân được biết, từ đó họ ý thức hơn về làm du lịch, đây cũng là điều kiện thuận lợi
để tiến đến xã hội hóa du lịch. Trong những năm qua, Tỉnh đã đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng các khu du lịch. Những khu du lịch trọng điểm của Ninh Bình được ưu
tiên vốn đầu tư, đang gấp rút xây dựng và hoàn thành xong phần cơ bản về hạ tầng,
bắt đầu tiến hành khai thác như khu Tam Cốc – Bích Động, Tràng An, núi chùa Bái
Đính, nước nóng Kênh Gà. Các dự án khác như: Cơ sở hạ tầng tuyến du lịch đường
thủy Bích Động- Hang Bụt, Thạch Bích- Thung Nắng, cơ sở hạ tầng Khu du lịch
các làng nghề truyền thống cũng đang được gấp rút hoàn thiện để đưa vào khai thác.
Cơ sở hạ tầng được đầu tư cải thiện là đệm phóng cho những dự án đầu tư của khu
vực tư nhân. Những năm gần đây, các doanh nghiệp trong Tỉnh cũng như ở trong
nước đang liên tiếp đăng kí đầu tư. Hiện nay, các dự án đang được triển khai thực
hiện đầu tư theo đúng tiến độ đã phê duyệt. Nhiều hạng mục công trình của các dự
án đã đưa vào khai thác, sử dụng phục vụ khách du lịch hiệu quả. Bảng 2.3. Phân loại nguồn vốn trong nước theo khu du lịch của tỉnh Ninh
Bình
tính đến 31/12/2008
Đơn vị: triệu đồng
♦ Dự án Suối nước khoáng Kênh Gà- huyện Gia Viễn, tổng vốn đầu tư 11 tỷ đồng
(tại tuyến du lịch Kênh Gà – Vân Trình).
♦ Dự án Khách sạn và văn hóa Cung đình Vân Long, do công ty TNHH Thảo Sơn
đầu tư với tổng vốn đầu tư 27 tỷ đồng ( tại Vân Long, Gia Viễn).
Trong đó phải kể đến 2 dự án FDI:
♦ Dự án khu du lịch sinh thái Đông Phương Sư ( 100% vốn của Đài Loan), tổng vốn
đầu tư là 32 triệu USD ( tại Vân Long, Gia Viễn)
♦ Làng quần thể du lịch Ninh Bình, cụm biệt thự bằng đá ( tại khu Tam Cốc- Bích
Động, huyện Hoa Lư) do tập đoàn Hotel Project BV – Hà Lan đầu tư với tổng số
vốn 2,35 triệu USD.
2.2. Xúc tiến, quảng bá du lịch
Từ năm 2000, Sở văn hóa - thể thao - du lịch ( mà dưới đây gọi tắt là Sở du lịch) đã
tham mưu cho UBND tỉnh thành lập Ban chỉ đạo nhà nước về du lịch và xây dựng
qui chế, chương trình hành động về du lịch giai đoạn 2001-2005 làm cơ sở cho việc
đầu tư, phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh. Cũng trong năm 2000, Sở đã tổ chức các
lớp học tập, nghiên cứu về du lịch, tổ chức đi khảo sát và học tập kinh nghiệm thực
tế tại các tỉnh miền Trung và miền Nam, tham gia triển lãm gian hàng hội xuân Du
lịch – Văn hóa Việt Nam tại Vân Hồ - Hà Nội và đã đạt được giải ba toàn quốc;
phối hợp với các ban ngành trong tỉnh tổ chức thành công Lễ hội Trường Yên 2000.
Trong khuôn khổ chương trình hành động về du lịch của Tỉnh, năm 2002, Sở Du
lịch Ninh Bình đã chính thức đưa trung tâm xúc tiến đầu tư và phát triển du lịch đi
vào hoạt động và bước đầu đạt được kết quả tốt. Đơn vị này đã phối hợp với các
doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh tích cực triển khai thực hiện các chương trình
quảng bá, xúc tiến hình ảnh du lịch Ninh Bình. Tổ chức thành công hội thi “ Nấu
các món ăn dân tộc Việt Nam ngành du lịch Ninh Bình – 2002”, phát động chương
trình Báo chí viết về du lịch Ninh Bình và đã thu hút được nhiều tầng lớp dân cư
tham gia.
Nhằm đa dạng hóa các sản phẩm du lịch mang đặc trưng Ninh Bình, Sở Du lịch đã
tiến hành nghiên cứu, tổ chức thực hiện và đưa vào thử nghiệm đề tài “ Nghiên cứu
tổ chức đóng thử tàu chở khách trên sông”. Cũng trong khuôn khổ đề tài này, lần
trưởng lượng khách trung bình giai đoạn 2002 -2007 đạt 18,6%. Đặc biệt năm 2008,
mặc dù chịu nhiều tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhưng Ninh
Bình vẫn đón được 1,9 triệu lượt khách, tăng 26% so với năm 2007.
Tuy nhiên so với một số điểm du lịch khác ở nước ta, thì du lịch Ninh Bình có nhiều
lợi thế hơn về tài nguyên, nhưng chưa phát huy được lợi thế so sánh sẵn có để tạo ra
lợi thế cạnh tranh. Du lịch Ninh Bình phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế
mạnh của tỉnh. Hiệu quả kinh tế, xã hội còn ở mức độ thấp. Một trong những
nguyên nhân cơ bản của sự phát triển kém hiệu quả này, theo đánh giá của các
chuyên gia là do nguồn nhân lực du lịch của Ninh Bình hiện nay vừa thừa, vừa
thiếu, vừa yếu, lại mất cân đối về cơ cấu lao động trong du lịch. Đội ngũ cán bộ
quản lý du lịch và lao động làm dịch vụ du lịch còn vừa yếu về năng lực chuyên
môn vừa yếu về ngoại ngữ, vừa thiếu tính chuyên nghiệp và thái độ làm việc để
thực thi các công việc theo chức danh đảm nhiệm.
Theo thống kê của ngành, tính đến năm 2007, số lao động trực tiếp trong ngành du
lịch là 960 người tăng 2,3 lần so với năm 2002. Số lượng lao động trong ngành có
trình độ chuyên môn về du lịch: đại học, cao đẳng 196 người chiếm 20,4%, trung
cấp và nghề 410 người chiếm 42,7%. Đào tạo trong các lĩnh vực khác (chưa qua
đào tạo về du lịch) là 219 người chiếm 22,8%. Số lao động có khả năng sử dụng
một trong 3 ngoại ngữ phổ biến (Anh – Pháp – Trung) là 315 người chiếm 33%.
Riêng đối với lao động thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch, ngành đã
thực hiện tốt chủ trương thu hút nhân tài về làm việc: Tuyển thẳng 01 sinh viên tốt
nghiệp loại giỏi chuyên ngành du lịch, tiếp nhận hơn 10 lao động có trình độ cử
nhân về du lịch về công tác tại các phòng ban, đơn vị thuộc Sở. Đưa đội ngũ nhân
lực thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch (biên chế của Sở Du lịch trước
khi sát nhập thành Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) có trình độ đại học và trên đại
học chiếm 39%, trình độ cao đẳng trung cấp 29%.
Bảng 2.4. Thực trạng lao động du lịch Ninh Bình giai đoạn 2003- 2007
Đơn vị: người
STT Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007
1 Lao động trực tiếp làm du lịch 470 621 650 916 960
việc và tăng cường khẳ năng giao tiếp ngoại ngữ của đội ngũ lao động góp phần
đáng kể vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ và hình ảnh du lịch Ninh Bình trong
thời gian qua.
Năm 2008, Sở văn hoá - thể thao - du lịch Ninh Bình đã mở tổ chức, đào tạo, bồi
dưỡng nghiệp vụ du lịch cho hơn 1000 người. Trong đó sở đã mở 2 lớp bồi dưỡng
nghiệp vụ hướng dẫn viên, thuyết minh viên du lịch và 2 lớp đào tạo tiếng Anh,
tiếng Pháp giao tiếp du lịch cho trên 100 học viên tại khu du lịch Tam Cốc- Bích
Động và khu du lịch sinh thái Vân Long; 10 lớp bồi dưỡng kiến thức du lịch cộng
đồng cho hơn 900 cán bộ và nhân dân làm du lịch tại xã Gia Sinh (Gia Viễn) và
thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải (Hoa Lư). Ngoài ra Sở còn tổ chức nhiều buổi tư vấn
về chuyên môn, nghiệp vụ cho các doanh nghiệp, khách sạn, đoàn khách du lịch,
công ty lữ hành trong nước và quốc tế.
Một trong những đặc điểm của du lịch Ninh Bình là phát triển dựa vào cộng đồng
do yếu tố xen ghép và hòa quyện giữa tài nguyên du lịch và cộng đồng dân cư. Nên
số lượng lao động gián tiếp (bán chuyên nghiệp) hiện nay chiếm tỷ trọng khá lớn,
với trên 6250 lao động, chiếm 86,4% tổng số lao động làm du lịch. Nhưng hầu hết
chưa qua các lớp đào tạo về nghiệp vụ du lịch từ sơ cấp trở lên, do vậy nhận thức,
hiểu biết về du lịch và giao tiếp ứng xử trong quá trình phục vụ khách du lịch còn
nhiều hạn chế làm ảnh hưởng xấu tới hình ảnh và chất lượng phục vụ tại các khu,
điểm du lịch trong tỉnh. Với mục đích nâng cao nhận thức của nhân dân địa phương
về phát triển du lịch, từ năm 2003 Sở Du lịch đã phối kết hợp với các cơ sở đào tạo
và chính quyền địa phương nơi có khu, điểm du lịch mở các lớp bồi dưỡng kiến
thức du lịch cộng đồng cho các lao động tham gia làm dịch vụ du lịch (chụp ảnh,
chèo đò, bán hàng lưu niệm,…) cho 4.050 người.
Bảng 2.5. Tổng hợp lao động được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức du lịch
giai đoạn 2004 - 2008
Đơn vị: người
Nội dung đào tạo 2004 2005 2006 2007 2008
Tổng LĐ được đào
tạo từ 2002-2008
vụ các thị trường khách du lịch có khẳ năng chi trả cao, đặc biệt là thị trường khách
quốc tế. Vấn đề cấp thiết đặt ra đối với du lịch Ninh Bình là phải có nguồn nhân lực
du lịch chất lượng cao, đủ tài, đủ tầm để đưa du lịch Ninh Bình từng bước hội nhập
với khu vực và thế giới.
III. Thực trạng đầu tư vào một số khu du lịch của tỉnh
1. Khu du lịch suối nước nóng Kênh Gà - động Vân Trình, Vân Long, chùa Ðịch
Lộng
Sự phát triển nổi trội của khu vực này với “hiện tượng” Vân Long trong những năm
qua là yếu tố đặc biệt của du lịch Ninh Bình hiện nay. Với những nỗ lực của người
dân địa phương, các nhà khoa học, các nhà quản lí, các giá trị tự nhiên, văn hóa của
khu vực đã được “phát lộ” và nghiên cứu, đồng thời việc phát triển du lịch của khu
vực đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, lượng khách du lịch, đặc biệt là
khách du lịch quốc tế, đã gần tương đương với khu du lịch Tam Cốc – Bích Động –
Tràng An – cố đô Hoa Lư cho đến thời điểm hiện nay.
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu du lịch sinh thái Vân Long: Dự án đá đầu tư
xong đường, cầu cống từ đường 477A qua 2 xã Gia Vân và Gia Lập, san nền xong 2
bến xe, nạo vét xong 2 tuyến đường thủy trong khu du lịch sinh thái Vân Long.
Một số vấn đề cần quan tâm đối với phát triển du lịch khu vực Vân Long là việc đầu
tư của một số cơ sở công nghiệp, đặc biệt là hoạt động của nhà máy xi măng nằm
gần khu du lịch. Do đó đã xuất hiện một số dao động trong ý chí quyết tâm của các
nhà đầu tư du lịch. Việc phối hợp với Hà Nam trong công tác bảo tồn và phát triển
du lịch cần được quan tâm.
Bảng 2.6. Tổng hợp những dự án đầu tư vào khu du lịch Vân Long
Đơn vị: triệu đồng
STT Tên dự án Chủ đầu tư Vốn đầu tư Thời gian
1 Khu du lịch nước nóng Kênh Gà CTCP Việt - Thái 180.000 2004-2012
2 XD cơ sở dịch vụ du lịch CTNHH Thảo Sơn 22.250 2005-2006
3 XD khu du lịch dịch vụ thể thao văn hóa DNTN Duy Quang 16.767 2006-2009
4 XD nhà hàng, khách sạn và khu giải trí DNTN Song Hào 10.913 2007-2008
5
Đây là khu du lịch trung tâm đóng vai trò điều phối hoạt động chung của du lịch Ninh Bình
trên cơ sở sử dụng hạ tầng và cơ sở vật chất du lịch vốn tương đối phát triển của đô thị. Tại
khu du lịch này, du khách còn có thể tham quan các điểm danh thắng nổi tiếng như: núi
Dục Thúy, sông Vân Sàng, núi Ngọc Mỹ Nhân, núi Kì Lân. Với định hướng phát triển
thành phố thành đô thị loại ba, việc xây dựng các khu du lịch này, kết hợp với các sản
phẩm du lịch khác ở khu vực phụ cận theo qui hoạch, trong đó xác định vị trí trọng tâm của