2
đại học quốc gia Hà Nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Vũ Thị Ngọc Loan
phân tích tác động biến đổi xã hội
của cộng nghệ thích hợp với phát triển
nông thôn Việt Nam
(Nghiên cứu tr-ờng hợp công nghệ Khí sinh học
và Bếp đun cải tiến) Luận văn thạc sĩ
chuyên ngành ql khoa học và công nghệ
Mã số: 60 34 72 Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. Trần Ngọc Ca
VÀ BẾP CẢI TIẾN VỚI PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 32
2.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu về công nghệ Khí sinh học 32
2.1.1. Tỉnh Bắc Giang 32
2.1.2. Tỉnh Sơn La 34
2.1.3. Tỉnh Đồng Nai 35
2
2.2. Thông tin về hộ điều tra sử dụng công nghệ Khí sinh học 37
2.2.1. Tổng số hộ điều tra 37
2.2.2. Một số thông tin chung về hộ điều tra 37
2.2.3. Thu nhập bình quân của hộ điều tra 38
2.2.4. Phân loại hộ điều tra theo thu nhập 39
2.3. Tác động biến đổi xã hội của công nghệ Khí sinh học 39
2.3.1. Công trình Khí sinh học làm giảm gánh nặng nội trợ cho phụ
nữ 39
2.3.2. Công nghệ Khí sinh học cải thiện môi trường và sức khỏe 41
2.3.3. Công nghệ Khí sinh học thay đổi tập quán sinh hoạt và sản
xuất của người dân 44
2.3.4. Những khó khăn khi ứng dụng công nghệ Khí sinh học 47
*. Kết luận 50
2.4. Vài nét về địa bàn nghiên cứu về Bếp đun cải tiến 51
2.4.1. Huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ 51
2.4.2. Huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ 52
2.5. Thông tin về hộ điều tra sử dụng Bếp đun cải tiến 53
2.5.1. Thông tin về nhóm đối tượng 53
2.5.2. Tình hình sử dụng Bếp đun cải tiến 53
2.6. Tác động biến đổi xã hội của Bếp đun cải tiến 54
2.6.1. Bếp đun cải tiến làm giảm gánh nặng cho phụ nữ 54
2.6.2. Bếp đun cải tiến cải thiện môi trường và sức khỏe 59
2.6.3. Bếp đun cải tiến cải thiện vấn đề bình đẳng giới 61
6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam hiện có hơn 80% dân số sống ở nông thôn, lao động nông
nghiệp chiếm khoảng 75% tổng số lao động xã hội. Nói như vậy để thấy rằng,
nước ta là một nước nông nghiệp và nơi khởi đầu công cuộc đổi mới đất nước
cũng bắt đầu từ nông thôn. Trước đây, ở nông thôn Việt Nam về mặt bằng
dân trí, điều kiện để tiếp cận với công nghệ mới là rất khó. Tuy vậy, những
năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nhiều chính sách ưu
tiên cho phát triển công nghệ cho vùng nông thôn được ban hành, người dân ở
vùng nông thôn có nhiều cơ hội tiếp cận với công nghệ. Thực sự, nhiều
công nghệ dù là giản đơn được đưa về nông thôn cũng mang lại biến đổi xã
hội hết sức lớn lao, chẳng hạn công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến
là một ví dụ.
Thực tế, ở nông thôn Việt Nam, vấn đề về nhiên liệu đun nấu, không khí
trong bếp và sức khoẻ trong gia đình đang là một vấn đề bức bách. Bởi vì,
“Khoảng 80% người dân sống ở nông thôn và 70% trong số đó đun nấu bằng
nhiên liệu sinh khối. Loại nhiên liệu sinh khối chủ yếu là ở nông thôn bao
gồm gỗ, củi, rơm rạ, trấu, vỏ cây, lá…” [12; 2]. Sự cạn kiệt của nguồn nhiên
liệu này sẽ làm cho cuộc sống của người dân ở nông thôn ngày càng trở nên
khó khăn trong những năm tới vì các nguồn nhiêu liệu thay thế hoặc là có giá
thành quá cao hoặc là khó có thể phổ biến ở khu vực nông thôn.
Theo báo cáo của ngành Năng lượng và Lâm nghiệp, bên cạnh việc chế
biến thành các bán thành phẩm nông nghiệp, trên 50% sản lượng gỗ khai thác
từ rừng tự nhiên được sử dụng cho những mục đích trên. Rừng tự nhiên ngày
càng bị khai thác cạn kiệt để phục vụ cho nhu cầu đun nấu. Diện tích rừng
ngày càng bị thu hẹp dẫn đến những hậu quả không thể lường trước như hạn
hán, lụt lội, suy thoái môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và cuộc
sinh thái, song không thể không phát triển chăn nuôi. Vì chăn nuôi cung cấp
năng lượng và chất bổ dưỡng cho con người, tạo việc làm, tăng thu nhập và
cải thiện điều kiện sống cho hầu hết người lao động. Vấn đề đặt ra là phải hạn 1
Nguyễn Thiện (2007), Bảo vệ môi trường và phát triển chăn nuôi bền vững ở Việt Nam, Nxb
Nông nghiệp, Hà Nội.
8
chế mức độ gây ô nhiễm trong quá trình chăn nuôi. Hoạt động chăn nuôi,
cũng như bất cứ hoạt động nào diễn ra trong xã hội, dù nhỏ hay lớn đều phải
thân thiện với môi trường nhằm phát triển bền vững.
Mô hình xử lý chất thải động vật bằng công nghệ tạo Khí sinh học
(biogas) là một giải pháp thân thiện với môi trường, đang được ứng dụng
ngày càng rộng rãi ở nước ta.
Vì thế, việc ứng dụng công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến là cần
thiết. Nếu ứng dụng rộng rãi công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến thì
hiệu quả mà nó sẽ mang lại là rất lớn không những về kinh tế, về xã hội mà
còn giải quyết tốt các vấn đề về môi trường.
Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng công nghệ Khí sinh học và Bếp đun
cải tiến ở nông thôn vẫn chưa được phổ biến. Nguyên nhân chủ yếu là do
công tác tuyên truyền, cũng như chính sách phát triển công nghệ nói chung,
cũng như về công nghệ thích hợp nói riêng chưa thực sự được đầu tư, quan
tâm nhiều. Vì vậy, lựa chọn nghiên cứu đề tài “Phân tích tác động biến đổi
xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển nông thôn Việt Nam”
(Nghiên cứu trường hợp công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến) là
cần thiết, có ý nghĩa quan trọng để phần nào tác giả đưa ra bức tranh tổng
quát về tác động biến đổi xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển nông
thôn Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn vấn đề nghiên cứu: Đề tài tập trung phân tích tác động biến đổi xã
hội của công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến với phát triển nông thôn Việt
Nam tại một số địa bàn của tỉnh Bắc Giang, Sơn La, Đồng Nai và Phú Thọ.
Thời gian nghiên cứu: Tháng 8-12, năm 2009
Khách thể nghiên cứu: Hộ gia đình đang sử dụng công nghệ Khí sinh
học và hộ gia đình đang sử dụng Bếp đun cải tiến.
Đối tượng khảo sát:
- Trường hợp nghiên cứu công nghệ Khí sinh học: Hộ gia đình đang sử
dụng công nghệ Khí sinh học tại Bắc Giang, Sơn La và Đồng Nai.
10
- Trường hợp nghiên cứu Bếp đun cải tiến: Hộ gia đình đang sử dụng
Bếp đun cải tiến tại 2 huyện của tỉnh Phú Thọ: huyện Yên Lập và Cẩm Khê
5. Mẫu khảo sát
- Trường hợp nghiên cứu công nghệ Khí sinh học: Địa bàn khảo sát được
thực hiện tại 3 tỉnh: Bắc Giang, Sơn La và Đồng Nai. Kích cỡ mẫu điều tra:
Số hộ có sử dụng Khí sinh học: tổng số 180 hộ, mỗi tỉnh điều tra 60 hộ vì số
mẫu ở các tỉnh không lớn nên chỉ phân tích chung, không phân tích theo tỉnh.
- Trường hợp nghiên cứu Bếp đun cải tiến: Địa bàn được thực hiện tại 2
huyện của tỉnh Phú Thọ: huyện Cẩm Khê và Yên Lập. Kích cỡ mẫu điều tra:
Số hộ sử dụng Bếp đun cải tiến: tổng số 100 hộ.
6. Vấn đề nghiên cứu
Công nghệ thích hợp có đã có tác động biến đổi xã hội như thế nào đối
với phát triển nông thôn Việt Nam?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Trong điều kiện xuất phát điểm về trình độ dân trí, khả năng áp dụng
liệu thông tin quan trọng trong quá trình nghiên cứu.
9. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được cấu trúc gồm ba
chương. Chương 1 trình bày những khái niệm chủ chốt, những vấn đề lý luận
có liên quan mật thiết đến nội dung nghiên cứu của luận văn. Chương 2 được
sử dụng để phân tích tác động biến đổi xã hội của công nghệ Khí sinh học và
Bếp đun cải tiến với phát triển nông thôn Việt Nam. Trong chương này, thông
qua nghiên cứu thực tế, tác giả phân tích tác động tích cực về nhiều mặt của
công nghệ thích hợp mà cụ thể là công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến
đang được ứng dụng triển khai tại nông thôn Việt Nam. Trên cơ sở phân tích
của chương 2, từ đó tác giả đề xuất các giải pháp phát triển và ứng dụng công
nghệ thích hợp ở nông thôn Việt Nam trong chương 3.
12
CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Một số khái niệm đƣợc sử dụng trong luận văn
Một khái niệm có cấu trúc gồm hai phần, nội hàm và ngoại diên, nội hàm
là những thuộc tính, bản chất tạo thành khái niệm, còn ngoại diên là tất cả
những các thể có chứa những thuộc tính mà khái niệm chứa đựng. Nếu xét ở
góc độ phân tích khái niệm, định nghĩa một khái niệm chỉ mới cho biết nội
hàm của khái niệm đó, còn phân loại sẽ cho biết ngoại diên khái niệm.
Trước khi tiến hành trình bày những nội dung cơ sở lý thuyết của luận
văn này, tác giả xin đề nghị một cách hiểu thống nhất đối với một số khái
niệm công cụ quan trọng được sử dụng trong nghiên cứu, đó là các khái niệm:
lớn các thành viên của một xã hội;
Riêng những biến đổi chỉ tác động đến một số ít cá nhân, thì ít được các
nhà xã hội học quan tâm và chú ý.
Auguste Comte đưa ra thuật ngữ xã hội học đã tin tưởng rằng khi các nhà
xã hội học xác định những nguồn gốc của sự biến đổi xã hội, thì họ có thể giúp
chương trình cho một tương lai tốt hơn. Auguste Comte cho rằng, biến đổi xã
hội là:
- Chắc chắn xảy ra;
- Sẽ theo một con đường phát triển;
- Những tiến bộ đương nhiên hướng tới một xã hội tốt hơn.
Auguste Comte tin tưởng rằng, thông qua biến đổi xã hội, nhân loại
chuyển từ người nguyên thủy dốt nát đến con người được giáo dục, và những
cái mà chúng ta được học hoặc được phát triển tiến về con đường tách khỏi sự
sắp đặt của thuợng đế vì sự tiến bộ của nhân loại.
Đặc điểm của biến đổi xã hội
Biến đổi xã hội là hiện tượng phổ biến, nhưng nó diễn ra không giống
nhau giữa các xã hội;
Biến đổi xã hội khác biệt về thời gian và hậu quả;
Biến đổi xã hội vừa có tính kế hoạch, vừa có tính phi kế hoạch.
14
Các khái niệm liên quan
Có nhiều cách hiểu biết khác nhau về sự biến đổi xã hội; một phần do
quan điểm học thuật, cách tiếp cận vấn đề khác nhau, một phần bởi khái niệm
biến đổi xã hội có liên quan gần gũi với một vài khái niệm gần kề nó. Cho
nên, cần phải hiểu rõ hơn một số khái niệm liên quan đến biến đổi xã hội.
- Biến cố xã hội: các nhà xã hội học thường phân biệt khái niệm biến cố
xã hội với biến đổi xã hội. Một biến cố xã hội hay một sự kiện xã hội như một
cuộc bầu cử, biểu tình, đình công, có thể đem lại sự thay đổi và cũng có thể
không đem lại một sự thay đổi nào. Chính vì vậy, một số nhà xã hội học đưa
"phát triển” - đây là khái niệm được nhiều nhà xã hội học quan tâm và trở
thành một khái niệm thịnh hành nhất vào nửa sau của thế kỷ 20. Các nhà xã
hội học cho rằng, phát triển là một quá trình trong đó toàn thể loài người áp
dụng những công cụ hiện đại của khoa học và công nghệ vào những mục tiêu
của mình, qua những thời kỳ khác nhau và có tính không thể đảo ngược của
quá trình đó.
1.1.2. Khái niệm công nghệ
Ngày nay, cụm từ "công nghệ” đã trở nên phổ biến như công nghệ chế
biến, công nghệ nano, công nghệ vũ trụ.v.v. nó rất gần gũi với hoạt động của
con người. Nhưng để hiểu được nó cần một quá trình tư duy về nó. Thuật ngữ
công nghệ xuất phát từ tiếng Hy Lạp "techne” có nghĩa là một nghệ thuật hay
kỹ năng, và "logia” có nghĩa là một khoa học hay sự nghiên cứu.
Khi xem xét công nghệ với tư cách là sản phẩm có thể trao đổi, mua bán,
một thành tố quyết định của thị trường công nghệ. Trong báo cáo của Ban
Chính sách Công nghệ, Viện Chiến lược và Chính sách khoa học và công
nghệ tại Hội nghị Khoa học năm 2002 đã nêu ra một khái niệm về công nghệ
như sau:
Định nghĩa 1: Theo tác giả F.Root, “công nghệ là dạng kiến thức có thể
áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm
mới”. Trong định nghĩa này, bản chất của công nghệ là dạng kiến thức và mục
tiêu sử dụng công nghệ là áp dụng vào sản xuất và tạo ra các sản phẩm mới.
16
Định nghĩa 2: do tác giả R.Jones (1970) đưa ra, cho rằng “công nghệ là
cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng hóa”. Như vậy,
với định nghĩa này có thể hiểu là: Về bản chất, công nghệ là cách thức (cũng
là kiến thức) và về mục tiêu, công nghệ dùng để chuyển hóa nguồn lực thành
hàng hóa.
Định nghĩa 3: “Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình
hoặc/và các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và
Định nghĩa 8: Tổ chức PRODEC (1982), theo đó “công nghệ là mọi loại
kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công
nghiệp, chế biến và dịch vụ”. Như vậy, theo định nghĩa này, xét về bản chất,
công nghệ được hiểu là kỹ năng, kiến thức, thiết bị, phương pháp và xét về
mục tiêu, công nghệ được hiểu là để sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế
biến và dịch vụ.
Định nghĩa 9: Ngân hàng Thế giới (1985) đưa ra định nghĩa như sau:
“công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn thành sản phẩm, gồm 3 yếu
tố: (1) Thông tin về phương pháp; (2) phương tiện, công cụ sử dụng phương
pháp để thực hiện việc chuyển hóa và (3) sự hiểu biết phương pháp hoạt động
như thế nào và tại sao?. Như vậy, xét về bản chất, công nghệ là thông tin, công
cụ và sự hiểu biết và xét về mục tiêu, công nghệ để chuyển hóa nguồn vào
thành sản phẩm.
Định nghĩa 10: Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất, và như
vậy, nó được mua và bán trên thị trường như một hàng hóa được thể hiện ở
một trong những dạng sau:
(1) Tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và
bán trên thị trường, đặc biệt là gắn với các quyết định đầu tư.
(2) Nhân lực, thông thường là có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình
độ cao và chuyên sâu, với khả năng sử dụng đúng các thiết bị và kỹ thuật và
làm chủ được bộ máy giải quyết vấn đề và sản xuất thông tin.
18
(3) Thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại,
được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần của hoạt
động độc quyền”.
Định nghĩa này của UNCTAD (1972) cho thấy, về bản chất công nghệ là
tư liệu sản xuất, nhân lực có trình độ và thông tin; và có mục tiêu là làm đầu
vào cần thiết cho sản xuất.
Định nghĩa 11: Tác giả Sharif (1986) cho rằng “công nghệ bao gồm khả
hoạt động của đời sống kinh tế- xã hội. Mỗi người dưới một góc độ khác
nhau, ở một vị trí khác nhau có thể nhìn nhận công nghệ dưới những khía
cạnh khác nhau.
Về nội dung công nghệ: Theo quan điểm của Trung tâm Chuyển giao
công nghệ châu Á- Thái bình Dương (APCTT) thì bất cứ một công nghệ nào,
dù đơn giản đến đâu cũng bao gồm 4 thành tố có tác động qua lại lẫn nhau để
tạo ra biến đổi mong muốn.
- Công nghệ hàm chứa trong các vật thể (Technoware- T) bao gồm
mọi phương tiện vật chất như các công cụ, trang bị, máy móc, vật liệu,
phương tiện vận chuyển, nhà xưởng. Có thể gọi dạng hàm chứa này là
phương tiện kỹ thuật.
- Công nghệ hàm chứa trong con người (Humanware-H) bao gồm mọi
năng lực của con người về công nghệ như kỹ năng, kinh nghiệm, kiến thức,
tính sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng lãnh đạo, đạo đức lao động Dạng
hàm chứa này gọi là phần con người của công nghệ.
- Công nghệ hàm chứa trong các kiến thức (Inforware-I) có tổ chức đã
được tư liệu hoá như lý thuyết, các khái niệm, các phương pháp, thông số,
công thức, bí quyết. Dạng hàm chứa này gọi là phần thông tin của công nghệ.
- Công nghệ hàm chứa trong các khung thể chế (Orgaware-H) tạo nên
khung tổ chức của công nghệ, như phần thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ, sự
phối hợp, mối liên kết. Dạng hàm chứa này gọi là phần tổ chức của công nghệ.
20
Theo cách hiểu phổ thông hiện nay thì công nghệ bao gồm 2 phần là
"phần cứng” và "phần mềm”.
Công nghệ phần cứng là phần công nghệ có liên quan đến cơ sở hạ tầng
(nhà xưởng, điện- nước, giao thông.v.v.) và các phương tiện kỹ thuật (máy
móc, thiết bị, vật tư, dụng cụ ) cần thiết và có vai trò nối dài khí quan của
con người trong quá trình thực hiện các quy trình công nghệ.
Công nghệ phần mềm là phần công nghệ có liên quan đến việc sử dụng,
Qua biu 1 cho ta thy chnh th thng nht ca cụng ngh. Cụng ngh
ú l tng ho mi yu t t yu t cụng ngh hin thõn trong con ngi, n
cụng ngh hin thõn trong vt th biu hin phn k thut, cụng ngh hin
thõn trong ti liu k thut biu hin phn thụng tin, cho n cụng ngh hin
thõn trong th ch biu hin phn t chc. Nh vy khi cp n cụng
ngh, chỳng ta phi ng thi phn tớch cỏc yu t cu thnh nờn cụng ngh
trong mt chnh th thng nht khụng tỏch ri, nu khụng chỳng ta s phm
phi sai lm khú trỏnh khi khi a ra quyt nh la chn cụng ngh.
- Tớnh sinh th v tin hoỏ
õy l thuc tớnh ca c th sng, tc l bo m cung cp cỏc yu t
u vo, cú mụi trng tt, c thớch nghi hoỏ, cú bo dng, duy trỡ v
hon thin. Cụng ngh ch cú th tn ti v phỏt trin nu c nuụi dng.
phần thông
tin
phần thông
tin
phần con
ng-ời
phần kỹ
thuật
phần tổ
chức
22
Nếu xem công nghệ như một đối tượng tĩnh, một sản phẩm “chết" thì trước
sau công nghệ sẽ trở thành gánh nặng cho người sử dụng nó.
Công nghệ nào cũng có riêng vòng đời của mình cho dù công nghệ nhập
từ nước ngoài hay công nghệ phát sinh trong nước đều tri qua những giai
đoạn có quan hệ mật thiết lẫn nhau mà người ta gọi nó là vòng đời công
nghệ.Vòng đời của công nghệ gồm 4 giai đoạn: nghiên cứu (Research), triển
không chỉ dừng ở khía cạnh kĩ thuật, mà còn bao quát cả khía cạnh thưng mại
hoá, sở hữu công nghiệp và những vấn đề xung quanh hoạt động chuyển giao
công nghệ. Như vậy, công nghệ không chỉ đem lại thông tin về chi tiết kỹ
thuật mà còn cung cấp cả các chi tiết khác về mặt công nghệ như đào tạo,
huấn luyện, chuyên gia. Để sử dụng công nghệ cần có đầy đủ thông tin để đưa
ra các quyết định đầu tư đúng đắn.
- Tính đặc thù
Đặc thù theo mục tiêu (Objective Specific)
Mặc dù khái niệm công nghệ rất rộng nhưng rất cụ thể, công nghệ luôn
gắn liền với việc giải quyết một mục tiêu cụ thể. Mỗi một công nghệ cho ra
một sản phẩm nhất định với số lượng và chất lượng nhất định, tương ứng với
một lượng hao phí nhất định về nhân vật lực để tạo ra sản phẩm đó.
Xuất phát từ thuộc tính đặc thù của công nghệ hoạt động (R&D) được
định hướng cụ thể tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi doanh nghiệp và
mỗi quốc gia khác nhau.
Đặc thù về địa điểm (Location specific)
Khi một công nghệ được chuyển giao từ nơi này sang nơi khác thì nó trở
nên khác trước. Khi trở nên lạc hậu ở một nước không còn đáp ứng việc tạo
sản phẩm mới thì ở nước nước khác nó có thể vẫn được coi là mới và thích
hợp. Điều đó có nghĩa là lúc sản phẩm đang ở giai đoạn thoái trào tại nước
phát triển công nghệ thì nó lại ở trong giai đoạn cao trào ở nước tiếp nhận
công nghệ có nền công nghệ kém phát triển hơn. Sự khác nhau này là do yếu
tố của con người, môi trường, thị trường, các yếu tố đầu vào, văn hoá của một
nước quyết định. Điều này cho thấy rằng, chuyển giao công nghệ không đơn
24
thuần là chuyển dịch công nghệ từ vị trí địa lý này sang vị trí khác mà là cả
quá trình cải tiến sửa đổi thích nghi hoá, "địa phương hoá" cho phù hợp với
điều kiện của môi trường mới.
1.1.3. Khái niệm công nghệ thích hợp
25
- Tính thích nghi hoá
- Góp phần tăng năng suất lao động và giải quyết tốt việc làm
- Tiết kiệm nguồn tài nguyên
- Bảo vệ môi trường sinh thái
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu, tác giả lựa chọn hai công nghệ thích
hợp đang được triển khai ở vùng nông thôn Việt Nam, đó là công nghệ Khí
sinh học và công nghệ Bếp đun cải tiến.
1.1.4. Công nghệ Khí sinh học
"Khí sinh học là một hỗn hợp khí được sinh ra trong quá trình phân giải kỵ
khí của các hợp chất hữu cơ như: Phân động vật, xác động thực vật và các hợp
chất hữu cơ khác Thành phần chủ yếu của khí sinh học là khí mêtan (CH4),
điôxit các bon (CO2) và một số khí khác. Mêtan lại là khí cháy được nên khí sinh
học cũng là khí cháy được” [7; 9].
Công nghệ Khí sinh học là công nghệ đa mục tiêu, được ứng dụng với
ba mục đích chính: xử lý chất thải hữu cơ; sản xuất khí sinh học để cung cấp
năng lượng; sản xuất bã thải để làm phân bón cho cây trồng, nuôi thuỷ sản và
làm thức ăn bổ sung cho gia súc, gia cầm.
Công trình Khí sinh học: bao gồm thiết bị khí sinh học, đường ống và
dụng cụ sử dụng khí, bể lưu giữ và chế biến phân hữu cơ. Trong đó, trung tâm
của hệ thống khí sinh học là thiết bị khí sinh học. Nó là thiết bị dùng để phân
huỷ các hợp chất hữu cơ, sản xuất ra hai sản phẩm là khí sinh học và bã thải.
Hiện có rất nhiều loại thiết bị khí sinh học nhưng có thể chia thành hai loại
chính như sau:
Thiết bị chảy qua và khuấy trộn đều: Đây là loại đơn giản đã được dùng
từ lâu để sản xuất khí sinh học từ nguồn nguyên liệu đặc biệt như phân động
vật, cây xanh, rác hữu cơ.
Thiết bị năng suất cao: Đây là loại mới phát triển vài chục năm gần đây
để xử lý nước thải công nghiệp và sinh hoạt. Mục tiêu chủ yếu của các công