MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 6
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
3. Mục tiêu nghiên cứu 10
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 10
5. Phạm vi nghiên cứu 10
6. Vấn đề nghiên cứu 10
7. Giả thuyết nghiên cứu 11
8. Phương pháp nghiên cứu 11
9. Cấu trúc của luận văn 12
PHẦN NỘI DUNG 13
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 13
1.1 Khoa học và nghiên cứu khoa học. 13
1.1.1. Khoa học 13
1.1.2. Nghiên cứu khoa học 15
1.2. Quản lý đề tài nghiên cứu khoa học 18
1.2.1. Đề tài nghiên cứu khoa học 18
1.2.2- Bản chất của quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học 19
1.3. Một số vấn đề cơ bản về quản trị chất lượng và 6 Sigma 20
1.3.1.Quản lý chất lượng. 20
1.3.2.Giới thiệu mô hình Sáu Sigma: 27
Kết luận Chương 1: 39
CHƯƠNG 2. ĐÁNH GIÁ QUY TRÌNH QUẢN LÝ CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA
HỌC TẠI SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2006 –
2010 41
2.1. Tổng quan công tác quản lý và tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ 41
2.1.1. Các chương trình khoa học và công nghệ: 41
PHẦN KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GS
Giáo sư
HCM
Hồ Chí Minh
KH&CN
Khoa học và công nghệ
NCKH
Nghiên cứu khoa học
NXB
Nhà xuất bản
PGS
Phó giáo sư
ThS
Thạc sỹ
trong vòng 5 năm 60
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong thời kỳ
công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực này
vì thế, cần được xem xét, nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện nhằm đảm
bảo hiệu quả cao nhất. Về mặt khoa học, cho đến nay chưa có một đề tài, công
trình nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ về công tác quản lý nhà
nước về hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung và quản lý các đề tài
nghiên cứu khoa học nói riêng. Từ góc độ của một người hiện đang tham gia
công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, tác giả nhận thấy cần
xác lập cơ sở lý luận để từ đó xây dựng quy trình quản lý các đề tài nghiên
cứu khoa học nhằm phát huy tối đa hiệu quả của hoạt động này trong tổng thể
được nghiên cứu một cách toàn diện trên cơ sở khoa học để đảm bảo chính
xác, phù hợp với xu thế chung của sự phát triển và yêu cầu thực tế. Đòi hỏi từ
thực tiễn cho thấy cần có một quy trình chặt chẽ, khoa học cùng với cơ chế
vận hành và chính sách hỗ trợ phù hợp để có thể phát huy tốt hơn hiệu quả
của hoạt động nghiên cứu khoa học.
Với đề tài này, tác giả kỳ vọng sẽ xác lập được cơ sở khoa học chắc
chắn hơn cho một quy trình vốn dĩ trước đây hầu như chỉ được xem là một
hoạt động hành chính đơn thuần. Ứng dụng thành tựu của lý thuyết quản lý sẽ
giúp ích rất nhiều cho hoạt động thực tiễn của đơn vị, bản thân và hiệu quả
chung của công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực khoa học và công nghệ.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tóm lược nội dung các công trình, đề tài nghiên cứu có liên quan:
2.1. Trên phạm vi quốc gia:
- Mô hình quản trị ‘Sáu sigma’ nhận được quan tâm của hầu hết các
nhà quản lý và nghiên cứu về quản lý. Tuy nhiên, trên phạm vi cả nước, cho
9
đến thời điểm này, các hội thảo, đề tài nghiên cứu ứng dụng chỉ tập trung vào
lĩnh vực quản trị kinh doanh, đổi mới, và cải tiến quá trình quản trị doanh
nghiệp. Đối với lĩnh vực quản lý nhà nước, mô hình này chưa được đề cập
đến.
- Về quản lý khoa học và công nghệ nói chung, quản lý hoạt động
nghiên cứu và các đề tài nghiên cứu khoa học nói riêng, trên thực tế, các Sở
Khoa học và công nghệ tỉnh, thành phố hầu như thực hiện theo một quy trình
định sẵn căn cứ trên quy định chung, thống nhất của Chính phủ và Bộ Khoa
học và công nghệ. Các giải pháp về đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý
hoạt động nghiên cứu khoa học nhìn chung còn rời rạc, chưa được tập hợp
mang tính hệ thống, vấn đề cải tiến, đổi mới về quy trình chưa được xem xét
một cách đầy đủ.
2.2. Tại Thành phố Hồ Chí Minh:
thực hiện, tham gia thẩm định, xét duyệt,…).
Đối tượng nghiên cứu: quy trình quản lý đề tài nghiên cứu khoa học tại Sở
Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ,
trước hết là công tác quản lý đề tài nghiên cứu khoa học.
Phạm vi không gian: Thành phố Hồ Chí Minh với cơ quan chuyên môn là
Sở Khoa học và Công nghệ.
Phạm vi thời gian: từ năm 2006 đến nay.
6. Vấn đề nghiên cứu
Thực trạng quản lý đề tài nghiên cứu khoa học tại Thành phố Hồ
Chí Minh theo quy trình hiện nay là như thế nào?
Cần có giải pháp gì để hoàn thiện và nâng cao chất lượng quy trình
quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học?
11
Cần có những biện pháp gì để vận hành tốt quy trình theo đề xuất?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ nói chung và quản lý
các đề tài nghiên cứu khoa học nói riêng, có những thành tựu và hạn
chế trên nhiều phương diện. Quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu
khoa học hiện nay còn nhiều bất cập, khiếm khuyết nên tất yếu dẫn
đến hiệu quả không cao như mong đợi.
Mô hình Sáu Sigma là một giải pháp tiên tiến, phù hợp, có thể sử
dụng để phát hiện, khắc phục các lỗi và hoàn thiện quy trình quản
lý, nâng cao hiệu quả quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học trong
tình hình hiện nay.
Trong việc áp dụng mô hình, cần quan tâm đến cơ chế vận hành và
chính sách hỗ trợ (quản lý đầu vào - đầu ra, phối hợp, giám sát, chế
tài, trách nhiệm,…). Cần tiếp tục nghiên cứu quy trình triển khai
9. Kết cấu của Luận văn
PHẦN NỘI DUNG:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Đánh giá quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học tại Sở
Khoa học và công nghệ Tp.HCM giai đoạn 2006 - 2010
Chương 3: Vận dụng Sáu sigma để xác định nguyên nhân cốt lõi của hạn chế
và đề xuất cải tiến quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học tại Sở
Khoa học và Công nghệ Tp.HCM
PHẦN KẾT LUẬN
13
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khoa học và nghiên cứu khoa học.
1.1.1. Khoa học
Khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất và sự
vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy. Hệ
thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ
sở thực tiễn xã hội. Phân biệt ra hai hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và
tri thức khoa học.
- Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động
sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con
người với thiên nhiên. Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về
cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người
trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và
phát triển trong hoạt động thực tế. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật
sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối
được trên thị trường như thiết bị, máy móc, cơ sở vật chất.
- Phần mềm, gồm: tri thức, kỹ năng, công thức để sử dụng phần cứng
tạo ra sản phẩm vật chất. Trong cơ chế thị trường phần mềm cũng có thể mua,
bán hoặc trao đổi trên thị trường.
Trong một số trường hợp, người ta phân công nghệ thành bốn nhóm
yếu tố cơ bản:
+ Nhóm yếu tố kỹ thuật gồm các thiết bị, máy móc…
+ Nhóm yếu tố con người gồm các chuyên gia nghiên cứu, tư vấn,
những người trực tiếp gắn bó với các hoạt động công nghệ.
+ Nhóm yếu tố tổ chức gồm các bộ máy, thể chế, quản lý…
15
+ Nhóm yếu tố thông tin gồm bí quyết sản xuất, công thức, phương
thức tiến hành.
* Hoạt động khoa học và công nghệ: Khái niệm hoạt động khoa học
và công nghệ là khái niệm rất rộng và có nhiều các cách hiểu khác nhau. Theo
cách hiểu chung nhất, hoạt động KH&CN là tập hợp toàn bộ các hoạt động có
hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng kiến thức liên quan đến con
người, tự nhiên và xã hội, nhằm sử dụng các kiến thức đó để tạo ra những ứng
dụng mới.
Theo UNESCO hoạt động khoa học và công nghệ được định nghĩa là:
“các hoạt động có hệ thống liên quan chặt chẽ với việc sản xuất, nâng cao,
truyền bá và ứng dụng các tri thức khoa học và kỹ thuật (scientific and
technical knowledge) trong mọi lĩnh vực của khoa học và công nghệ, là các
khoa học tự nhiên và công nghệ, các khoa học y học và nông nghiệp, cũng như
các khoa học xã hội và nhân văn”.[6;13]. Khái niệm này vừa bao gồm khoa
học tự nhiên và hoạt động khoa học khác, lại vừa bao gồm toàn bộ hoạt động
có liên quan đến sự ra đời, phát triển, truyền bá và ứng dụng tri thức.
Ở Việt Nam, theo quy định của Luật khoa học và công nghệ (có hiệu lực
từ năm 2000), hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa
chức quản lý chuyên môn để tăng cường nội dung kế hoạch, tổ chức, chỉ huy
và điều phối đối với hoạt động khoa học. Trong giai đoạn này, có nhiều
chuyên gia tài năng xuất chúng đảm nhiệm công tác quản lý khoa học. Những
chuyên gia này vừa là người quản lý lại vừa là người dẫn đầu về học thuật. Do
đó, người ta thường gọi giai đoạn quản lý này là giai đoạn nghiên cứu tập thể,
và thể chế của nó là thể chế quản lý quyền uy của các chuyên gia.
Sau những năm của thập kỷ 40 thế kỷ XX, do khoa học – công nghệ phát
triển như vũ bão, quy mô nghiên cứu ngày một lớn, các bộ môn được phân
chia ngày một tỉ mỉ, nhưng lại cũng ngày một tổng hợp.
17
Lúc này, phương thức tập thể và biện pháp quản lý cũ đã không thể đáp
ứng những nhu cầu của khoa học – công nghệ hiện đại và phát triển xã hội.
Từ tất yếu khách quan đó, nhà nước đứng ra tổ chức quản lý, và việc này
được giao cho một số “chuyên gia quản lý” nắm chắc về khoa học – công
nghệ, hiểu biết kinh tế và thành thạo kỹ năng quản lý hiện đại gánh vác trách
nhiệm. Đó là giai đoạn thể chế hóa quản lý của chuyên gia quản lý khoa học –
công nghệ, và giai đoạn quản lý này đã giải quyết được một số vấn đề hệ
trọng của thời đại.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, một số nước như Anh, Mỹ, v.v đã
vận dụng kinh nghiệm của vận trù học để giải quyết vấn đề tổ chức quản lý
“khoa học hiện đại”. Trong quản lý khoa học đã bắt đầu dùng một loạt
phương pháp quản lý mới và kỹ thuật quản lý mới như dự báo, quyết sách, kế
hoạch, bình xét, v.v
Nói một cách khác, trong giai đoạn này, tổ chức quản lý khoa học đã là
nhân tố có tác dụng quyết định, nhân tố nội tại và nhân tố phát triển KH&CN
hiện đại. Do sự xuất hiện của thể chế quản lý, của các chuyên gia quản lý -
quản lý KH&CN đã bắt đầu thoát ra khỏi phương thức quản lý truyền thống
và bước vào giai đoạn quản lý KH&CN hiện đại.
Những năm gần đây, đặc biệt là sau những năm của thập kỷ 70 thế kỷ
Đề tài nghiên cứu khoa học là một hình thức tổ chức NCKH do một
người hoặc một nhóm người thực hiện. Nó được phân biệt với một số hình
thức tổ chức nghiên cứu khác không hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu
khoa học, chẳng hạn như: Chương trình, dự án, đề án. Sự khác biệt giữa các
hình thức NCKH này như sau:
Theo Vũ Cao Đàm: “Đề tài là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa
học, trong đó có một nhóm người cùng thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu”.
Đề tài định hướng vào việc trả lời những câu hỏi về ý nghĩa học thuật, chưa
quan tâm nhiều đến việc hiện thực hoá trong hoạt động thực tế.
19
“Dự án là một loại đề tài có mục đích ứng dụng xác định, cụ thể về
kinh tế xã hội”. Dự án có những đòi hỏi khác đề tài như: Đáp ứng một nhu
cầu được nêu ra; chịu sự rằng buộc của kỳ hạn và thường là ràng buộc về
nguồn nhân lực.
Chương trình: là một nhóm các đề tài, dự án được tập hợp theo một
mục đích xác định. Giữa chúng có thể có tính độc lập tương đối cao. Tiến độ
thực hiện các đề tài dự án trong một chương trình không có sự đòi hỏi quá
cứng nhắc nhưng những nội dung của một chương trình phải luôn đồng bộ”
[6, tr 51-52]
Tóm lại: đề tài nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ khoa học cụ thể nghiên
cứu hoặc triển khai áp dụng những ý tưởng khoa học hoặc những thành tựu
khoa học công nghệ vào hoàn cảnh cụ thể, được thể hiện dưới các hình thức:
đề tài nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, đề tài triển khai thực nghiệm
hoặc kết hợp cả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực
nghiệm.
1.2.2- Bản chất của quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học
Thống nhất với khái niệm đề tài nghiên cứu khoa học là một mô hình tổ
chức nghiên cứu khoa học, như vậy, quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học
không đơn thuần chỉ là việc quản lý một sản phẩm mang tính tư liệu hoặc tài
1.3.1.Quản lý chất lượng.
Quản lý chất lượng hoặc kiểm tra thống kê chất lượng đã hình thành từ
những năm 30 của thế kỷ 20 và phát triển cùng với nhịp độ phát triển của sản
xuất công nghiệp và nhu cầu xã hội. Đầu tiên nó được áp dụng trong các
ngành công nghiệp quốc phòng với các phiếu kiểm tra do một nhân viên của
hãng “Bell” – TS. U.A. Shewhart – phát minh ra, nhằm mục đích theo dõi,
kiểm tra chất lượng sản phẩm của hãng.
Sau đó, trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 đã nảy sinh các nhu
cầu phải kiểm soát chặt chẽ hơn nữa chất lượng sản phẩm, để đáp ứng các yêu
21
cầu của thời chiến. Điều đó thúc đẩy việc sử dụng rộng rãi các phiếu kiểm tra
trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau.
Cho đến những năm 1960, tiến sĩ Kaoru Ishkawa (Nhật) chuyển đổi
bảy công cụ thống kê chất lượng có tính chát hàn lâm thành công cụ thực
hành, phổ biến rộng rãi trong các tổ chức của Nhật. Bắt đầu từ lúc này, các
phương pháp quản lý chất lượng mới mang lại kết quả đáng kể, góp phần làm
nên “sự thần kỳ” về kinh tế của Nhật Bản.
Tuy có nhiều phương pháp quản lý chất lượng được áp dụng, nhưng
những vấn đề lý luận của quản trị chất lượng, cho đến nay chủ yếu vẫn dựa
trên những tư tưởng và những quan điểm của một số nhà khoa học lớn trên
thế giới – là những người có ảnh hưởng trên thế giới.
Nói chung, những tư tưởng lớn về kiểm soát và quản lý chất lượng đã
được khởi nguồn từ Mỹ trong nửa đầu thế kỷ 20 và dần được phát triển ở
nhiều nước khác thông qua những chuyên gia đầu đàn như Walter
A.Shewhart, W.Edwards Deming, Joseph M. Juran, A.V.Feigenbaum, Philip
B.Crosby, Kaoru Isikawa, Masaaki Imai, …
(a) Triết lý cơ bản của W.Edwards Deming là: “Khi chất lượng và năng
suất tăng lên thì biến động sẽ giảm, và vì mọi vật đều biến động, nên cần sử
dụng các phương pháp thống kê điều khiển chất lượng”. Ông chủ trương
lượng là nhiệm vụ của mỗi phòng, ban chứ không phải chỉ là nhiệm vụ của
phòng Chất lượng. Trong cuốn sách “Total Quality Control”, ông đã nêu lên
40 nguyên tắc trong quản lý chất lượng.
Tuy có khác nhau về cách tiếp cận cũng như về triết lý, nhưng tất cả
các tư tưởng trên đều nhằm mục đích là làm thế nào để quản lý một hệ thống,
một tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu về chất lượng. Chính vì vậy quản lý
chất lượng về bản chất nó là chất lượng của công tác quản lý điều hành một tổ
23
chức để chủ động kiểm soát được chất lượng sản phẩm, nhằm nâng cao hiệu
quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh.
* Quan điểm mới về hệ thống quản lý chất lượng trong một tổ chức.
Quản lý một tổ chức, một doanh nghiệp dù trong bất kỳ lĩnh vực nào,
hay với quy mô như thế nào, thực chất là ta phải quản lý một hệ thống bao
gồm nhiều quá trình, nhiều hoạt động liên quan với nhau, để biến những yếu
tố đầu vào (các nguồn lực của tổ chức)thành các kết quả ở đầu ra (các sản
phẩm, dịch vụ hoặc các tiện ích cần thiết cho xã hội,
Hình 1.1: Quá trình hoạt động của một doanh nghiệp
Vì vậy, để đạt được kết quả tốt ở đầu ra, cần thiết phải có sự quản lý và
kiểm soát một cách hệ thống các nguồn lực và các quá trình, nhằm đạt mục
tiêu cuối cùng là:
- Khai thác tốt mọi tiềm năng, sử dụng hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm nhất
các nguồn lực.
- Nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và dịch vụ thỏa
mãn tối đa nhu cầu của xã hội;
- Giảm đến mức thấp nhất chi phí sản xuất;
ENVIRONMET OUTPUTS
nghiệp.
Lĩnh vực thứ ba là Phần con người: Nguồn nhân lực trong tổ chức bao
gồm toàn thể các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý và các nhân viên. Con người
ở đây chính là nguồn lự quan tọng nhất trong tất cả các nguồn lực của doanh
nghiệp.
Hệ thống quản lý của doanh nghiệp phải bao trùm lên tất cả lĩnh vực
trên một cách chặt chẽ và đồng bộ, nhằm đạt được các mục tiêu và mục đích
của mình với những phí tổn thấp nhất.
25
QUẢN LÝ
Hình 1.2. Mục đích và mục tiêu của quản lý chất lượng
Để quản lý các hệ thống đó, chúng ta không thể chỉ dựa vào những kinh
nghiệm hoặc là năng khiếu bẩm sinh, mà phải có các phương pháp quản lý
khoa học. Các hệ thống quản lý đó phải được thiết lập và vận hành theo
những nguyên tắc nhất định.
Có thể nói: Quản lý chất lượng là một bộ phận hữu cơ của hệ thống
quản lý chung, thống nhất trong bất kỳ một tổ chức, một doanh nghiệp
nào. Chất lượng của công tác quản lý là một trong những yếu tố quyết
định chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế của toàn bộ tổ chức.
Mặt khác, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, một yêu
cầu rất quan trọng được đề cập đến là các hệ thống quản lý trên cần phải được
MỤC ĐÍCH
Purpose
- Khai thác mọi tiềm
năng
- Sử dụng hợp lý và hiệu
quả và tiết kiệm mọi
nguồn lực của tổ chức
xuyên xem xét, để có những điều chỉnh cần thiết và đảm bảo chắc chắn rằng
nó luôn hoạt động có hiệu lực và hiệu quả.
(c) Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người
Trong bất kỳ tổ chức, doanh nghiệp nào, mỗi bộ phận, mỗi người đều
có một vị trí, vai trò nhất định, liên quan đến chất lượng sản phẩm, dịch vụ
được tạo ra. Chất lượng hoạt động của mỗi khâu trong quá trình phụ thuộc
vào chất lượng hoạt động của các khâu trước đó. Vì vậy, để toàn bộ hệ thống
quản lý vận hành một cách hiệu quả, cần phải có sự tham gia của mọi người ở
tất cả các cấp, các bộ phận.
(d) Nguyên tắc 4: Quản lý theo quá trình
Xuất phát từ nhận thức rằng, các sản phẩm và dịch vụ là kết quả của
quá trình (process), các hoạt động như: sản xuất, chế biến, các dịch vụ… Cho
nên, muốn có các sản phẩm và dịch vụ có chất lượng, an toàn và mang lại
hiệu quả cao, cần phải quản lý quá trình tạo ra chúng, phải thực hiện việ quản
lý theo quá trình (MBP Management By Process), để kiểm soát tất cả các yếu
tố liên quan đến quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ.
(e) Nguyên tắc 5: Tiếp cận theo hệ thống
27
Trong bất kỳ một tổ chức nào, sản phẩm hoặc dịch vụ cuối cùng được
tạo ra chính là kết quả của một chuỗi những hoạt động, những quá trình có
mối liên quan và tương tác với nhau trong một hệ thống.
(f) Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục
Không có phương pháp, tiêu chuẩn quản lý nào có thể là chuẩn mực
cuối cùng. Vì vậy, trong hệ thống quản lý chất lượng, những hoạt động cải
tiến được thực hiện thường xuyên nhằm nâng cao tính hiệu lực và hiệu quả
của toàn bộ hệ thống.
(g) Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sự kiện
Trong bất kỳ một hoạt động nào, việc quản lý không thể thực hiện được
nếu chúng ta chỉ dựa trên các ý tưởng, hoặc các nhận xét định tính… Vì vây,