LỜI MỞ ĐẦU
Các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước những thách thức và cơ hội to lớn, đòi hỏi
phải đáp ứng yêu cầu ngày càng cao đối với những đòi hỏi cơ chế kinh tế thị trường và hội
nhập kinh tế quốc tế. Tính cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt, đặc biệt khi Việt
Nam tham gia hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Do vậy các doanh nghiệp luôn
phải đặt ra những chiến lược, kế hoạch mục tiêu và hành động cụ thể để có thể đứng vững
trên thương trường. Để đạt được điều đó, đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh là một yêu
cầu tất yếu.
Công ty cổ phần Tràng An trước đây là Doanh Nghiệp Nhà Nước được cổ phần hóa từ
tháng 10/ 2004. Tồn tại và hoạt động trong cơ chế thị trường, công ty đã nhanh chóng thích
ứng cũng như thay đổi lối làm việc trước kia. Trong những năm gần đây, công ty đã đạt
được một số kết quả sản xuất kinh doanh tích cực.
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường cũng như mong muốn được tìm hiểu sâu hơn về
công tác đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần Tràng An, em đã lựa
chọn đề tài: “ Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần Tràng An: thực
trạng và giải pháp”
Kết cấu đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần Tràng
An.
Chương 2: Một số giải pháp đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ
phần Tràng An.
Do thời gian và trình độ hiểu biết có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Em
rất mong được sự chỉ bảo của các thầy cô. Qua đây em xin chân thành cảm ơn các bác các
cô, các chú và anh chị các phòng ban trong công ty cổ phần Tràng An cũng như các thày cô
Khoa Đầu tư đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập và thực hiện chuyên đề này.
CHƯƠNG 1. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN TRÀNG AN.
1.1. Giới thiệu chung về công ty.
Địa chỉ : Số1- Phùng Chí Kiên-Nghĩa Đô-Cầu Giấy-Hà Nội.
Điện thoại:(84-4)2679999 Fax:(84-4) 7564138.
Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần.
Vốn điều lệ : 22.200.000.000 đồng (hai mươi hai tỷ, hai trăm triệu đồng).
Giấy CNĐKKD số: 0103005601 : Ngày cấp: 01/10/2004
Cơ quan cấp: Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Thành Phố Hà Nội.
Công ty mẹ: Công ty sản xuất kinh doanh đầu tư và dịch vụ Việt Hà.
Thành viên:
Công ty cổ phần Tràng An có 3 xí nghiệp thành viên:
Xí nghiệp kẹo: Sản xuất kẹo cứng cao cấp(Lolipop,lạc xốp, hoa quả), Tổng hợp, kẹo
mềm cao cấp-Toffee, Hương cốm, Socola sữa, Sữa dừa…
Xí nghiệp bánh: Sản xuất bánh quy, Bánh quế, Snack, Gia vị.
Xí nghiệp cơ nhiệt: xí nghiệp phục vụ(Cơ-Nhiệt-Điện)
1.1.1.2 Ngành nghề và mục tiêu kinh doanh:
- Ngành nghề kinh doanh:
Sản xuất, kinh doanh các sản phẩm Công nghiệp thực phẩm- vi sinh; Xuất nhập khẩu
các loại: vật tư; nguyên liệu, hương liệu, phụ gia, thiết bị, phụ tùng có liên quan đến ngành
công nghiệp thực phẩm - vi sinh.
Dịch vụ đầu tư, tư vấn, tạo nguồn vốn đầu tư, nghiên cứu đào tạo, chuyển giao công
nghệ, thiết kế, chế tạo, xây, lắp đặt thiết bị và công trình chuyên ngành công nghiệp thực
phẩm;
Kinh doanh khách sạn, chung cư, nhà hàng, đại lý cho thuê văn phòng, du lịch, hội chợ,
triển lãm, thông tin, quảng cáo;
Tham gia mua, bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán;
- Mục tiêu kinh doanh:
Không ngừng nâng cao lợi ích của cổ đông;
Tăng tích luỹ, phát triển sản xuất kinh doanh;
Làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước;
Nâng cao thu nhập của người lao động trong Công ty
1.1.1.3. Sản phẩm chủ yếu.
như: Kẹo tổng hợp, kẹo cà phê, kẹo hoa quả, bánh Snack, bánh quế.. Công ty có thể thay
đổi chủng loại và mẫu mã sản phẩm theo nhu cầu của thị trường.
- Giới thiệu và đưa sản phẩm của công ty tới nguời tiêu dùng cuối cùng thông qua các kênh
phân phối.
1.1.2.2. Nhiệm vụ.
- Nghiên cứu thị trường, nhu cầu khách hàng để sản xuất những sản phẩm phù hợp với nhu
cầu tiêu dùng của khách hàng và phải xây dựng cho mình kế hoạch sản xuất kinh doanh
hợp lý.
- Không ngừng cải tiến cơ cấu quản lý, trang thiết bị sản xuất, đa dạng hóa các chủng loại
sản phẩm để phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của khách hàng.
- Sử dụng hiệu quả bảo toàn vốn, cơ sở vật chất kĩ thuật, kinh doanh trên cơ sở có lãi để tái
mở rộng sản xuất.
- Hoàn thành tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước, người lao động và không ngừng nâng cao
trình độ của cán bộ công nhân viên.
1.1.2.3.Cơ cấu tổ chức bộ máy công ty.
Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến bao gồm các phòng ban
phân xưởng và các đội sản xuất với các chức năng và nhiệm vụ khác nhau dưới sự chỉ đạo
trực tiếp của Giám đốc và các Phó Giám đốc công ty. Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ Phần
Tràng An được thể hiện cụ thể ở sơ đồ 1.1.
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức công ty cổ phần Tràng An
tiền vốn.
+ Phân tích đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh, cung cấp kịp thời những thông tin cần
thiết cho Giám đốc, các phòng nghiệp vụ để xây dựng kế hoạch kinh doanh.
- Phòng tổ chức nhân sự:
+ Nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực, hoàn thiện cơ cấu nhân lực,
cơ cấu quản lý phù hợp với hoạt động của công ty trong từng thời kì.
+ Xác định nhu cầu đào tạo, tuyển dụng và bố trí cán bộ, nhân viên. Lựa chọn các tiêu
chuẩn, phương pháp tuyển chọn phù hợp.
+ Giải quyết các thủ tục về tuyển dụng, bổ nhiệm, bãi miễn thôi việc, nghỉ hưu, khen
thưởng, kỹ luật.. và các chế độ bảo hiểm .
- Phòng hành chính: thực hiện quản lý hành chính, quản lý hồ sơ văn thư lưu trữ và các
thiết bị văn phòng, sắp xếp lịch công tác, lịch giao ban, hội nghị tiếp khách, tổ chức công
tác thi đua tuyên truyền.
- Phòng Công nghệ kĩ thuật: Chịu trách nhiệm giám sát, theo dõi việc thực hiện các quá
trình công nghệ, đảm bảo chất lượng sản phẩm, nghiên cứu chế thử sản phẩm mới, nghiên
cứu ứng dụng khoa học kĩ thuật đưa vào sản xuất. Xây dựng kĩ thuật công nghệ, quy trình
công nghệ, quá trình tái chế, các hành động khắc phục và phòng ngừa trong các dây
chuyền sản xuất.
- Phòng kế hoạch-sản xuất: Xây dựng phương hướng, kế hoạch phát triển của công ty
trong ngắn hạn và dài hạn, trực tiếp xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất. Lập kế hoạch
điều độ sản xuất, giá thành kế hoạch. Thanh tra định kì quá trình sản xuất của các phân
xưởng.
- Phân xưởng cơ điện: Phân xưởng này thực hiện kế hoạch sửa chữa , bảo dưỡng thiết bị,
cung cấp hơi, điện nước và sửa chữa thiết bị máy móc đột xuất tại các phân xưởng sản xuất
trong công ty.
- Phòng bảo vệ y tế: Bảo vệ an ninh trật tự, hướng dẫn kiểm soát ra vào, Y tế thực hiện
công tác y tế dự phòng và hồ sơ chăm sóc sức khỏe.
- Các tổ sản xuất: trực tiếp thực hiện nhiệm vụ sản xuất ra sản phẩm cho công ty.
- Tổ kho vận, tổ sửa chữa, tổ bốc xếp.
1.1.3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn
29.53448.94319.409
2 DT thuần bán hàng 91.059 138.146 201.302 63.156
3 Lợi nhuận trước thuế 2743 4395 4877 482
4 Lợi nhuận sau thuế 2743 3780 4192 412
5 Nộp ngân sách 651 1141 1558 417
6 Số lao động 422 504 569 65
7 Thu nhập bình quân
1,650 1,850 2,400 0,55
Nguồn: Phòng Kế toán-công ty cổ phần Tràng An
Những năm gần đây hoạt động kinh doanh của công ty đạt những kết quả đáng khích
lệ. nguồn vốn kinh doanh qua các năm tăng liên tục, năm 2007 nguồn vốn là 73,8 tỷ đồng,
năm 2008 là 101,2 tỷ đồng, tăng tới 37%. Doanh thu và lợi nhuận của công ty nhờ đó liên
tục tăng. Tốc độ tăng của doanh thu năm 2008 so với 2007 đạt 45,71% tương ứng từ 138,1
tỷ đồng tăng lên 201,3 tỷ đồng, tốc độ tăng lợi nhuận sau thuế là năm 2007 so với 2006 là
37,7% , tuy tốc độ tăng lợi nhuận sau thuế năm 2008/ 2007 là 10,89% nhưng đã thể hiện
sự cố gắng của công ty trong việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu và lợi nhuận.
Đó là do năm 2008 là năm có nhiều biến động và tình hình khó khăn chung của nền kinh
tế, giá cả các nguyên vật liệu đầu vào tăng mạnh, do vậy mà giá vốn hàng bán của công ty
cũng tăng lên tương ứng, chính vì vậy lợi nhuận tăng với tốc độ chậm hơn.
Bên cạnh đó, công ty không ngừng mở rộng qui mô hoạt động sản xuất kinh doanh.
Qui mô vốn kinh doanh năm 2006 là 63,112 tỷ đồng, năm 2007 tăng thêm 10,696 tỷ đồng,
tăng 2008 tăng so với 2007 là 27,445 tỷ, tăng 37,18%. Đây là những con số hết sức khả
quan và dễ hiểu bởi nó phù hợp với tốc độ tăng trưởng của doanh thu. Trong đó vốn lưu
mua được hàng hóa có chất lượng tốt, thỏa mãn nhu cầu với giá cả hợp lý. Chính vì vậy,
các bên bán cạnh tranh với nhau để thỏa mãn nhu cầu của bên mua, giành được phần có lợi
về phía mình.
Xét từ góc độ ngành, một ngành luôn tồn tại sự cạnh tranh bởi các đặc trưng kinh tế,
khi các quá trình kinh tế nội sinh thay thế lẫn nhau.
Xét từ góc độ doanh nghiệp, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp được xem là sự ganh
đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong
sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Cạnh tranh có thể diễn ra
giữa các doanh nghiệp trong ngành hoặc ngoài ngành, giữa doanh nghiệp trong nước và
doanh nghiệp nước ngoài. Mục đích của cạnh tranh là giành vị thế trong sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm để tăng thu lợi nhuận, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.
Cạnh tranh thể hiện dưới các hình thức: phấn đấu giảm giá, tăng chất lượng sản phẩm, đưa
sản phẩm tới tay người tiêu dùng một cách nhanh nhất. Ngoài ra, cạnh tranh phát triển đến
một trình độ nhất định sẽ dẫn đến tăng cường liên doanh liên kết, hợp tác kinh tế, sát nhập ,
hợp nhất và không loại trừ khả năng thôn tính lẫn nhau.
Cạnh tranh đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội.
- Đối với các doanh nghiệp trong ngành: cạnh tranh trong nội bộ ngành sẽ dẫn đến sự
hình thành giá cả thị trường đồng nhất đối với hàng hóa dịch vụ cùng loại. Trong cuộc
cạnh tranh này các doanh nghiệp sẽ thôn tính nhau chiếm thị phần. Doanh nghiệp nào
thành công sẽ mở rộng qui mô sản xuất, ngược lại sẽ phải thu hẹp qui mô sản xuất thậm
chí là phá sản. Cạnh tranh có vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp ứng dụng các thành tựu mới về kĩ thuật công nghệ, cải tổ
bộ máy quản lý, tiết kiệm các yếu tố đầu vào một cách hợp lý, tăng chất lượng sản phẩm
và dịch vụ … nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng thời nâng cao uy tín và vị thế
của doanh nghiệp trên thị trường.
- Đối với người tiêu dùng: Cạnh tranh giúp cho họ có nhiều lựa chọn về chủng loại, chất
lượng, mẫu mã hàng hóa và dịch vụ theo xu hướng thỏa mãn nhu cầu về sản phẩm ngày
càng cao hơn với mức giá phù hợp.
- Đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân: cạnh tranh là động lực thúc đấy phát triển sựu
bình đẳng của mọi thành phần kinh tế, đẩy mạnh hoạt động đầu tư, giải phóng lực lượng
tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài
chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so
sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị
trường. Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được
đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh.
Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải
tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể
thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng
của đối tác cạnh tranh.
Khi phân tích năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp người ta thường đưa ra các tiêu
chí để đánh giá. Tuy vậy đối với các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì tiêu chí đánh giá
cũng có sự khác nhau. Các tiêu chí đánh giá thông qua tiêu chí định tính và tiêu chí định
lượng. Các tiêu chí định tính có thể đuợc kể đến như:
- Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
- Năng lực tài chính.
- Công nghệ và khả năng đổi mới công nghệ.
- Trình độ lao động.
- Cơ cấu tổ chức và quản lý doanh nghiệp.
- Hệ thống phân phối.
…
Các chỉ tiêu định lượng thường xét đến như sau:
- Thị phần của doanh nghiệp: thị phần là phần thị trường doanh nghiệp bán được sản phẩm
của mình một cách thường xuyên và có xu hướng phát triển. Thị phần càng lớn chứng tỏ
sản phẩm của doanh nghiệp được khách hàng ưa chuộng. Thị phần đuợc thể hiện qua các
chỉ tiêu như giá trị tuyệt đối và tương đối tổng sản lượng của công ty so với thị trường
ngành, doanh thu/tổng doanh thu của các đối thủ mạnh nhất.
- Tỷ lệ chi phí marketing/tổng doanh thu:
Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất hiện nay dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh
cũng như hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.Thông qua chỉ tiêu này cho thấy
hiệu quả hoạt động của mình. Nếu tỷ lệ này quá cao chứng tỏ công ty đã đầu tư tương đối
và năng lực cạnh tranh
Đầu tư hợp lý
năng lực cạnh tranh
Có thể nói, đầu tư và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có mối quan hệ qua lại mật
thiết với nhau.Vấn đề đặt ra ở đây là doanh nghiệp phải có chiến lược, có kế hoạch đầu tư
hợp lý để phát huy tối đa lợi thế cạnh tranh của mình.
Toàn cầu hóa kinh tế hiện nay đã và đang là xu hướng tất yếu khách quan bao trùm hầu hết
các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác vừa phát triển sức ép cạnh tranh và tính phụ thuộc lẫn
nhau. Văn kiện Đại Hội Đảng IX đã xác định: “ Đối với nước ta tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế trong thời gian tới được nâng lên một bước mới gắn với thực hiện các cam kết
quốc tế đòi hỏi chúng ta phải nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng độc lập tự
chủ của nền kinh tế, tham gia có hiệu quả vào quá trình phân công lao động quốc tế”.
Chính sự khác biệt về các nhân tố đầu vào của quá trình sản xuất, chính sách quản lý của
mỗi của quốc gia, mỗi ngành , mỗi doanh nghiệp đã tạo nên những lợi thế cạnh tranh và
tồn tại trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu.
Như vậy, bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa đòi hỏi mỗi quốc gia nói
chung và từng doanh nghiệp nói riêng muốn giành được lợi thế trong kinh doanh cần phải
nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và doanh nghiệp mình.
1.2.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất
nhiều yếu tố. Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp phải thường xuyên đầu tư
xây dựng, hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý, xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh
phù hợp… ngoài ra còn các yếu tố như môi trường luật pháp, các chính sách về tài chính,
các đối thủ cạnh tranh…Doanh nghiệp cần phải đánh giá được sự tác động của các yếu tố
này để có các biện pháp tích cực nhằm hạn chế hoặc loại trừ ảnh hưởng, hoặc để nắm bắt
thời cơ, tận dụng những lợi thế sẵn có để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
mình trên thị trường.
Các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh có thể chia thành hai nhóm
tiêu dùng, ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên…
- Môi trường kinh doanh:
Trước hết là ảnh hưởng của môi trường pháp lý bao gồm luật và các văn bản dưới luật. Các
qui định trong hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và tới
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Một môi trường pháp lý lành mạnh sẽ không những
tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp mà còn khiến các doanh nghiệp tự điều
chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với luật pháp đề ra. Ngược lại, môi trường pháp lý
không lành mạnh, minh bạch rõ ràng sẽ không đánh giá đúng thực chất của doanh nghiệp,
doanh nghiệp không có đủ trình độ, năng lực nhưng nhờ những mối quan hệ lại có thể loại
bỏ được những doanh nghiệp có năng lực và trình độ cao hơn. Điều này sẽ gây tổn thất cho
nền kinh tế và trật tự xã hội.
1.2.1.3.2. Nhóm các yếu tố bên trong.
- Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp: doanh nghiệp muốn tồn tại phải có sức cạnh
tranh so với các đối thủ. Doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh hiệu quả thể hiện ở việc
đầu tư vào đúng thị trường, đúng đối tượng, hàng hóa đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng
như vậy mới có thể tồn tại trên thị trường. Ngoài ra chiến lược hiệu quả của doanh nghiệp
còn thể hiện qua việc lường trước các xu hướng của thị trường, đi đầu các lĩnh vực có tiềm
năng, đề ra các biện pháp thích ứng được với sự thay đổi của thị trường.
- Năng lực tài chính: năng lực tài chính là nguồn lực hết sức quan trọng đối với bất kì một
doanh nghiệp nào. Khả năng tài chính mạnh sẽ giúp doanh nghiệp tăng cường hoạt động
đầu tư hợp lý từ đó nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Năng lực tài
chính lớn, ổn định cho phép doanh nghiệp đối phó với các rủi ro của môi trường tốt hơn,
cũng như giúp doanh nghiệp có khả năng tiếp cận với nguồn vốn vay tốt hơn các doanh
nghiệp có năng lực tài chính không ổn định.
- Công nghệ và khả năng đổi mới công nghệ: Một công nghệ tiên tiến sẽ là một lợi thế
cạnh tranh lớn của doanh nghiệp, nó quyết định đến chi phí và chất lượng sản phẩm.Công
nghệ càng tiên tiến, hiện đại thì càng tạo ra sức cạnh tranh lớn. Ngày nay, do nhu cầu của
người tiêu dùng thay đổi rất nhanh, các tiến bộ khoa học công nghệ không ngừng được cải
tiến vì vậy nếu doanh nghiệp không có khả năng đổi mới công nghệ thì không thể đáp ứng
được yêu cầu của thị trường dẫn tới sức cạnh tranh giảm, thậm chí không thể tồn tại.
với chu kì sống của sản phẩm.
- Áp dụng khoa học kĩ thuật và quản lí hiện đại:
Sức cạnh tranh của doanh nghiệp tăng lên khi giá cả hàng hóa của họ thấp hơn giá cả trung
bình trên thị trường. Để đáp ứng mục tiêu hàng đầu là mục tiêu lợi nhuận, các doanh
nghiệp phải biết sử dụng tốt các tài nguyên của mình nhằm tăng năng suất lao động , hạ
thấp chi phí đầu vào , nâng cao chất lượng hàng hóa..Muốn vậy doanh nghiệp phải thường
xuyên cải tiến công nghệ, áp dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến. Đặc biệt trong lĩnh vực bánh
kẹo thì lợi thế cạnh tranh đó là sự đa dạng hóa sản phẩm, do vậy doanh nghiệp phải không
ngừng nghiên cứu cải tiến sản phẩm, tạo ra các sản phẩm mang tính độc đáo, mới lạ.
- Cạnh tranh về phân phối và bán hàng:
Thể hiện qua các nội dung chủ yếu như: đa dạng hóa kênh phân phối và chọn được kênh
chủ lực, hệ thống bán hàng phong phú, dịch vụ bán hàng& sau bán hàng hợp lý; Kết hợp
hợp lý giữa phương thức bán với phương thức thanh toán …
Ngoài ra một công cụ nhằm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó là kế hoạch đầu
tư đúng đắn. Nếu doanh nghiệp có các kế hoạch đúng đắn về đầu tư cho máy móc thiết bị
công nghệ, đầu tư nguồn nhân lực, đầu tư marketing… thì hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của
doanh nghiệp tăng và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2. Tình hình cạnh tranh trên thị trường bánh kẹo Việt Nam trong
những năm gần đây.
1.2.2.1.Đặc thù của doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo.
Ngoài các chỉ tiêu phản ánh khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung thì doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất bánh kẹo có một số chỉ tiêu đặc thù liên quan
đến ngành sản xuất.
- Sản phẩm bánh kẹo là sản phẩm thực phẩm đã qua chế biến có liên quan trực tiếp đến sức
khỏe của ngưởi tiêu dùng do vậy vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm luôn phải được chú
trọng hàng đầu. Doanh nghiệp nào sản xuất trên dây chuyền công nghệ hiện đại tiến tiến,
đạt các chứng chỉ tiêu chuẩn quốc tế được công nhận thì chắc chắn sẽ tạo dựng được niềm
tin của người tiêu dùng, được người tiêu dùng tín nhiệm và tiêu dùng sản phẩm. Đó là yếu
tố tác động rất lớn đến năng lực cạnh tranh của công ty.
- Thị trường bánh kẹo có tính chất mùa vụ, sản lượng tiêu thụ tăng mạnh vào thời điểm sau
và trở thành một thị trường lớn trong khu vực mặc dù tình hình kinh tế thế giới đang ở giai
đoạn suy thoái và nền kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn. Đó là do:
- Tỷ lệ tiêu thụ bánh kẹo theo bình quân đầu người ở Việt Nam còn thấp so với tốc độ tăng
trưởng của dân số. Hiện nay tỷ lệ tiêu thụ mới chỉ khoảng hơn 2kg/người/năm (tăng từ
1,25 kg năm 2003).
- Về thị phần phân phối, trong các siêu thị, bánh kẹo Việt Nam chiếm khoảng 60%, bánh
kẹo của các nước lân cận chiếm khoảng 30% và bánh kẹo Châu Âu chiếm khoảng 10%.
Tuy vậy, việc giảm thấp thuế nhập khẩu bánh kẹo từ khu vực mậu dịch tụ do các nước khu
vực AFTA, việc gia nhập vào WTO đã có ảnh hưởng lớn và lâu dài tới ngành bánh kẹo.
Thuế suất nhập khẩu bánh kẹo giữa các nước ASEAN giảm còn 0-5% trong khi số đông
người tiêu dùng vẫn có tâm lý chuộng đồ ngoại, các doanh nghiệp trong nước dưới sức ép
cạnh tranh từ hàng nhập khẩu phải không ngừng đổi mới công nghệ. Điều này mở ra nhiều
cơ hội hơn là thách thức do hàng rào thuế hạ thấp sẽ tạo thêm thuận lợi để sản phẩm của
các doanh nghiệp trong ngành đi vào các nước khác.
Việc gia nhập ngành và rút khỏi ngành không có quá nhiều rào cản, đặc biệt là sản xuất
nhỏ lẻ hộ gia đình, tuy nhiên cần một số yêu cầu nhất định đối với các nhà sản xuất qui mô
công nghiệp như điều kiện về vốn, điều kiện về kĩ thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm. Tuy
vậy, ngành công nghiệp thực phẩm thuộc nhóm ngành hàng tiêu dùng có tốc độ phát triển
khá nhanh và đó là ngành được khuyến khích đầu tư vào Việt Nam. Chính vì vậy ngày
càng có thêm nhiều các nhà đầu tư vào ngành sản xuất này. Đó sẽ là những đối thủ tiềm ẩn
của doanh nghiệp. Mặt khác sản phẩm bánh kẹo là mặt hàng dễ thay thế, mẫu mã chủng
loại ngày một phong phú, thị hiếu người tiêu dùng rất hay thay đổi, sự sẵn có của các mặt
hàng cũng là sức ép lớn đối với doanh nghiệp, tạo áp lực doanh nghiệp phải đa dạng hóa
sản phẩm. Do vậy cạnh tranh trên thị trường là khá gay gắt. Ngành bánh kẹo là ngành hàng
thực phẩm qua chế biến là hàng tiêu dùng thường xuyên, thông dụng. Trong ngành này các
doanh nghiệp cạnh tranh với nhau bằng rất nhiều hình thức: về giá cả, chất lượng sản
phẩm, lợi thế cạnh tranh về phân phối và chính sách xúc tiến hỗn hợp.
Một số công ty bánh kẹo lớn như : công ty cổ phần thực phẩm Kinh Đô, công ty bánh kẹo
Bibica, công ty cổ phần bánh kẹo Hữu Nghị, công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà…
Công ty cổ phần thực phẩm Kinh Đô: là công ty trẻ mới gia nhập vào thị trường nhưng là
bánh tươi, Kinh Đô mạnh về bánh qui, bánh cracker, snack, trong khi Bibica lại mạnh về
kẹo và bánh bông lan. Tràng An chiếm khoảng 4% thị phần bánh kẹo cả nước, Hải Hà
chiếm khoảng 6,5% thị phần bánh kẹo cả nước tính theo doanh thu. Thị phần của Kinh Đô
chiếm khoảng 20%, Bibica chiếm khoảng 7%, Hải Châu chiếm khoảng 3%. Số lượng các
cơ sở sản xuất bánh kẹo nhỏ hơn không có con số chính xác. Các cơ sở này ước tính chiếm
khoảng 30-40% thị phần.
Tràng An sở hữu một trong những thương hiệu mạnh nhất Việt Nam và các sản phẩm có
uy tín trên thị trường, sản phẩm của công ty liên tục được người tiêu dùng bình chọn là
“Hàng Việt Nam chất lượng cao” trong nhiều năm từ 1998 tới nay. Gần đây nhất Tràng An
được bình chọn danh sách một trong 500 thương hiệu mạnh Việt Nam-VCCI quyết định,
Sản phẩm bánh kẹo Tràng An được công nhận là 1/10 sản phẩm chủ lực của thành phố Hà
Nội.
Thương hiệu Tràng An đã được đăng kí sở hữu bảo hộ công nghiệp tại Việt Nam và một
số nước như Trung Quốc, Lào, Malaysia, Mông Cổ…
Nhiều sản phẩm của Tràng An chiếm lĩnh thị trường từ khi mới xuất hiện, có hương vị
thơm ngon đặc trưng, giá cả hợp lý như kẹo cốm,kẹo Chewy, bánh quế, snack Teppy và
dòng sản phẩm mới tung ra thị trường được người tiêu dùng tín nhiệm là bánh Pháp, bánh
mỳ Pháp Tyti. Hiện công ty vẫn đang giữ độc quyền tại Việt Nam về công nghệ sản xuất
Bánh Pháp và bánh mỳ Pháp, đây là một lợi thế cạnh tranh lớn của công ty.
Sản phẩm của Tràng An khá đa dạng về kiểu dáng và chủng loại đáp ứng được yêu cầu của
khách hàng. Các loại kẹo mang hương vị hoa quả nhiệt đới như Nho, dâu, cam… mang
hương vị sang trọng như cà phê, sô cô la, caramen… hương vị đồng quê như đậu đỏ, cốm,
taro…Chất lượng sản phẩm đồng đều, đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm nên được
người tiêu dùng đặc biệt là thị trường miền Bắc tín nhiệm.
Thị trường chủ yếu sản phẩm bánh kẹo của công ty là các quận huyện nội thành Hà Nội,
các tỉnh Miền Bắc và các tỉnh từ Quảng Bình trở ra(gần 30 tỉnh thành). Do có sự đầu tư
chú trọng phát triển thị phần, nâng cao năng lực cạnh tranh ở Miền Bắc, do vậy địa bàn chủ
yếu của công ty được củng cố và là nguồn thu chính của công ty.
Quan hệ liên kết với các nhà sản xuất nguyên liệu trong và ngoài nước đảm bảo để ổn định
nguồn nguyên liệu và giảm chi phí tiêu hao nguyên liệu. Các nhà cung cấp đầu vào của
7. Đưa ra các chiến lược dựa trên ưu thế của công ty để tránh các nguy cơ
thị trường(S/T)
8. Đưa ra các chiến lược dựa trên khả năng vượt qua hoặc hạn chế tối đa
các yếu điểm của công ty để tránh các nguy cơ thị trường(W/T).
1.2.4.1.Điểm mạnh(Strengths)
- Sản phẩm bánh kẹo của công ty cổ phần Tràng An có uy tín trên thị trường. Một số sản
phẩm của công ty trở thành thương hiệu nổi tiếng trên thị trường.
- Hệ thống phân phối tương đối rộng khắp trên địa bàn các tình phía Bắc và Bắc Trung
Bộ với các đại lý và cửa hàng bán lẻ, vị trí địa lý thuận tiện, gần thị trường tiêu thụ
chính(miền Bắc)
- Công ty có giá cả cạnh tranh so với các đối thủ.
- Sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng tốt.
- Hệ thống quản lý áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001-2000
- Các sản phẩm của công ty liên tục đạt danh hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao.
- Đội ngũ cán bộ công ty có trình độ tay nghề cao, có tinh thần trách nhiệm và gắn bó với
công ty, đội ngũ cán bộ có năng lực quản lý và điều hành.
- Máy móc thiết bị công nghệ đã và đang được chú trọng đầu tư, đáp ứng được nhu cầu về
chất lượng sản phẩm, mẫu mã mặt hàng .
- Có sản phẩm thế mạnh là snack và kẹo cứng. kẹo mềm hương cốm
- Có các chế độ thưởng phạt hợp lý, các hoạt động thể thao văn hóa văn nghệ khuyến
khích tinh thần lao động của công nhân viên.
1.2.4.2.Điểm yếu(Weaknesses) .
- Chất lượng lao động tương đối thấp, chưa đủ trình độ chuyên môn trong việc vận hành
các máy móc thiết bị hiện đại. Do vậy công ty mất thêm chi phí để đào tạo lại lực lượng
lao động này.
- Chi phí sản xuất trên tổng giá vốn hàng bán còn cao dẫn đến lợi nhuận thấp, khó khăn
trong tích lũy vốn đầu tư cho sản xuất.
- Máy móc thiết bị chưa đồng bộ.
- Kinh phí dành cho các hoạt động hỗ trợ xúc tiến bán hàng còn hạn hẹp, tần xuất qui mô
của các hoạt động quảng bá tiếp thị là quá ít so với các đối thủ cạnh tranh.
kẹo, và đây sẽ là những đối thủ tiềm năng của công ty.
- Ngày càng có nhiều công nghệ mới ra đời đòi hỏi công ty phải đổi mới công nghệ và có
đội ngũ công nhân sử dụng thành thạo công nghệ đó, nếu không sẽ bị tụt hậu.
- Điều kiện thời tiết khí hậu cùng với diễn biến phức tạp của nền kinh tế khiến cho giá
nguyên vật liệu trong thời gian gần đây không ổn định, khiến cho việc định giá sản phẩm
và công tác dự báo gặp nhiều khó khăn.
- Nhu cầu của khách hàng về mẫu mã, tính năng sản phẩm khá cao và thường xuyên thay
đổi. Việc đáp ứng được những thay đổi này là bài toán hóc búa đối với công ty trong chiến
lược xác định khách hàng và thị phần.
Từ việc phân tích điểm mạnh điểm yêu, cơ hội đe dọa ở trên , ta có thể tiến hành xây dựng
mô hình SWOT cho công ty cổ phần Tràng An:
Bảng 1.4: Ma trận SWOT công ty cổ phần Tràng An