Phân tích thống kê hoạt động tín dụng tại Sở giao dịch ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thời kỳ 2003-2008 - Pdf 10

Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
Nguyễn Thị Ngọc Diệp Lớp: Thống kê 47B
Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DN Doanh nghiệp
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
DNCV Dư nợ cho vay
DSCV Doanh số cho vay
DSTN Doanh số thu nợ
HGĐ Hộ gia đình
NHN
O
&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
NHTM Ngân hàng thương mại
NHCP Ngân hàng cổ phần
SGD Sở giao dịch
TCKT Tổ chức kinh tế
TCTD Tổ chức tín dụng
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
USD Đồng đôla
VNĐ Việt Nam đồng
VHĐ Vốn huy động
VTD Vốn tín dụng
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU
δ
i
Lượng tăng, giảm tuyệt đối liên hoàn
Δ
i

cũng ngày càng phát triển và trở thành các trung gian tài chính đưa vốn từ nơi thừa
sang nơi thiếu, đáp ứng được nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp cũng như của cá
nhân và hộ gia đình. Đặc biệt là từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường,
sản xuất hàng hóa phát triển, nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp phục vụ sản xuất
cũng như của cá nhân, hộ gia đình là rất lớn. Chính vì vậy người ta cần vốn tín dụng
để thực hiện mục đích của mình. Có thể nói ở nước ta hiện nay chủ yếu mới chỉ có
hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại thực hiện nhiệm vụ này. Một mặt
khác, ở Việt Nam hiện nay, tín dụng là hoạt động chiểm tỷ trọng khoảng 70% doanh
thu của các Ngân hàng thương mại. Chính vì thế có thể nói tín dụng là một trong
những nghiệp vụ quan trọng nhất tại các Ngân hàng thương mại và cũng là lĩnh vực
mà các ngân hàng cạnh tranh nhau gay gắt nhất. Do đó, vấn đề đặt ra là cần quản lý
tốt hoạt động tín dụng.
Để quản lý tốt hoạt động tín dụng, vấn đề cần giải quyết là làm sao để có thể
huy động vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả. Do đó, việc phân tích hoạt động
tín dụng tại các ngân hàng để thấy được những mặt mạnh, mặt yếu từ đó đề xuất
những kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng là việc rất
cần thiết.
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tín dụng trong các Ngân hàng
thương mại, trong thời gian thực tập tại Sở giao dịch, ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam em đã chọn đề tài: “ Phân tích thống kê hoạt động tín
dụng tại Sở giao dịch ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
thời kỳ 2003-2008” để làm luận văn tốt nghiệp.
Luận văn đi sâu vào việc sử dụng các phương pháp phân tích thống kê để phân
tích, đánh giá hoạt động tín dụng của Sở giao dịch ngân hàng Nông nghiệp và Phát
Nguyễn Thị Ngọc Diệp Lớp: Thống kê 47B
1
Luận văn tốt nghiệp
triển Nông thôn Việt Nam thời kỳ 2003-2008 và đưa ra một số giái pháp kiến nghị
nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng và công tác thống kê trong hoạt động
tín dụng tại Sở giao dịch ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh
toán”.
Như vậy, ngân hàng thương mại làm nhiệm vụ trung gian tài chính, đi vay để
cho vay qua đó thu lời từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi. Ngân hàng
thương mại thực sự là một loại hình doanh nghiệp dịch vụ tài chính. Mặc dù giữa
ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính trung gian khác rất khó phân biệt sự
khác nhau nhưng người ta vẫn phải tách ngân hàng thương mại ra một nhóm riêng vì
những lý do rất đặc biệt của nó như tổng tài sản có của ngân hàng thương mại luôn là
khối lượng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, hơn nữa khối lượng séc hay
tài khoản gửi không kì hạn mà nó có thể tạo ra cũng là bộ phận quan trọng trong tổng
cung tiền tệ M
1
của cả nền kinh tế. Có thể thấy ngân hàng thương mại có vị trí rất
quan trọng trong hệ thống ngân hàng cũng như trong nền kinh tế quốc dân.
1.1.2. Các chức năng của ngân hàng thương mại
Chức năng trung gian tín dụng
Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Nguyễn Thị Ngọc Diệp Lớp: Thống kê 47B
3
Luận văn tốt nghiệp
Chức năng làm trung gian tín dụng của NHTM đóng vai trò quan trọng đối với
tất cả các đối tượng trong quan hệ tín dụng.
Với người gửi tiền, họ sẽ thu được tiến từ vốn tạm thời nhàn rỗi với khoản lãi
tiền gửi. Hơn nữa, ngân hàng còn đảm bảo an toàn cho khoản tiền gửi và cung cấp
cho khách hàng các dịch vụ thanh toán tiện lợi.
Với người đi vay, họ sẽ thoả mãn nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh hoặc tiêu dùng mà không phải tốn kém nhiều thời gian cũng như chi phí cho
việc tìm nơi cung cấp nguồn vốn.
Bản thân các ngân hàng thương mại thì sẽ thu được lợi nhuận từ chênh lệch

phiếu kho bạc hoặc các loại chứng khoán khác cho danh mục của mình, thì tiền gửi
được tạo ra cho quyền lợi của người bán những chứng khoán này.
Ý nghĩa kinh tế của các chức năng tạo tiền của các NHTM phản ánh trước hết
từ nhu cầu bên trong của chính hệ thống và từng NHTM riêng lẻ. Điều hiển nhiên ai
cũng phải thừa nhận là, để có thể hoạt động, và đặc biệt cho sự phát triển của các
hoạt động tín dụng và đầu tư của các NHTM, yêu cầu bản thân các NHTM, bằng các
nghiệp vụ kinh doanh truyền thống phải tạo điều kiện cho sự tăng trưởng nguồn vốn,
phù hợp với yêu cầu tăng trưởng kinh tế. Hơn thế nữa, năng lực của hệ thống NHTM
trong việc tạo tiền không chỉ đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của bản thân các
NHTM mà còn mang ý nghĩa kinh tế to lớn: với một hệ thống tín dụng năng động có
vai trò cực kỳ quan trọng như là người mở đầu, người tham gia và có khi là người
nâng đỡ và quyết định đối với mọi quá trình sản xuất. Vai trò của các NHTM chiếm
vị trí đặc biệt quan trọng, nhằm sử dụng tốt nhất vốn tạm thời thừa của các doanh
nghiệp và các nhân và nói rộng ra là của nền kinh tế, và đồng thời bổ sung kịp thời
nhu cầu vốn khi thiếu.
1.1.3. Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại có ba loại nghiệp vụ chính, đó là nghiệp vụ nợ, hay còn
gọi là nghiệp vụ huy động vốn, nghiệp vụ có (sử dụng vốn), và nghiệp vụ trung gian
(thanh toán hộ khách hàng).
1.1.3.1. Nghiệp vụ nợ
Nguyễn Thị Ngọc Diệp Lớp: Thống kê 47B
5
Luận văn tốt nghiệp
Đây là nghiệp vụ huy động vốn, tạo nguồn vốn dùng cho các hoạt động của
ngân hàng và bao gồm các nguồn vốn sau:
Nguồn vốn tự có, coi như tự có và vốn dự trữ
- Vốn điều lệ: Đây là số vốn ban đầu được hình thành khi NHTM được thành
lập, nó có thể do Nhà nước cấp đối với NHTM quốc doanh, có thể là vốn đóng góp
của các cổ đông đối với NHTM cổ phần, có thể là vốn góp của các bên liên doanh đối
với NHTM liên doanh, hoặc vốn do tư nhân bỏ ra của NHTM tư nhân. Mức vốn điều

theo mệnh giá (người mua kỳ phiếu trả tiền mua theo mệnh giá và được trả cả gốc lẫn
lãi khi đến hạn); hai là:phát hành dưới hình thức chiết khấu (người mua kỳ phiếu sẽ
trả số tiền mua bằng mệnh giá trừ đi số tiền chiết khấu và sẽ được hoàn trả theo đúng
mệnh giá khi đến hạn).
Vốn vay
Bao gồm vay của ngân hàng trung ương dưới hình thức tái chiết khấu hoặc cho
vay ứng trước, vay ngân hàng nước ngoài, vay các tổ chức tín dụng khác, và các
khoản vay khác trên thị trường như: phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành hợp
đồng mua lại, phát hành giấy nợ phụ, các khoản vay USD ngoài nước… Với nguồn
vốn vay này, ngân hàng thương mại có trách nhiệm sử dụng có hiệu quả và hoàn trả
đúng hạn cả vốn lẫn lãi.
Các nguồn vốn khác
Bao gồm các nguồn vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn uỷ thác đầu tư. Vốn
này để cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng cơ bản tập trung của Nhà nước
hoặc trợ giúp cho đầu tư phát triển những chương trình dự án có mục tiêu riêng.
1.1.3.2. Nghiệp vụ có
Đây là những nghiệp vụ sử dụng nguồn vốn của mình để thực hiện kinh doanh
tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.
Nghiệp vụ ngân quỹ
- Tiền két: tiền mặt hiện có tại quỹ nghiệp vụ. Nhu cầu dự trữ tiền két cao hay
Nguyễn Thị Ngọc Diệp Lớp: Thống kê 47B
7
Luận văn tốt nghiệp
thấp phụ thuộc vào môi trường nơi ngân hàng hoạt động và thời vụ.
- Tiền dự trữ: gồm tiền dự trữ bắt buộc là số tiền bắt buộc phải giữ lại theo tỷ lệ
nhất định so với số tiền khách hàng gửi được quy định bởi ngân hàng trung ương;
tiền dự trữ vượt mức là số tiền dự trữ ngoài tiền dự trữ bắt buộc; và tiền gửi thanh
toán tại ngân hàng trung ương và các ngân hàng đại lý, tiền gửi loại này được sử
dụng để thực hiện các khoản thanh toán chuyển khoản giữa các ngân hàng khi khách
hàng tiến hành các thể thức thanh toán không dùng tiền mặt như séc, uỷ nhiệm chi,

Nghiệp vụ đầu tư: NHTM dùng vốn để kinh doanh bất động sản, góp vốn liên
doanh và kinh doanh chứng khoán. Trong đó đầu tư vào chứng khoán là một hình
thức khá phổ biến, nó mang lại thu nhập cho ngân hàng, nâng cao khả năng thanh
khoản (vì chứng khoán rất đa dạng, nhiều thể loại và có tính thanh khoản cao).
NHTM có thể mua chứng khoán ngắn hạn của Chính phủ, nó vừa tăng thu nhập cho
ngân hàng, vừa góp phần cân bằng thu chi ngân sách thường xuyên. NHTM còn được
phép mua cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp tham gia vào việc thành lập và
quản lý các doanh nghiệp. Tuy nhiên NHTM chỉ được đầu tư chứng khoán có giới
hạn không được để hoạt động này lấn át hoạt động cho vay.
Nghiệp vụ đầu tư đã giúp cho ngân hàng có thể đa dạng hoá các hoạt động kinh
doanh của ngân hàng nhằm phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh của ngân hàng đồng thời khai thác và sử dụng tối đa nguồn vốn đã huy động.
1.1.3.3. Nghiệp vụ trung gian
Ở đây ngân hàng thực hiện nhiệm vụ phục vụ khách hàng, thực hiện các nhiệm
vụ theo sự uỷ thác của khách bao gồm:
- Nghiệp vụ thanh toán: ngân hàng là một trung tâm thanh toán không bằng tiền
mặt, nó thanh toán dưới các hình thức: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng,
thẻ thanh toán, ngân phiếu thanh toán.
- Nghiệp vụ thu hộ: ngân hàng thay mặt khách hàng nhận tiền theo các chứng
khoán khác nhau như séc, kỳ phiếu, các chứng từ hàng hoá và chứng khoán có giá.
- Nghiệp vụ thương mại: ngân hàng mua hộ hoặc bán hộ khách hàng, hàng hoá
Nguyễn Thị Ngọc Diệp Lớp: Thống kê 47B
9
Luận văn tốt nghiệp
ở đây chủ yếu là các chứng khoán.
- Nghiệp vụ phát hành chứng khoán: đây là một nghiệp vụ quan trọng và ngày
càng phát triển. Các công ty cổ phần, các doanh nghiệp muốn phát hành chứng khoán
có giá trị như cổ phiếu, kỳ phiếu đầu tư có mục đích... nhằm thu hút vốn để tăng
nguồn vốn, hay khi Nhà nước phát hành công trái thì thường nhờ các ngân hàng,
thông qua ngân hàng thương mại làm trung gian tiêu thụ các chứng khoán đó và được

nghiệp vụ của ngân hàng là hết sức quan trọng, do đó người làm ngân hàng phải biết
bố trí một cách khoa học và phù hợp giữa các nghiệp vụ để đảm bảo ngân hàng hoạt
động có hiệu quả.
1.2. Tổng quan về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
Hoạt động tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng, nó là
hoạt động sinh lợi chủ yếu và luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng tài sản có của
các ngân hàng thương mại, do đó nó có vị trí rất quan trọng trong hoạt động của ngân
hàng. Chính vì vậy vấn đề về tín dụng rất được các ngân hàng quan tâm, trong khuôn
khổ luận văn em xin được đi sâu vào hoạt động tín dụng của NHTM.
1.2.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
1.2.1.1. Định nghĩa về tín dụng
Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát từ chữ Latinh “Creditium” có nghĩa là tin
tưởng, tín nhiệm. Trong Tiếng Anh được gọi là Credit. Theo ngôn ngữ dân gian Việt
Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn.
Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số người
tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên cạnh đó luôn
có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện tượng này làm nảy sinh
mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời
thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do
sử dụng vốn vay. Đây chính là quan hệ tín dụng.
Như vậy tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo
lợi tức, nó để thoả mãn nhu cầu của cả 2 bên, do đó nó là một quan hệ bình đẳng, cả
hai bên cùng có lợi và mang tính thoả thuận lớn.
Nguyễn Thị Ngọc Diệp Lớp: Thống kê 47B
11
Luận văn tốt nghiệp
Quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu, thậm chí mối quan hệ tín
dụng thô sơ nhất được phát sinh ngay từ sau khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã.
Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, qua từng thời kỳ, từng

thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả hai bên cùng có lợi.
1.2.2. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dưới hình thức tiền tệ: cho vay bằng tiền
tệ là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và đáp ứng mọi đối tượng trong nền kinh
tế quốc dân.
- Tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành phần
trong xã hội chứ không phải hoàn toàn là vốn thuộc sở hữu của chính mình như tín
dụng nặng lãi hay tín dụng thương mại.
- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối
với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội. Có những trường hợp
mà nhu cầu tín dụng ngân hàng gia tăng nhưng sản xuất và lưu thông hàng hoá không
tăng, nhất là trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, sản xuất và lưu thông hàng hoá bị co
hẹp nhưng nhu cầu tín dụng vẫn gia tăng để chống tình trạng phá sản. Ngược lại
trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp mở mang sản xuất, hàng hoá lưu
chuyển tăng mạnh nhưng tín dụng ngân hàng lại không đáp ứng kịp. Đây là một hiện
tượng rất bình thường của nền kinh tế.
- Hơn nữa tín dụng ngân hàng còn có một số ưu điểm nổi bật so với các hình
thức khác là:
Tín dụng ngân hàng có thể thoả mãn một cách tối đa nhu cầu về vốn của các
tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốn bằng
tiền nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức và khối lượng lớn.
Tín dụng ngân hàng có thời hạn cho vay phong phú, có thể cho vay ngắn hạn,
trung hạn và dài hạn do ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các nguồn vốn với nhau để
đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay.
Tín dụng ngân hàng có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp với
Nguyễn Thị Ngọc Diệp Lớp: Thống kê 47B
13
Luận văn tốt nghiệp
mọi đối tượng trong nền kinh tế, do đó nó có thể cho nhiều đối tượng vay.
1.2.3. Phân loại tín dụng ngân hàng

Tín dụng không có tài sản đảm bảo: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay
phát ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp. Loại hình này thường
được áp dụng với những khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài, sòng phẳng
với ngân hàng. Những khách hàng này thường phải có tình hình tài chính lành mạnh
và có uy tín đối với ngân hàng như: trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả lãi lẫn gốc, có dự án
sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ…
Trong nền kinh tế thị trường, việc phân loại tín dụng ngân hàng theo các hình
thức trên chỉ có ý nghĩa tương đối. Khi các hình thức tín dụng ngày càng đa dạng thì
cách phân loại càng chi tiết. Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sự vận
động của vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để so sánh, đánh giá
hiệu quả kinh tế của chúng.
1.2.4. Những ưu điểm và nhược điểm của tín dụng ngân hàng
Những ưu điểm của tín dụng ngân hàng
-Về chủ thể: rất linh hoạt, rộng lớn bao gồm: các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá
nhân, các tổ chức xã hội… Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng vừa là người cho vay,
vừa là người đi vay. Với tư cách là người đi vay, ngân hàng nhận tiền gửi của các
doanh nghiệp, cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn
trong xã hội. Với tư cách là người cho vay, ngân hàng cung cấp tín dụng cho các
doanh nghiệp, cá nhân…
-Do là nguồn vốn huy động của xã hội với khối lượng và thời hạn khác nhau, tín
dụng ngân hàng có thể thoả mãn các nhu cầu vốn đa dạng về khối lượng, cũng như
thời hạn và mục đích sử dụng. Tín dụng ngân hàng không chỉ đáp ứng nhu cầu về
vốn ngắn hạn để dự trữ vật tư hàng hoá, trang trải chi phí sản xuất và thanh toán các
khoản nợ mà còn tham gia cấp vốn cho đầu tư, xây dựng cơ bản và đáp ứng một phần
đáng kể nhu cầu tín dụng tiêu dùng cá nhân.
-Có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp vốn cho nhu cầu kinh doanh
Nguyễn Thị Ngọc Diệp Lớp: Thống kê 47B
15
Luận văn tốt nghiệp
của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vì những doanh nghiệp này chưa có đủ điều kiện để

quá trình sản xuất và tiêu thụ, tạo điều kiện để duy trì mối liên hệ hữu cơ giữa sản
xuất, lưu thông hàng hoá và tiêu dùng xã hội.
Ngày nay trong quá trình toàn cầu hoá, quan hệ quốc tế ngày càng tăng cường,
mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của thị trường thế giới, do đó tín dụng ngân hàng
trên lĩnh vực tín dụng quốc tế cũng trở nên quan trọng giúp cho việc liên kết chuyển
giao công nghệ giữa các nước trên thế giới được nhanh chóng, rút ngắn thời gian phát
triển.
Như vậy hoạt động tín dụng của các NHTM đã góp phần thúc đẩy lực lượng
sản xuất phát triển nhanh chóng ngay cả trong nước và quốc tế.
Tín dụng ngân hàng là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng, từ
đó giúp cho việc tích tụ và tập trung sản xuất
Tín dụng ngân hàng tập trung các khoản tín dụng nhỏ lẻ thành các khoản vốn
lớn, tạo khả năng đầu tư vào các công trình lớn hiệu quả cao. Đồng thời các doanh
nghiệp cũng nhờ các khoản tín dụng mà có đủ vốn để mở rộng sản xuất rút ngắn thời
gian tích luỹ vốn. Tóm lại, tín dụng đã đóng vai trò tích cực thúc đẩy quá trình tích tụ
và tập trung vốn cho sản xuất.
Thông qua tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp nhận được khối lượng vốn bổ
sung rất lớn từ đó tăng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động, đổi mới thiết bị, áp
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng khả năng cạnh tranh làm cho doanh nghiệp lớn
ngày càng lớn lên, doanh nghiệp nhỏ bị phá sản do không cạnh tranh nổi, từ đó các
doanh nghiệp nhỏ phải liên kết với nhau tăng khả năng cạnh tranh, như vậy tín dụng
đã góp phần thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất.
Tín dụng ngân hàng giúp cho việc điều hoà nguồn vốn góp phần ổn định
thị trường tiền tệ, phát triển cân đối các ngành trong nền kinh tế quốc dân, và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thông qua tín dụng mà nguồn vốn dịch chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu, làm
cho xã hội bớt lãng phí ở những nơi thừa vốn, giảm khó khăn ở nơi thiếu vốn, giúp
Nguyễn Thị Ngọc Diệp Lớp: Thống kê 47B
17
Luận văn tốt nghiệp

Chỉ tiêu thống kê là cơ sở để tiến hành nghiên cứu thống kê, là cơ sở để nghiên
cứu các hiện tượng kinh tế xã hội. Việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê nhằm xác
định nhu cầu thông tin cần thu thập cho quá trình nghiên cứu thống kê. Hệ thống chỉ
tiêu giúp lượng hóa các mặt, cơ cấu và các mối liên hệ cơ bản của đối tượng nghiên
cứu.
Đối với hoạt động tín dụng tại các NHTM, đây là hoạt động rất phức tạp, nhiều
quá trình. Do đó, để phân tích, đánh giá và tổng hợp được kết quả của hoạt động tín
dụng ngân hàng cần phải xây dựng một hệ thống chỉ tiêu thống kê có thể giúp cho việc
thu thập thông tin được dễ dàng, có độ chính xác cao và đáp ứng được yêu cầu trong
công tác quản lý của các ngân hàng cũng như các doanh nghiệp và nhà nước.
2.1.2. Những nguyên tắc chủ yếu khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê tín dụng
ngân hàng
Việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê tín dụng ngân hàng, không chỉ là nêu
ra cần có những chỉ tiêu nào trong hệ thống mà quan trọng là còn phải đảm bảo rằng
Nguyễn Thị Ngọc Diệp Lớp: Thống kê 47B
19
Luận văn tốt nghiệp
có thể thu thập được nguồn thông tin để tính toán các chỉ tiêu một cách đầy đủ và
chính xác. Để hệ thống chỉ tiêu tín dụng ngân hàng được khoa học, hợp lý, nội dung
thông tin có thể phản ánh đầy đủ kết quả hoạt động tín dụng của ngân hàng thì cần
phải tuân theo một số nguyên tắc sau:
-Căn cứ vào mục đích nghiên cứu cụ thể và đặc điểm nghiên cứu mà xác định chỉ
tiêu, xác định tính chất quan trọng nhất, đặc điểm chủ yếu nhất, mối liên hệ cơ bản
nhất của hiện tượng nghiên cứu. Đối với hoạt động tín dụng ngân hàng, hệ thống chỉ
tiêu cũng được nghiên cứu theo nhiều tiêu thức khác nhau như theo đối tượng, thời
gian, mục đích, hình thức tín dụng…
-Phải đảm bảo tính hệ thống. Điều này có nghĩa là các chỉ tiêu phải có mối liên hệ
với nhau, được phân tổ và sắp xếp khoa học. Hệ thống chỉ tiêu phải phản ánh được
mối liên hệ giữa các bộ phận, các mặt, giữa hiện tượng nghiên cứu với những hiện
tượng có liên quan trong phạm vi và mục đích nghiên cứu phải có sự gắn kết với

Tổng vốn huy động
Là toàn bộ giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và
các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh
toán các nghiệp vụ kinh doanh khác và được ngân hàng dùng làm vốn để kinh doanh.
Đặc điểm cơ bản của vốn huy động là nguồn vốn này là tài sản người ký thác,
ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn
trả đúng hạn cả gốc và lãi vay khi đến kỳ hạn thanh toán hoặc khi khách hàng có nhu
cầu rút vốn.
Công thức V
hd
= ∑ V
i
Trong đó V
hd
: Tổng vốn huy động
V
i
: Số lượng mỗi khoản huy động
Ý nghĩa: Chỉ tiêu tổng vốn huy động phản ánh quy mô vốn huy động của ngân
hàng, chỉ tiêu này cho ta biết khả năng thu hút vốn của ngân hàng,
Cơ cấu vốn huy động
Nguyễn Thị Ngọc Diệp Lớp: Thống kê 47B
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status