Phân tích tác động của Nghị định 119 1999 của Thủ tướng Chính phủ tới hoạt động đầu tư cho đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa - Pdf 26



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
______________________________________ PHẠM THỊ HÀ PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA NGHỊ ĐỊNH 119/1999 CỦA
CHÍNH PHỦ TỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ CHO ĐỔI MỚI CÔNG
NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.04.12

5. Câu hỏi nghiên cứu: 8
6. Giả thuyết nghiên cứu: 8
7. Phƣơng pháp nghiên cứu: 9
8. Các luận cứ 9
9. Cấu trúc của luận văn: 11
CHƢƠNG 1. 12
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH KHUYẾN KHÍCH DOANH
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA ĐẦU TƢ VÀO ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 12
1.1: Các khái niệm cơ bản: 12
1.1.1. Lý luận chung về doanh nghiệp 12
1.1.2. Doanh nghiệp nhỏ và vừa và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong
nền kinh tế. 14
1.1.3. Chính sách: 16
1.1.4. Chính sách tài chính 17
1.1.5. Công nghệ 17
1.1.6. Đổi mới công nghệ và vai trò của đổi mới công nghệ 18
1.1.7. Chính sách tài chính khuyến khích theo tinh thần của Nghị định 119 20
1.1.8. Đầu tư cho đổi mới công nghệ trong Nghị định 119 21
1.2. Một số vấn đề đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp của Việt Nam hiện
nay. 211
1.2.1. Tình hình ĐMCN của doanh nghiệp Việt Nam 21
1.2.2. Những khó khăn của các doanh nghiệp Việt nam trong quá trình ĐMCN:
26
1.3. Một số kinh nghiệm quốc tế về Chính sách tài chính khuyến khích doanh
nghiệp đầu tƣ cho đổi mới công nghệ. 29
1.3.1. Kinh nghiệm hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ ở
Singapore: 30
1.3.2. Kinh nghiệm hỗ trợ tài chính để đổi mới công nghệ đối với khu vực
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Canada 33


PHỤ LỤC: DANH SÁCH DOANH NGHIỆP ĐƢỢC TÀI TRỢ THEO NGHỊ
ĐỊNH 119 78 3
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT

CN Công nghệ
CTCP Công ty cổ phần
CTTNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn
DN Doanh nghiệp
DNNN Doanh nghiệp nhà nƣớc
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
DNTN Doanh nghiệp tƣ nhân
ĐMCN Đổi mới công nghệ
KT-XH Kinh tế xã hội
NCKH Nghiên cứu khoa học
R&D Nghiên cứu và triển khai

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Ngọc Ca đã giành
nhiều thời gian, công sức giúp đỡ hướng dẫn, tôi hoàn thành luận văn tốt
nghiệp.
Chân thành cám ơn các thầy, cô giáo Khoa Khoa học quản lý – Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, các chuyên gia, các đồng nghiệp và
bạn bè đã tạo điều kiện ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn.
Bản Luận văn tuy đã có cố gắng cao, nhưng không thể tránh khỏi
những thiếu sót, khiếm khuyết, rất mong nhận được những ý kiến góp ý của
các thầy cô giáo, các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu để Luận văn được
hoàn chỉnh hơn.
Xin trân trọng cảm ơn. 5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
Trong giai đoạn hiện nay, nhất là trong thời kỳ phát triển nhanh và bền
vững, khoa học và công nghệ đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển
kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi từ
nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trƣờng, kể từ khi tiến hành đổi mới
kinh tế, Việt Nam đã có những thời kỳ đạt mức tăng trƣởng kinh tế khá cao.
Để duy trì tỷ lệ tăng trƣởng cao nhƣ thời gian trƣớc, trong bối cảnh hội nhập
nền kinh tế khu vực và trên thế giới, môi trƣờng cạnh tranh trong nƣớc và

kết thực hiện Nghị định 119/1999/NĐ-CP ngày 18/9/1999 của Chính phủ về
hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu đổi mới công nghệ” nhằm mục đích tiếp tục
sửa đổi Nghị định 119 cho phù hợp với tình hình thực tiễn và các quy định
của Tổ chức Thƣơng mại thế giới, đồng thời tạo điều kiện để khuyến khích
các doanh nghiệp đầu tƣ nhiều hơn nữa cho hoạt động nghiên cứu đổi mới
công nghệ. Tuy nhiên, việc thực thi một số chính sách này đến đâu, gặp
những thuận lợi và khó khăn gì vẫn đang còn là một câu hỏi lớn. Với lý do
nêu trên, tôi hi vọng đề tài này sẽ làm rõ hơn những vấn đề đó.
2. Lịch sử nghiên cứu
Ở Việt Nam đã có đề tài cấp cơ sở :
Nghiên cứu đánh giá chính sách hỗ trợ tài chính cho hoạt động đổi mới
công nghệ của doanh nghiệp theo Nghị định 119 (năm 2006) của ThS. Cao
Thu Anh (Viện chiến lƣợc và chính sách KH&CN).
Báo cáo chuyên đề về tình hình thực hiện Nghị định 119/1999 của
Chính phủ (năm 2010) nhóm Nghiên cứu của Văn phòng Hội đồng Chính
sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia.
Những nghiên cứu đã có chủ yếu ở tầm vĩ mô hoặc một số khía cạnh
liên quan đến chính sách tài chính trong các doanh nghiệp nói chung. Luận
văn kế thừa có chọn lọc những tƣ tƣởng, quan điểm và kết quả nghiên cứu đã
đƣợc công bố, từ đó phân tích tình hình thực hiện Nghị định 119 trong các
doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nƣớc, đồng thời phân tích tác động của
7
chính sách tài chính theo Nghị định đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ của
Việt Nam trong hoạt động đổi mới công nghệ và đƣa ra một số khuyến nghị
để Nghị định 119 thực sự đi vào cuộc sống, giúp các doanh nghiệp Việt nam
nói chung và doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng có thể vận dụng một cách dễ
dàng hơn trong quá trình hoạt động của mình.

Nghị định 119/1999 của Thủ tƣớng Chính phủ có tác động nhƣ thế nào
đến hoạt động đầu tƣ cho đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ?
5.2. Câu hỏi phụ
- Việc thực thi chính sách tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tƣ vào
hoạt động khoa học và công nghệ theo Nghị định 119/1999 hiện nay nhƣ thế
nào?
- Chính sách tài chính theo Nghị định 119 có những ƣu và nhƣợc điểm gì?
- Trong quá trình thực hiện những chính sách này gặp phải những thuận lợi và
khó khăn gì?
- Nên điều chỉnh những chính sách này nhƣ thế nào để có thể tiếp tục khuyến
khích các doanh nghiệp đầu tƣ và đổi mới công nghệ.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Các chính sách trong Nghị định đã tác động tích cực đến hoạt động đầu tƣ
cho ĐMCN, đặc biệt là DN đã mạnh dạn đầu tƣ vào hoạt động NCKH để qua
đó ĐMCN, tuy nhiên tác động của Nghị định tới DN còn mờ nhạt và số lƣợng
DN thực hiện thành công không nhiều. Ngoài những ƣu điểm của Nghị định
nhƣ Nghị định là đòn bẩy kích cầu để DN tăng cƣờng đầu tƣ cho KHCN
song vẫn còn tồn tại một số bất cập không còn phù hợp với quy định về ƣu đãi
tại các Luật liên quan đƣợc ban hành những năm gần đây. Mặt khác các thủ
tục hành chính để hƣởng các ƣu đãi của Nghị định 119 quá rƣờm rà, nếu đƣợc
cấp kinh phí thì kéo dài, cấp nhiều lần nên mất tính thời cơ của một kết quả
9
nghiên cứu để đƣa sản phẩm ra thị trƣờng nên doanh nghiệp không mặn mà,
thậm chí còn bức xúc với cơ chế hành chính, với cơ quan quản lý nhƣ cơ chế
hỗ trợ tài chính, tổ chức thực hiện, công tác tuyên truyền quảng bá….
7. Phƣơng pháp nghiên cứu

CP.
Theo Nghị định 119, doanh nghiệp nhận đƣợc các ƣu đãi sau:
- Miễn, giảm mức thuế thu nhập doanh nghiệp; ƣu đãi về tiền sử dụng
đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất; ƣu đãi về thuế nhập khẩu hàng hoá phục
vụ trực tiếp cho KH&CN và ƣu đãi về tín dụng.
- Ngoài ra, nếu doanh nghiệp có đề tài nghiên cứu khoa học tạo ra công
nghệ mới thuộc ngành nghề Nhà nƣớc ƣu tiên, khuyến khích do doanh nghiêp
thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan khoa học thực hiện thì sẽ đƣợc Nhà
nƣớc hỗ trợ một phần kinh phí (tối đa không quá 30% tổng kinh phí) thực
hiện đề tài. Đối với doanh nghiệp nhà nƣớc, 50% thu nhập tăng thêm sau thuế
do áp dụng công nghệ mới (thời hạn không quá 3 năm kể từ khi có thu nhập
tăng thêm) đƣợc trích lại để đầu tƣ cho hoạt động KH&CN và thƣởng cho cá
nhân, tập thể trong và ngoài doanh nghiệp có công trong việc nghiên cứu, tạo
ra và tổ chức áp dụng công nghệ mới đó.
Nghị định 119 quy định một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến
khích các doanh nghiệp đầu tƣ vào đổi mới công nghệ, với các hoạt động chủ
yếu nhƣ: “ ứng dụng các kết quả KH&CN, đổi mới công nghệ, sản xuất sản
phẩm mới, dịch vụ KH&CN” (tại Điều 1); “Miễn giảm thuế thu nhập doanh
nghiệp”(tại Điều 4); “Ƣu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng
đất”(tại Điều 5); “Ƣu đãi về thuế nhập khẩu” (tại Điều 6); “Ƣu đãi về tín
dụng” (tại Điều 7) và “Các chính sách khuyến khích khác nhƣ: mức tiền phải
trả thù lao cho tác giả; nhà nƣớc hỗ trợ tối đa 30% tổng kinh phí thực hiện đề
tài nghiên cứu tạo ra công nghệ mới; tỷ lệ trích thu nhập đầu tƣ trở lại cho
hoạt động khoa học và công nghệ; tỷ lệ mức thƣởng ”(tại Điều 8). Đó là
những ƣu tiên cơ bản của Nghị định 119 mà đối tƣợng đƣợc hƣởng thụ là các
11
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động theo Pháp luật Việt


1.1. Các khái niệm cơ bản

1.1.1. Lý luận chung về doanh nghiệp

Căn cứ vào Luật Doanh nghiệp đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hoà
XHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29-11-2005, có hiệu
lực từ ngày 01-7-2006, thay thế Luật Doanh nghiệp đã ban hành năm 1999,
Luật Doanh nghiệp Nhà nƣớc năm 2003 và Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài năm
1996, một số khái niệm cơ bản về doanh nghiệp đƣợc thống nhất nhƣ sau:
1. Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở
giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. (Điều 4).
2. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng
dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi. (Điều 4).
Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền kinh doanh các
ngành nghề mà pháp luật không cấm. Trên thực tế khái niệm doanh nghiệp
đƣợc hiểu nôm na, dùng chung đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc
mọi thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức, các ngành nghề khác nhau, có
tƣ cách pháp nhân.
3. Doanh nghiệp nhà nƣớc là doanh nghiệp trong đó nhà nƣớc sở hữu
trên 50% vốn điều lệ. Hiện tại ở Việt Nam có loại hình doanh nghiệp 100%
vốn nhà nƣớc, doanh nghiệp có trên 50% vốn nhà nƣớc và công ty trách
nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên 100% vốn nhà nƣớc.
4. Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thành
13
14
chứng khoán nào. Mỗi cá nhân chỉ đƣợc quyền thành lập một doanh nghiệp tƣ
nhân.
9. Nhóm công ty là tập hợp công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với
nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trƣờng và các dịch vụ kinh doanh khác.
Nhóm công ty bao gồm các hình thức: Công ty mẹ - công ty con, tập đoàn
kinh tế và các hình thức khác.
10. Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là doanh nghiệp do nhà
đầu tƣ nƣớc ngoài thành lập để thực hiện đầu tƣ tại Việt Nam hoặc doanh
nghiệp Việt Nam do nhà đầu tƣ nƣớc ngoài góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập,
mua lại.
11. Doanh nghiệp công nghiệp là doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào
quá trình sản xuất, kinh doanh các sản phẩm công nghiệp.
12. Hộ sản xuất, kinh doanh (hộ cá thể, hộ gia đình) là cơ sở sản xuất
kinh doanh quy mô gia đình, có dƣới 10 lao động thƣờng xuyên (theo Nghị
định 109 - CP ngày 02/4/2004 về Đăng ký kinh doanh).
Trong khuôn khổ luận văn này, nghiên cứu tập trung vào loại hình
doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm số lƣợng rất lớn và đóng góp ngày càng
nhiều cho xã hội, lại dễ bị tổn thƣơng nhất trong quá trình hội nhập. Doanh
nghiệp nhỏ và vừa với tiêu chí đƣợc xác định ở phần sau đây.
1.1.2. Doanh nghiệp nhỏ và vừa và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và
vừa trong nền kinh tế
Theo Công văn số 681/CP – KTN ngày 20 tháng 6 năm 1998 của Văn
phòng Chính phủ quy định Doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có vốn
điều lệ dƣới 5 tỷ đồng và có số lao động dƣới 200 ngƣời.
Theo Nghị định 90/2001/NĐ – CP ngày 23 tháng 1 năm 2001 về trợ giúp
doanh nghiệp nhỏ và vừa thì doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở sản xuất
kinh doanh độc lập, có mức vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao

10 ngƣời
trở xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
ngƣời đến
200 ngƣời
từ trên 20 tỷ
đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200
ngƣời đến
300 ngƣời
II. Công nghiệp
và xây dựng
10 ngƣời
trở xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
ngƣời đến
200 ngƣời
từ trên 20 tỷ
đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200
ngƣời đến
300 ngƣời
III. Thƣơng mại
và dịch vụ

- Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy
mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động.
- Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh
nghiệp nhỏ và vừa thƣờng chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết đƣợc
dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh.
- Là trụ cột của kinh tế địa phƣơng: nếu nhƣ doanh nghiệp lớn thƣờng
đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nƣớc, thì doanh nghiệp nhỏ và
vừa lại có mặt ở khắp các địa phƣơng và là thành phần kinh tế đóng góp quan
trọng vào thu ngân sách, tạo sản lƣợng và giải quyết việc làm cho ngƣời lao
động ở địa phƣơng.
Với vai trò vô cùng quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền
kinh tế, vì vậy nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích
doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển nói chung và đổi mới công nghệ nói
riêng. Những chính sách đó nhất là chính sách về tài chính sẽ đƣợc đề cập ở
các chƣơng sau.
1.1.3. Chính sách
Theo James Anderson: "Chính sách là một quá trình hành động có mục
đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà
họ quan tâm".
Theo tác giả Vũ Cao Đàm thì “chính sách là một tập hợp biện pháp
đƣợc thể chế hóa mà một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra, trong
đó tạo sự ƣu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt
động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ƣu tiên nào đó trong chiến lƣợc
phát triển của một hệ thống xã hội”. Theo tác giả thì khái niệm “hệ thống xã
hội” đƣợc hiểu theo một ý nghĩa khái quát. Đó có thể là một quốc gia, một
khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trƣờng.
17

18
lĩnh vực dịch vụ và quản lý, vì vậy nó đƣợc coi là một bƣớc ngoặt trong lịch
sử quan niệm về công nghệ.
Ở Việt Nam, quan niệm phổ biến nhất hiện nay, phù hợp với các quan
điểm, chính sách phát triển và quản lý công nghệ, đó là:
Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam (năm 2000) định nghĩa: Công
nghệ là tập hợp các phƣơng pháp, qui trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ,
phƣơng tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.
Theo Luật Chuyển giao công nghệ (năm 2006 số 80/2006/QH ngày
29/11/2006): Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc
không kèm công cụ, phƣơng tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
Theo Gaynor G. (1996) Công nghệ có thể hiểu là:
- Các phƣơng tiện để thực hiện đƣợc một nhiệm vụ bao gồm tất cả
những gì cần thiết để chuyển các nguồn lực trở thành các sản phẩm hoặc dịch
vụ.
- Bao gồm kiến thức và các nguồn lực cần thiết để đạt đƣợc một mục
tiêu nào đó.
- Là phần kiến thức khoa học và kỹ thuật có thể đƣợc áp dụng trong
việc thiết kế sản phẩm hay các quy trình hoặc áp dụng trong việc nghiên cứu
kiến thức mới.
1.1.6. Đổi mới công nghệ và vai trò của đổi mới công nghệ
Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, do nhu cầu càng cao
của con ngƣời do tiến bộ của tri thức và khoa học, do cạnh tranh… nên nhu
cầu về sản phẩm ngày càng cao và càng đa dạng cùng với yêu cầu cao trong
việc tiết kiệm chi phí. Do vậy công nghệ luôn đƣợc thay đổi, cải tiến không
ngừng để thoả mãn nhu cầu đó nên việc thay đổi công nghệ là một xu thế tất
yếu của hệ thống công nghệ toàn cầu và đã mang lại những hiệu quả to lớn

cũng là một sản phẩm cho nên nó cũng tuân theo quy luật chu trình sống của
sản phẩm, tức là nó cũng đƣợc sinh ra, phát triển và cuối cùng là bị đào thải.
Chính vì lẽ đó việc quan tâm đặc biệt đến đổi mới công nghệ sẽ gắn chặt đến
20
lợi ích sống còn của doanh nghiệp, đến sự phát triển của nền kinh tế. Nếu một
quốc gia nào, hay một doanh nghiệp nào không có những hoạt động nhằm
không ngừng ĐMCN thì chắc chắn ở quốc gia đó, ở doanh nghiệp đó không
thể có sự phát triển. Một điều quan trọng đó là ĐMCN sẽ mang lợi ích cho
doanh nghiệp đổi mới cũng nhƣ cho nền kinh tế, các lợi ích đó là:
- Đổi mới công nghệ cải thiện, nâng cao chất lƣợng sản phẩm, đây là
một lợi ích thiết thực, trực tiếp và đƣợc các doanh nghiệp đặt lên hàng đầu.
- Từ việc nâng cao đƣợc chất lƣợng sản phẩm sẽ làm cho doanh nghiệp
duy trì, củng cố và mở rộng thị phần của sản phẩm.
- Một lợi ích rất quan trọng khác đó là đổi mới công nghệ sẽ mở rộng
phẩm cấp của sản phẩm, tạo thêm chủng loại sản phẩm mới.
- Đáp ứng đƣợc các quy định, tiêu chuẩn, luật lệ và các quy định ngày
càng khắt khe đƣợc thế giới và các quốc gia xây dựng lên.
- Giảm tiêu hao nguyên liệu, năng lƣợng, đây là một lợi ích hết sức
quan trọng, nhất là trong bối cảnh thế giới đang lâm vào cảnh thiếu năng
lƣợng, giá xăng dầu tăng rất cao.
- Cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao độ an toàn sản xuất cho con
ngƣời và thiết bị.
- Giảm tác động xấu đến môi trƣờng tự nhiên nói chung và môi trƣờng
sống nói riêng.
Vì tất cả các lý do kể trên có thể khẳng định đổi mới công nghệ là một
tất yếu phù hợp với quy luật phát triển.
Công nghệ và đổi mới công nghệ có ý nghĩa quyết định nâng cao khả

đƣợc tăng trƣởng cao chẳng hạn nhƣ thông qua mức sống cao, tích lũy tƣ bản
lớn nhƣng họ không thể có tăng trƣởng kinh tế lâu dài và bền vững.
Ở cấp độ doanh nghiệp, tác giả Beije (1998) lập luận rằng đổi mới có
tác động giúp doanh nghiệp cải thiện vị trí cạnh tranh và giúp tăng sản lƣợng
hoặc lợi nhuận ròng. Hơn nữa, theo tác giả Kim và Nugent (1994): cải tiến
công nghệ là một phƣơng thức quan trọng để các doanh nghiệp tăng cƣờng
khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng. Đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ họ
22
đang ở khu vực bất lợi so sánh với các doanh nghiệp lớn hơn bởi vì các
doanh nghiệp vừa và nhỏ thƣờng hạn hẹp về nguồn lực đề đầu tƣ cho hoạt
động R&D hay thu nạp công nghệ. Bởi vậy các hệ thống hỗ trợ về mặt kỹ
thuật giữ vai trò quyết định trong việc thúc đẩy sự phát triển của các doanh
nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Trong môi trƣờng hội nhập và cạnh tranh ngày càng khốc liệt nhƣ hiện
nay, công nghệ đƣợc đánh giá là công cụ chiến lƣợc để phát triển kinh tế-xã
hội một cách nhanh chóng và bền vững. Do vậy, với một quốc gia còn yếu về
công nghệ nhƣ Việt Nam, đổi mới công nghệ là yêu cầu bức thiết cần đƣợc
thực hiện đồng bộ từ Nhà nƣớc đến doanh nghiệp (DN).
Nghiên cứu trƣớc đây (Nguyễn Võ Hƣng, 2005) đã chỉ ra ĐMCN ở các doanh
nghiệp Việt Nam, nhất là DNNVV, chủ yếu là các đổi mới mang tính nhỏ lẻ,
nhằm giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình sản xuất, ít đổi mới mang
tính đột phá về công nghệ, nếu có thì chủ yếu dựa vào các công nghệ có sẵn
mua về từ nƣớc ngoài, việc tự nghiên cứu, tạo ra công nghệ mới thay thế hầu
nhƣ rất hiếm có doanh nghiệp thực hiện. Theo các nghiên cứu này có tới 81%
doanh nghiệp cho biết đó chỉ là các cải tiến nhỏ lẻ, 60% doanh nghiệp thực
hiện cải tiến sản phẩm của doanh nghiệp, 47% doanh nghiệp hiện đai hóa một
số công đoạn trong quy trình sản xuất, chỉ có 26% doanh nghiệp sản xuất và

5.
Nhập máy móc, thiết bị của nƣớc ngoài kèm theo
các dịch vụ tƣ vấn kỹ thuật, đào tạo của nhà cung
cấp
35
6.
Nhập máy móc, thiết bị của nƣớc ngoài, sau đó
hợp tác với chuyên gia trong nƣớc lặp đặt/chạy
thử/khắc phục sự cố
37
7.
Làm theo mẫu sản phẩm nhập ngoại, nhƣng sản
phẩm có giá cạnh tranh so với hàng ngoại nhập
70
Nguồn: Hiện trạng đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa
ở Việt nam trong bối cảnh hội nhập
Nguyễn Thanh Tùng (NISTPASS)

Cũng theo nhận định của các nghiên cứu này thì hoạt động ĐMCN có ý nghĩa nhất
đối với doanh nghiệp chính là các hoạt động nhập máy móc, công nghệ của nƣớc
ngoài, sau đó mới đến các hoạt động hiện đại hóa một số công đoạn sản xuất, cải tiến
sản phẩm, thiết bị sản xuất của doanh nghiệp.
Hoạt động đổi mới công nghệ có ý nghĩa nhất
TT
Hoạt động ĐMCN có ý nghĩa nhất
Tỷ lệ (%)
1.
Cải tiến nhỏ thiết bị
12.50
2.

10.
Ứng dụng tin học
1.79
11.
Phát triển thƣơng hiệu mới
1.79

Tổng
100.00
Nguồn: Hiện trạng đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa
ở Việt nam trong bối cảnh hội nhập
Nguyễn Thanh Tùng (NISTPASS)

Để ĐMCN, các doanh nghiệp phải đầu tƣ nhiều nhất vào các khâu nhƣ lập
phƣơng án sản xuất kinh doanh (53%), sau đó là huy động vốn đầu tƣ (51%)
và cách thức làm chủ, cải tiến công nghệ (47%). Bên cạnh đó, nhiều doanh
nghiệp đã phải đầu tƣ nhiều cho việc tìm kiếm công nghệ, nhà cung cấp công
nghệ (39%). Nhƣ vậy, kết quả này cho thấy các nội dung đƣợc lựa chọn để
tìm hiểu nhu cầu hƣớng dẫn DNNVV thực hiện ĐMCN là xác đáng.
Các nội dung doanh nghiệp đầu tƣ để thực hiện ĐMCN
TT
Nội dung
Tỷ lệ (%)
1.
Tìm công nghệ/nhà cung cấp
39
2.
Lập phƣơng án sản xuất kinh doanh
53
3.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status